|
(1, 2,
3 tiếp theo)
Nhưng nếu trước khi xuất gia, Ton Nhật đ từng lm tướng rồi sau đ mới
tuốt dp
lnh xa khỏi nơi doanh liễu. Vậy th by giờ ta thử xem Thiền sư Ton
Nhật đ lm
tướng cho triều đại no?
Theo tc giả Ton Nhật Quang Đi, trong những tc phẩm đ tm lại được
th chỉ c
tc phẩm Xuất gia tối lạc tỉnh thể tu hnh vn l Ton Nhật c nhắc đến
triều đại nh
Nguyễn:
Ấy triều đại cổ kim thật lục
Nối truyền qua bản quốc Nam thin
Những v thnh cha ti hiền
Tượng kinh tn trọng cha chiền nghim trang
Nỗi ring than c thnh c quch
Nếu vui thi th ắt thi qua
Mừng nay minh cha Nguyễn Gia
Trung hưng chnh php gần xa tn sng
Dựng tăng phng lại trau Phật điện
Tạo trống chung nổi tiếng vang lừng
Tăng ni thong thả tu thn
Cảnh thiền tiu si ng trần phiền lao.
Nhưng thời bấy giờ ở đng trong c hai cha Nguyễn, l Nguyễn Gia Long
v
Nguyễn Ty Sơn, vậy cu: Mừng nay minh cha Nguyễn Gia của Ton Nhật
muốn
ni đến Nguyễn Gia Long hay Nguyễn Ty Sơn?
V đy l lời giải đp của gio sư L Mạnh Tht, tc giả Ton Nhật
Quang Đi:
Đương nhin, n khng thể l nh Nguyễn của cc cha Nguyễn bởi v kể từ
năm
1771 trở đi, lc Ton Nhật mới 14 tuổi, th ton bộ dng họ cha Nguyễn đ
bị đnh
bật ra khỏi ngi vị của mnh, để c thể lm chuyện trung hưng chnh
Php. Do vậy,
chỉ c thể l nh Nguyễn Ty Sơn hay nh Nguyễn Gia Long m thi. Đối với
nh
Nguyễn Gia Long, tuy Ton Nhật sống hơn 30 năm cn lại của đời mnh dưới
sự
thống trị của dng họ ny v đ biểu thị một thi độ hết sức đặc biệt. ng
hầu như
khng thừa nhận sự hiện diện của nh Nguyễn ấy qua việc ng khng bao giờ
xử
dụng nin hiệu của cc vị vua nh Nguyễn trong cc tc phẩm để ghi lại
những đơn
vị thời gian cần thiết.
Chẳng hạn, trong ba bi bạt ta hiện tm được viết cho những lần in kinh
năm 1819 v
1829, th một bi bạt khng đề ngy thng g hết, cn hai bi bạt kia, ta
chỉ thấy ghi
tuế thứ Kỷ Mo v tuế thứ Kỷ Sửu. Việc ghi nin đại kiểu ny, trong
khi đất nước
đang c chủ quyền, l một biểu thị khinh nhờn cực kỳ nghim trọng đối với
nh
đương quyền. Ni trắng ra, Thiền sư Ton Nhật khng thừa nhận nh Nguyễn
Gia
Long l chnh thống, do thế đ khng xử dụng nin hiệu của Gia Long v
Minh Mạng
ngay cả lc cần thiết. (Ton Nhật Quang Đi ton tập I, NXB TP.HCM.2005
trang
27-28.)
Trong tc phẩm Lược sử Phật Gio v cc cha Ph Yn, hai tc giả Nguyễn
Đnh
Chc v Huệ Nguyễn khi viết về Thiền sư Diệu Nghim v cha Từ Quang cũng
xc
nhận rằng: Đệ tử thnh đạt của tổ sư c đến 28 vị thnh danh, trong đ c
Thiền sư
Ton Nhật Quang Đi nguyn l mưu thần của vua Quang Trung về sau xuất gia
v
lm trụ tr cha Vin Quang (NXB Thuận Ha 1999 trang 90.).
Nhưng tại sao Ton Nhật đ gặp được Cha thnh ti hiền để phục vụ lại
phải vội
v từ giả khi mới c 30 tuổi đầu? Chắc chắn phải c một biến cố đau lng
no đ? Tc
giả Ton Nhật Quang Đi cho rằng:
L do cho sự từ quan c thể xuất pht từ cuộc tranh chấp no đ, m
ngy nay v
thiếu tư liệu, chng ta khng thể no xc định được một cch r rng.
Trong Từ
Quang Tự sa mn Php chuyn Luật truyền Diệu Nghim Thiền sư xuất thế nhn
do
sự tch, d được viết vo năm Gia Long thứ 3 (1805) nh Ty Sơn xung đột
với nhau
bằng từ ngữ thủ tc tương tranh. Ta biết việc ko qun vo Quy Nhơn vy
Nguyễn
Nhạc xảy ra vo khoảng thng 9 năm 1786 sau khi đ rt qun khỏi Thăng
Long vo
thng 7 năm Bnh Ngọ (1786), v Nguyễn Nhạc đ than khc với Nguyễn Huệ về
việc
nồi da xo thịt. Như vậy khi Ton Nhật ni mnh xuất gia vo năm 30 tuổi,
v ng lại
sinh vo năm Đinh Sửu (1757), th năm Bnh Ngọ ng đng 30 tuổi theo cch
tnh của
người Việt Nam. Việc rũ o từ quan đi xuất gia của Ton Nhật do thế phải
chăng đ
lin hệ với sự kiện anh em Ty Sơn xung đột vừa ni? (Ton Nhật Quang Đi
tập I,
NXB TP HCM 2005, trang 30.)
Trong suốt 2 tc phẩm Tham thiền vn v Thiền cơ yếu ngữ vn, ta nghe
thấy một
nỗi buồn no đ với con đường lợi danh m Ton Nhật vừa rũ bỏ để ra đi.
Quyết một bề tro non đo giếng
Kẻo lời phm đeo tiếng thị phi
(Tham thiền vn)
Khng phải chỉ buồn thi m cn c một ci g đ vừa chua cht vừa đắng
cay:
Danh lợi đ đề nn tiếng sĩ
Đu ở mnh xử kỷ chẳng toan
Sng kia nhắm dạng d ln
Thin cơ dễ biết ngộ duyn qun thần
Đ cầm cn non gi từng nhắc
Dai hay sao tro trc đấu đong
(Tham Thiền vn)
Nhưng khng sao, v Ton Nhật c đủ nghị lực cũng như ch để vượt qua
những
phong ba bo tp của cuộc đời, v ng đ tự nhắc nhở cho chnh mnh:
Miễn l neo nọc cho bền
Gi lồng mặc gi, vững thuyền th thi
(Tham Thiền vn)
hoặc l:
Lời thị phi khen ch mặc thế
Hơi no m cấm chợ ngăn sng?
V nếu Ton Nhật đ từng theo Cha Nguyễn Ty Sơn, th nhất định triều đại
Tậy
Sơn phải l một triều đại tn sng Phật gio như Thiền sư Ton Nhật đ hết
lng ca
ngợi:
Mừng nay minh cha Nguyễn Gia
Trung hưng chnh Php gần xa tn sng
Dựng tăng phng lại trau Phật điện
Tạo trống chung nổi tiếng vang lừng
Tăng ni thong thả tu thn
Cảnh thiền tiu si ng trần phiền lao
Tc giả L Mạnh Tht đ khẳng định như thế ny: Lịch sử v d sử cũng
như truyền
thuyết đều xc nhận nh nước Ty Sơn dưới sự lnh đạo của Nguyễn Huệ, đ
c
những chnh sch cải cch Phật gio thực to lớn. Điều ny cũng khng c g
lạ khi ta
nhớ rằng trong ba anh em nh Nguyễn Ty Sơn, c người đ ở Cha lm sư rồi
sau đ
mới ra lm tướng, lm vua. C thuyết ni rằng người đ từng lm sư ấy l
Nguyễn Lữ,
nhưng thuyết đng tin cậy hơn lại ni người đ chnh l Nguyễn Huệ. Ngy
nay, tại
Cha Trc Lm ở Huế cn giữ một tấm gấm thu Kinh Kim Cang bằng chỉ đỏ do
Ngọc
Hn Cng cha thực hiện vo năm Cảnh Thịnh thứ 2. V văn tế vua Quang
Trung do
Ngọc Hn viết cũng ni đến ci chết của vua Quang Trung như miền cực lạc
xe my
vn vụt. Vua Quang Trung phải l người như thế no về phương diện tn
gio, th
Cng cha Ngọc Hn mới nới tới miền cực lạc. Cũng thế, thi độ tn gio
của triều
đnh Ty Sơn Quang Trung như thế no, th Ngọc Hn mới thu kinh Kim Canh
Bt
Nh ln gấm (Sdd tập I trang 28.).
Nguyễn Xun Nhn, trong tc phẩm Văn học dn gian Ty Sơn cũng xc nhận
như
thế ny đối với thng tin trn:
Trước khi dấy nghĩa, Nguyễn Lữ cng theo hai anh học văn học v với
thầy gio
Hiến. Sau đ c một thời gian xuất gia nn ng cn được gọi l thầy Tư Lữ.
Mấy năm
lm nh sư, ng c dịp trao đổi v thuật với cc nh sư Trung Quốc vốn l
những
người mang tư tưởng Phục Minh Khng Thanh tr ngụ ở An Thi (Bnh Định).
ng
muốn cho bộ mn v thuật nước nh thch hợp với thể chất của người mnh
nn cng
cc chiến hữu tm hiểu kỹ cc thế đnh của đi g chọi nhau, rồi sng tạo
nn nhiều
thế đnh mới hợp thnh một thể thống nhất gọi l Hng K Quyền (NXB Trẻ
TP.
HCM 1999.).
Nếu những điều trn c thể lm cho ta bn tn bn nghi v nửa l lịch
sử v nửa l d
sử th những bằng chứng sau đy cũng của tc giả Ton Nhật Quang Đi chắc
chắn
l sự khẳng định r rng của lịch sử:
Khng những thế, triều đnh nh Ty Sơn, cụ thể l triều đnh vua
Quang Trung,
gồm những người cốt cn lại l những Phật tử. Ta c Hải Lượng đại Thiền
sư, tức
Binh Bộ Thượng Thư Ng Thời Nhiệm (1746-1803) cng những người trong Trc
Lm
Thiền viện của ng như Hương Lĩnh B Nguyễn Đăng Sở, Phan Huy ch, Vũ
Trinh
Ngoi ra vị qun sư của Nguyễn Huệ l Trần Văn Kỷ, lại c con đi xuất gia
c hiệu l
Đạo Minh Trung Hậu ha thượng. Triều đnh nh Ty Sơn do thế l một triều
đnh
Phật gio (Sdd tập I trang 28.).
Ngoi ra, từ Quang tự sa mn Php chuyn Luật truyền Diệu Nghim thiền
sư xuất
thế nhn do tch ch c cho ta biết về việc thầy của Ton Nhật l Thiền sư
Php
chuyn luật truyền Diệu Nghim đ được vua quan nh Ty Sơn ủng hộ. Chẳng
hạn,
vo năm Bnh Thn (1796) tại tỉnh Ph Yn, Php chuyn đ tổ chức một giới
đn để
thọ giới cho hơn 200 tăng ni, th đ được chủ trấn l Đon Luyện quận cng
của nh
Ty Sơn ủng hộ.
Rồi đến năm Mậu Ngọ (1798) Thiền sư Diệu Nghim lại được Hong Thi hậu
nh
Ty Sơn mời ra Huế để chứng minh việc đc Đại Hồng Chung v được ban c sa
mu
tm. Ta biết những năm 1796 cho đến 1798, qun Nguyễn nh chưa lấy được
Ph Yn
v Thuận Ha (Sdd tập I trang 29.).
V như vậy, tc giả Ton Nhật Quy đi kết luận:
Trn cơ sở những phn tch vừa thấy minh cha Nguyễn Gia, tất khng thể
ai hơn
l vua Quang Trung. Từ đ, nếu trước khi xuất gia, Ton Nhật đ lm quan
v lm
tướng th ng đ lm quan lm tướng với nh Ty Sơn ( nt.).
Bởi vậy nn mặc d đ rời bỏ hng ngũ của phong tro Ty Sơn để đi xuất
gia, nhưng
Ton Nhật vẫn tch cực hỗ trợ cuộc cch mạng của Ty Sơn. Chnh v sự hỗ
trợ ny
nn khi nh Ty Sơn sụp đỗ v Nguyễn Gia Long chiếm được chnh quyền th
Ton
Nhật lại phải sống lao đao cng với vận nước nổi tri, như chnh Ton Nhật
đ ghi lại
trong một bi ph:
Ở khng nơi; về khng chốn
Than rằng biển khổ rất mnh mng
Lnh đnh chẳng khc thuyền tri
biết đu dừng đỗ
Lng đng cũng như bo nổi
Theo đ hợp tan
Cng đ đi tu
Phận muối dưa lại khng an phận
Lng toan học đạo,
Thn bả b chẳng đặng dung thn
Ở khng nơi, phải tạm ở đnh
Đnh vốn rộng trống sau trống trước
Qun cũng lạ khng vo ngụ qun
Qun tuy nhiều, kh mượn kh toan
Đặng gặp nơi no
Cũng nhờ chốn ấy
(Thơ B Vi)
Nhưng tại sao một người như Ton Nhật lại hết lng ủng hộ cuộc khởi
nghĩa của Ty
Sơn? V Ty Sơn đ đnh đuổi cha Nguyễn ở Đng trong, đ xa tn hai tập
đon
phong kiến l cha Trịnh v vua L ở Đng ngoi, đặc biệt l đ oanh liệt
đnh tan
tnh hai cuộc xm lăng của nh Thanh ở phương Bắc v Xim la ở phương Nam
chăng?
Nếu chỉ hng mạnh về qun sự khng th chưa đủ để thuyết phục một nh tr
thức lỗi
lạc như Ton Nhật, để Ton Nhật c thể ủng hộ cuộc khởi nghĩa của Ty Sơn.
V
sao? V l do đơn giản l xưa nay lịch sử đ từng chứng minh rằng, một chế
độ chỉ biết
đề cao v trị th chế độ đ lun lun chuyn quyền v độc đon v nạn nhn
th
thảm cho sự chuyn quyền v độc đon ny chnh l người dn v tội chứ
khng ai
khc.
Vậy chắc chắn triều đại Ty Sơn ngoi sức mạnh về qun sự ra th phải cn
c những
chnh sch no đ rất ph hợp với lng dn nn một tr thức như Ton Nhật
mới ủng
hộ một cch tch cực như vậy chăng?
Cố học giả Trần Trọng Kim, đ nhận định về con người của Quang Trung
Nguyễn
Huệ như thế ny:
Vua Quang Trung nh Nguyễn Ty Sơn l ng vua anh dũng, lấy v lược m
dựng
nghiệp, nhưng ngi c độ lượng, rất am hiểu việc trị nước, biết trọng
những người
hiền ti văn học. Khi ngi ra lấy Bắc H, những người như Ng Thời Nhiệm,
Phan
Huy ch, đều được trọng dụng v nhất l đối với một người xử sĩ như Nguyễn
Thiếp
th thật l khc thường.
Nguyễn Thiếp, tức l Khải Chuyn hiệu l Nguyệt c, biệt hiệu l Hạnh
Am. ng lm
nh ở Lục Nin thnh, thuộc huyện La Sơn, H Tĩnh by giờ, cho nn người
ta gọi l
Lục Nin tin sinh hay l La Sơn Phu tử. Vua Quang Trung từ khi đem qun
ra đnh
Bắc H, biết tiếng Nguyễn Thiếp, đ mấy lần cho người đem lễ vật mời ng
ra gip,
ng khng nhận lễ v cũng từ chối khng ra. Đến khi Ngi đăng cực, lại mấy
lần cho
người đến mời ng, ng c đến bi yết v khuyn vua nn lấy nhn nghĩa m
trị dn
trị nước, rồi lại xin về. Vua Quang Trung tuy khng dng được ng, nhưng
bao giờ
cũng tn knh ng như bậc thầy, v việc chnh trị trong nước thường theo
m
Nguyễn Thiếp đ trnh by (Việt Nam sử lược NXB tổng hợp TP.HCM ti bản
2005
trang 373.).
Đ l chnh sch của nh nước Ty Sơn đối với giới tr thức, cn đối
với người dn th
sao? Người dn nước ta ở nửa cuối thế kỷ 18 th hầu hết đều sống bằng nghề
nng,
lao động suốt ngy nhưng vẫn ngho khổ. Vậy chnh sch của nh nước Ty
Sơn đối
với những người ngho khổ ny th sao? Những người Ty phương c mặt từ
những
ngy đầu của cuộc khởi nghĩa Ty Sơn ni rằng, khẩu hiệu của nghĩa qun l
hy
tước đoạt của ngưởi giu chia cho người ngho.
Bọn Nguyễn Nhạc muốn đem nh sng cng l soi tới chng dn v giải
thot khỏi
gng cm của nh vua, cc quan v cc cố vấn. Bọn chng tuyn truyền tnh
bnh
đẳng trong mọi địa hạt. Trung thnh với thuyết tn x hội, bọn Nguyễn Nhạc
tước
đoạt ti sản của cc quan thống trị giu c v đem chia cho dn cng đinh
khố rch
(Ng Thời Nhiệm trong văn học Ty Sơn của Mai Quốc Lin NXB VHTT Nghĩa
Bnh
1985 trang 110.).
Như vậy, chắc chắn những tc phẩm của Ton Nhật, đặc biệt l Hứa sử
truyện vn đ
được Ton Nhật viết ra để hỗ trợ cho cuộc khởi nghĩa do chnh những người
từ giới
nng dn ngho khổ ấy cầm đầu. Bởi thế, theo tc giả Ton Nhật Quang Đi
th: Thể
hiện r nt bản lĩnh tư duy của nhn dn ta trước những vấn đề trọng đại
của đất
nước. Chng khng phải l những luận đề cũ rch vay mượn từ những sch vở
Trung
Quốc, khng c một lin quan thiết yếu đến đời sống dn tộc.
Tri lại, chng l những vấn đề nng bỏng của thời đại tc giả sống,
đi hỏi phải c
những giải đp thch đng. Cho nn, chng khng cần phải bao bọc trong
những cu
thơ ng chuốt, trưởng giả, đầy những điển cố chữ nghĩa, sự tch xuất pht
từ dng
văn ho bc học v t nhiều mang tnh ngoại lai. Thay vo đ, chng được
trnh by
một cch thẳng thắn, cố nhin l dưới hnh thức truyện vn, qua những lời
thơ bnh
dị, trong sng đến nỗi giống như lời ni hằng ngy của nhn dn. Do thế,
trn ton
bộ, Hứa sử truyện vn đ thể hiện sức sống dạt do đang cuồn cuộn dng ln
của
dn tộc ta trong thời kỳ nổ ra cuộc cch mạng Ty Sơn do nh anh hng o
vải
Nguyễn Huệ lnh đạo lần đầu tin đnh thắng hai thế lực qun chủ lực kỳ
phản động
trong nước v thế lực xm lược ngoại bang (Sdd tập I trang 41.).
Nhưng với Ton Nhật, một người được nui dưỡng từ truyền thống tư tưởng
của Phật
gio, th chỉ cng bằng trn bnh diện x hội khng chưa đủ m cn phải
bnh đẳng v
cng bằng ngay cả trn phương diện nhn phẩm của mỗi c nhn con người
nữa. Như
vấn đề gọi l chnh thống v ngụy triều sau đy chẳng hạn:
Những người lm quốc sư nước Tu v nước ta thường chia những nh lm
vua ra
chnh thống v ngụy triều. Nh no, một l đnh giặc mở nước, sng tạo ra
cơ nghiệp,
hai l được kế truyền phn minh, thần dn đều phục, ba l dẹp loạn yn
dn, dựng
nghiệp ở đất Trung Nguyn, th cho l chnh thống. Nh no, một l lm ti
cướp ngi
vua, l sự thon đạt khng thnh, hai l xưng đế, xưng vương ở chỗ rừng
ni, hay l ở
đất bin địa, ba l những người ngoại chủng vo chiến nước lm vua th
cũng cho l
ngụy triều (Trần Trọng Kim, Sdd trang 359.).
Như vậy, nh Ty Sơn được xem l kẻ ở rừng ni, ở bin địa, l ngoại
chủng vo cướp
nước lm vua nn sử nh Nguyễn đ gọi l Ngụy Ty Sơn.
Thế no l chnh thống v thế no l ngụy triều? V ai l kẻ c thẩm
quyền đứng ra để
bảo rằng triều đại ny l chnh thống v triều đại kia l ngụy triều l
khng chnh
thống? V c ci g để bảo chứng rằng những người được sinh ra từ giới
thống trị,
sanh ra ở vng trung nguyn l hơn kẻ sanh ra ở vng bin địa hay thn d
qu ma?
Sự sanh trưởng khng lm cho con người được liệt vo giai cấp B la mn
hay bị loại
ra khỏi giai cấp ny.
Chnh nếp sống hng ngy tạo ra người nng dn, thương gia hay n bộc.
Nếp sống hng ngy tạo ra hạng trộm cắp, binh sĩ, tu sĩ hay vua cha.
V thng điệp ny cứ được nhắc đi nhắc lại mi trong gio Php của Đức
Phật:
L cung đnh khng phải do sanh trưởng l B la mn khng phải do sanh
trưởng do
hnh động, người ny l cung đnh do hnh động người ny l B la mn
(Sutta
Nipta Vasalasutta).
Từ lời khẳng định ny của Phật gio ta mới thấy rằng ci gọi l chnh
thống cũng như
khng chnh thống, gọi l ngụy triều hay chnh triều chỉ l tr by đặt
của giai cấp
thống trị m thi chứ chẳng c bất cứ một gi trị đch thực no cả.
Vậy by giờ ta thử xem Thiền sư Ton Nhật đ phải lm g để đập tan ci
l luận bất
cng ny m hỗ trợ cho cuộc cch mạng Ty Sơn? Những người được sanh ra từ
nơi
thn d qu ma?
Tc giả L Mạnh Tht viết: Thế th Hứa sử truyện vn c thể được Ton
Nhật san
bổ trước những năm 1798. Phải chăng n ra đời nhằm đp ứng những yu cầu
l luận
chnh trị phục vụ cho sự nghiệp xưng đế v chống ngoại xm của Quang
Trung? Với
l thuyết chống tn qun, phải chăng n đ gin tiếp biện minh cho việc
Quang
Trung xưng đế khng thừa nhận quyền uy chnh thống của Vua L? Thậm ch,
nếu
Vn Hứa sử, tiền thn của Hứa sử truyện vn lưu hnh trước Ton Nhật đ
c nội
dung chống tn qun khi Hứa sử truyện vn, thế phải chăng tiền thn ấy đ
cung
ứng phần no l luận cho việc ln ngi của Nguyễn Nhạc, chứ khng phải chỉ
đợi đến
Quang Trung?
Cũng theo gio sư L Mạnh Tht th Hứa sử truyện vn, ngoi những vấn
đề về tư
tưởng Phật gio ra, th nổi bật nhất c ba chủ đề chnh, nhưng gio sư cho
rằng luận
đề thứ nhất mới l luận đề quan trọng nhất v n đ tiến cng đập tan chủ
nghĩa tn
qun chuyn chế v cực đoan, ph vỡ ci trật tự phong kiến qun - sư - phụ
hng
ngn năm đ nặng ln đầu ln cổ nhn dn. Đ l thầy quan trọng hơn cả vua
v cha
mẹ. Dưới hnh thức lời phn của Dim vương, Hứa sử truyện vn đ nu cu
hỏi:
Tội ai bằng Hong Tử Anh
Giết cha rồi lại tung honh hung hăng
Xt mnh nghịch c chẳng an
Quy y niệm Phật ba đng thot qua
X vương giết hại vua cha
Quy y niệm Phật đặng tha tội đy
C một sự tội phụ thầy
Phật khng cứu đặng, ta rầy kh bnh
Hứa sử đứng ln xin hỏi:
Thế th thực sự thầy quan trọng hơn vua v cha mẹ sao?
V như qun phụ sư n
Trong đời đạo thiệt bằng cn cao dy
Lm ti bung thi thẳng ngay
Lm con khng thảo giết đy vua cha
Lẽ thời tội ấy khng tha
Quy y sao lại thot ra tội dy
Đệ tử nếu phụ n thầy
Phật khng cứu đặng, lịnh ny chẳng tha
Vậy thời thầy hơn vua cha
Ti nghe lẽ ấy lng m chưa thng
Để trả lời cu hỏi của Hứa sử, một lần nữa dưới hnh thức lời phn của
Dim vương,
Hứa sử truyện vn đ đưa ra l lẽ sau:
Trong đời mun việc khng thầy
Thế gian thường ni đố my lm nn
Tớ đương nghĩa trả ơn đền
Nếu m phụ bạc tội dường hằng sa
Tớ thầy, ti cha, con cha
Trong đời ba ấy rất l trọng thay
Sanh con bằng chẳng c thầy
Lấy ai gio ha cho rầy nn thn
Chẳng noi đạo đức nghĩa nhn
Lm đường nghịch c vong thn lm g
V như tẩu nhục hnh thi
Lm chi nn chuyện kể th l con
Cho hay khắc chấn gia mn
Chi danh hai họ tiếng đồn mun thu
Cũng l tiết nghĩa ph vua
Trạc dn tr cha cơ đồ đặng yn
Vua cng cha mẹ r rng
Cc điều thnh tựu nhờ ơn c thầy
R rng xuất pht từ quan điểm dn chủ tự pht của nhn dn, Ton Nhật
đ tiếp thu
những yếu tố dn chủ tự pht đ v triển khai chng thnh một l tưởng dn
chủ c
cơ sở l luận, tiến cng trực diện vo lập trường tn qun chuyn chế v
cực đoan do
cc thế lực phong kiến suy tn cố dựng ln. C thể ni, đy l lần đầu
tin v c lẽ
duy nhất trong lịch sử chế độ phong kiến nước ta, một tc phẩm văn học dm
nu ln
một l thuyết dn chủ, dm thẳng thừng tuyn bố khng p mở: Vậy thời
thầy hơn
vua, cha. Vua l thin tử, l con trời: Khắp dưới gầm trời, khng đu
khng l đất
của vua, dn ở khắp đất khng ai khng l bề ti của vua. Tuyn ngn
phong kiến
đ dng dạc xc định quyền uy tối thượng v bất khả xm phạm của thin tử
l thế,
của vua l thế. Cho nn, ni rằng c một lớp người no đ hơn cả vua nữa
l phạm
thượng, l xc phạm đến chnh cốt li, đến chnh điểm huyệt sống chết của
vấn đề,
cần phải loại trừ khng cht khoan nhượng, Ton Nhật đ mạnh mẽ ln tiếng
minh
định ci trật tự phong kiến qun - sư - phụ bất di bất dịch c thể bị đả
đảo, để sư quan
trọng, thiết yếu hơn qun v phụ, bởi v:
Trong đời mun việc khng thầy
Thế gian thường ni đố my lm nn
V tiếng ni đả đảo đ khng phải xuất pht từ những truyền thống tư
tưởng ngoại
lai, từ l thuyết Khổng Mạnh. Tri lại, n nổi ln từ kho tng tr tuệ
tch luỹ những
kinh nghiệm v nhận thức của dn tộc v nhn dn. Trn cơ sở nhận thức
Khng
thầy đố my lm nn, với nội dung tất yếu giới hạn của n, Ton Nhật đ
pht triển
thnh một luận đề bẽ gy ci trật tự qun - sư - phụ, để đẩy li ci bng
ma gian c
của trật tự ấy, m vo thời Ton Nhật đ trở thnh rữa nt v cực kỳ phản
động, đang
cản trỡ bước tiến của dn tộc, phủ ln cuộc sống của nhn dn một mn đau
thương
thống khổ.
Hy tưởng tượng lại ci thời kỳ m vua cha cn hon ton nắm trong tay
quyền sinh
st đối với mọi người dn, v khi mọi người mặc nhin nhn nhận sự kiện ấy
như một
tất yếu khng phải bn ci, ta mới thấy hết tnh vĩ đại hng trng của một
tiếng ni
Ton Nhật.
Cũng hy tưởng tượng lại ci thời kỳ khi thức hệ v nền gio dục
chnh thống chỉ
tập trung nhồi sọ cho người ta ci chủ thuyết tn qun cực đoan, ta mới
thấy hết bản
lĩnh dm nghĩ dm lm của dn tộc ta, thể hiện qua những con người như
Ton Nhật.
M Ton Nhật c được ci tầm vc tư tưởng vĩ đại ấy, c được ci bản lĩnh
dm nghĩ
dm lm ấy, đ l ng đ biết bm vo nhn dn, lấy cuộc sống, kinh
nghiệm, nhận
thức v tnh cảm của dn tộc, của nhn dn l chủ để thể hiện của mnh, m
giải quyết
những vấn đề do thời đại đặt ra.
ng đ tập tan ci trật tự phong kiến qun - sư - phụ hng ngn năm đ
nặng ln
thức của nhn dn, khng bằng những viện dẫn từ sch vở ngoại lai, tri
lại bằng
chnh những tri thức, kinh nghiệm v tnh cảm của dn tộc, của nhn dn
kết tinh
trong những cu ca dao tục ngữ. Dựa vo v khai thc một cch c chọn lọc
kho tng
qu gi v tận ấy, Ton Nhật đ lm nổi bật thm ci chn l sng ngời l
đứng trong
hng ngũ nhn dn, người ta cng trở nn to lớn theo kch thước vĩ đại của
nhn dn
trong lịch sử, cng trở nn tin tường vo tr tuệ tuyệt vời, vo tnh cảm
trong sng v
vo sức mạnh v địch của họ.
() Do thế, tư tưởng dn chủ của Ton Nhật l một điểm son trong lịch
sử tư tưởng
Việt Nam. Lần đầu tin nhn dn ta dm cng khai nghĩ tới v tuyn bố rằng
vua
khng phải l vị tối thượng của nước, c quyền uy tuyệt đối với mọi người.
(Sdd tập I
trang 67-70.)
Nếu đ gần hai thế kỷ qua, những người lm cng tc nghin cứu văn học
ở nước ta
đ khng một lần tn Ton Nhật được nhắc tới, khng bất kỳ một dng no
dnh
cho tc phẩm của ng th những lời đnh gi trn của gio sư L Mạnh Tht
theo ti,
l đ đủ để chuộc lại phần no lỗi lầm của chng ta, những thế hệ sau đối
với Ton
Nhật vậy.
Nhưng nếu quả đng l Ton Nhật viết Hứa sử truyện vn l để nhằm đp
ứng
những yu cầu l luận chnh trị phục vụ cho sự nghiệp xưng đế v chống
ngoại xm
của Quang Trung? Với l thuyết chống tn qun, phải chăng n đ gin tiếp
biện
minh cho việc Quang Trung xưng đế v khng cần thừa nhận quyền uy của vua
L
như sự nhận định của tc giả Ton Nhật Quang Đi th theo ti khng chỉ
những
người Phật tử Việt Nam hiện tại m cả mai sau nữa, phải học lấy bi học m
Ton
Nhật, với tư cch l một thiền sư đ ủng hộ cuộc cch mạng Ty Sơn như thế
no?
Nghĩa l Ton Nhật khng hề xưng tụng hay tn sng c nhn của Thi Đức
Nguyễn
Nhạc hay Quang Trung Nguyễn Huệ m Ton Nhật chỉ ủng hộ chnh sch đng
đắn
c lợi cho dn cho nước m cuộc cch mạng Ty Sơn đ đề ra m thi.
Khi một c nhn hay một tổ chức chnh trị no đ đề ra được một chnh
sch ph hợp
với lng dn th nhất định c nhn ấy, tổ chức ấy đương nhin xứng đng
đứng ra đại
diện cho đất nước chứ khng nhất định l họ đ được sanh ra từ giai cấp
no, họ
đang ở trung nguyn hay nơi qu ma thn d.
Trong bối cảnh chnh trị v x hội vo thời của Ton Nhật ở nửa cuối
thế kỷ 18 th
người đ nhất định khng phải l L Chiu Thống, mặc d ng ny được xem
l
chnh thống theo quan điểm của ci gọi l quốc sử của mốt số nh sử
học nước
ta cũng như của Trung Quốc, m người c đủ điều kiện đứng ra đại diện cho
đất nước
lc đ đương nhin l Quang Trung Nguyễn Huệ, d Nguyễn Huệ khng phải
chnh
thống cũng như khng sanh ra ở Trung nguyn m lại sanh ra tại một nơi xa
xi hẻo
lnh ở tận nơi ni rừng Ty Sơn.
Nhưng con người được sinh ra tại nơi qu ma ấy lại được một sử gia
viết l: cn
như Nguyễn Huệ l vua Thấi tổ của nh Nguyễn Ty Sơn, th trước gip anh
bốn lần
vo đnh đất Gia Định đều được ton thắng, ph hai vạn qun hm beo của
Xim La,
chỉ cn được mấy trăm người lủi thủi chạy về nước; sau lại ra Bắc H, dứt
họ Trịnh,
tn vua L, đem lại mối cương thường cho r rng. Ấy l c đủ sức mạnh m
lại biết
lm việc nghĩa.
Nhưng v nh L nhu nhược, triều thần lc bấy giờ khng ai c ti kinh
lun, lại để
cho Trịnh Bồng v Nguyễn Hữu Chỉnh nối nhau m chuyn quyền cho đến nỗi
thnh
ra tn loạn. Dẫu thế măc lng, khi Nguyễn Huệ giết Vũ Văn Nhậm rồi, khng
nỡ dứt
nh L, đặt gim quốc để giữ tng miếu tiền triều; như thế th cch ở với
nh L
khng lấy g lm bạc.
Sau vua L Chiu Thống v Hong Thi Hậu đi sang ku cứu bn Tu, vua
nh
Thanh nhn dịp ấy mượng tiếng cứu nh L, để lấy nước Nam, bn sai binh
tướng
sang giữ thnh Thăng Long. Bấy giờ cứ theo mật dụ của vua nh Thanh, th
nước
Nam ta, bề ngoi tuy chưa mất hẳn, nhưng kỳ thật đ vo tay người Tu rồi.
Vậy nước mất, th phải lấy nước lại, ng Nguyễn Huệ mới ln ngi Hong
đế, truyền
hịch đi cc nơi, đường đường chnh chnh đem qun ra đnh một trận ph 20
vạn
qun Tu, tướng nh Thanh l Tn Sĩ Nghị phải bỏ c ấn tn m chạy, lm
cho vua ti
nước Tu khiếp sợ, tướng nh Thanh phải thất đảm. Tưởng từ xưa đến nay
nước ta
chưa c v cng no lẫm liệt như vậy.
V đnh đuổi người Tu đi rồi lấy nước lại m lm vua th c điều g m
tri đạo? Vậy
lẽ g m gọi l nguỵ triều? ( Trần Trọng Kim, Sdd trang 360-361.)
Nhưng Ton Nhật biết rằng triều đại no rồi cũng sẽ qua đi, kể cả những
triều đại
được ca tụng nhất trong lịch sử của loi người xua nay:
Lợi danh tợ bọt nước xao
Hn Đường Triệu Tống th no thấy đu?
(Xuất gia vn)
Triều đại Ty Sơn d được ca ngợi l Bch chiến bch thắng l v
địch th cũng
chỉ tồn khng đầy nữa thế kỷ, nghĩa l khng triều đại no l mun năm
hết.
Bởi vậy, l một tư tưởng gia của Phật gio, nn Ton Nhật thức được rằng
con
đường đi của Phật gio l: Phật gio Việt Nam khng gắn b tuyệt đối với
triều đại
no, d triều đại đ do Phật gio dựng ln hay lnh đạo. Phật gio chỉ gắn
b v
trung thnh với quyền lợi dn tộc, quyền lợi của dn chng m thi (Trần
Nhn
Tng ton tập của L Mạnh Tht, NXB TP.HCM năm 2000.).
Chnh đ l l do v sao Ton Nhật ủng hộ cho cuộc cch mạng Ty Sơn m
khng
hề ca tụng bất cứ một c nhn no trong phong tro ấy, d đ l c nhn
của Nguyễn
Nhạc hay Nguyễn Huệ.
D khng trực tiếp nhắc g đến cuộc cch mạng Php 1789, nhưng khi đề
cập đến tiểu
luận Sa di oai nghi tăng ch giảo ngụy tự tiểu thin của Ton Nhật, L
Mạnh Tht c
viết rằng:
Phải chăng n đp ứng lại xu thế chung của lịch sử thế giới thời by giờ,
thể hiện
một xu thế đi tm nh sng, đi tm chn l, dựa trn khả năng hiểu biết v
tm kiếm của
con người, chứ khng cn tin tưởng một cch m qung vo những g do
truyền
thống hay những quyền uy khc truyền lại (Sdd tập II, trang 290.).
Từ những nhận định trn của tc giả Ton Nhật Quang Đi, ta thử lm một
cht so
snh th sẽ thấy c một sự trng hợp lạ lng giữa cuộc cch mạng Php 1789
v tnh
hnh chnh trị cũng như x hội ở nước ta vo nửa cuối thế kỷ 18.
Nếu cc vua Louis 14 v 15 đ giam hm x hội Php trong 4 vch tường đến
vua
Louis 16 th người dn của nước Php khng thể no chịu đựng sự giam hm
v kiềm
kẹp ny được nữa, nn vo ngy 14 thng 7 năm 1789 đ đồng loạt ko đến
đập ph
tan tnh nh ngục Bastille, nh ngục ny trong nhiều thế kỷ đ l nơi giam
giữ những
người yu nước dm ln tiếng chống đối chế độ, v l tiu biểu cho chnh
sch
chuyn chế v h khắc của chế độ phong kiến Php.
Cũng xấp xỉ vo khoảng thời gian đ, L Mạnh Tht viết:
Nước ta vo thời Ton Nhật cũng đang đứng trước một tnh thế hết sức
hiểm
nguy. Bn trong th cc thế lực phong kiến phản động đang suy tn cấu x
tiu diệt
lẫn nhau một cch tn nhẫn trn thống khổ tuyệt vọng của nhn dn. Bn
ngoi th
cc thế lực ngoại bang đang lăm le v thực sư lợi dụng tnh hnh đ của
dn tộc để
thực hiện những mưu đồ xm lược nham hiểm của chng. Chnh trong tnh thế
đ của
đất nước, m hng ngy đ xảy ra những cảnh:
Non chen ng gio đỏ cy
Mc hoa đường tuyết, tn bay mt trời
Thảm thương chật đất phơi thy
Đỏ hoe mu rắc đi nơi dầm dề.
()
Chng dn la bỏ xm giềng
Chằm non trốn np của tiền đoi chi
Mắc cơn lửa dữ một kỳ
Đ kia ngọc nọ đều th chy leo
(Hứa sử truyện vn)
Xảy ra nhan nhản khắp nơi. Nếu khng c một cuộc khởi nghĩa nng dn vĩ
đại dưới
sự lnh đạo thin ti của Nguyễn Huệ bng nổ, th đất nước tưởng chừng như
khng
cn c cơ sống st. Nhưng lm sao một sự việc như thế c thể quan niệm
được, khi
m những người như Ton Nhật xuất thn từ nhn dn đ nu cao ngọn cờ chủ
nghĩa
nhn đạo chiến đấu, đ nu cao l tưởng đạo đức lao động, kin quyết đứng
về pha
những người bị p bức, ni ln tm tnh v nguyện vọng giải phng của họ.
Do thế,
sẽ khng c g đng ngạc nhin khi cuộc khởi nghĩa Ty Sơn sau khi ginh
chnh
quyền trong cả nước về tay nng dn, đ cng một lc đnh bại được hai thế
lực
phong kiến phản động trong nước v phong kiến ngoại bang xm lược, tạo nn
một
kh thế ho hng, đưa dn tộc ln một đỉnh cao của thời đại mới (Sdd tập
I, trang
78-79.).
Nhưng đằng sau bất cứ một cuộc cch mạng no cũng đều được dưỡng bồi
bởi một
sức mạnh tư tưởng trầm lặng no đ. Nếu đỉnh cao của cuộc cch mạng Php
l việc
nhn dn nổi dậy ph ngục Bastille vo năm 1789 th trước đ người dn
cũng đ
thấm nhuần những tư tưởng về tự do, về dn chủ v nhn quyền của cc tư
tưởng gia
như Voltare, Rousseau, MontesquieuCng thế, đỉnh cao của cuộc cch mạng
Ty
Sơn l cuộc đnh bại đon qun xm lược khổng lồ của phong kiến phương Bắc
cũng
vo năm 1789 cũng khng ra ngoi thng lệ đ, nghĩa l cũng được nui
dưỡng bởi
một sức mạnh tư tưởng trầm lặng từ truyền thống của dn tộc Việt:
Trong vng hơn 300 năm trở lại đy, Cư Trần lạc đạo Ph v Đắc th lm
truyền
thnh đạo ca đ được in lại nhiều lần. Điều ny chứng tỏ tư tưởng Cư Trần
lạc đạo
vẫn tiếp tục được học tập v truyền b d Phật gio cũng như đất nước đang
chuyển
mnh qua một giai đoạn mới. Gi trị l luận của Cư Trần lạc đạo từ đ vẫn
cn c sức
hấp dẫn mạnh mẽ, đặc biệt l vo cuối thế kỷ 18 với những chiến cng Ngọc
Hồi,
Đống Đa oanh liệt của qun v dn Ty Sơn. Trong đ nổi bật những khun
mặt Phật
tử nhận mnh l người kế thừa truyền thống Trc Lm như binh bộ Thượng thư
Tỉnh
Phi Hầu Ng Thời Nhiệm l Hải Lượng Thiền sư, Hương Lĩnh B tiến sĩ
Nguyễn
Đăng Sĩ l Thiền sư Hải u (Trần Trọng Kim, Sdd trang 364.).
Lời dặn d sau đy của Quang Trung Nguyễn Huệ với Ng Thời Nhiệm dưới
chn ni
Tam Điệp cng chứng tỏ sự nhận định trn của gio sư L Mạnh Tht l hon
ton c
cơ sở:
Vua Quang Trung cuời m ni rằng: Chng n sang phen ny l mua ci chết
đ
thi. Ta ra Bắc chuyến ny đch thn coi việc qun đnh giữ, đ định mẹo
rồi, đuổi
qun Tu về chẳng qua 10 ngy l xong việc. Nhưng chỉ nghĩ chng l nước
lớn gấp
10 lần nước ta, sau khi chng thua một trận rồi, tất chng lấy lm xấu hổ,
lại mưu bo
th, như thế th chỉ đnh nhau mi khng thi, dn ta hại nhiều, ta sao nỡ
lm thế. Vậy
đnh xong trận ny, ta phải nhờ Ng Thời Nhiệm dng lời ni cho kho để
đnh chỉ
việc chiến tranh, Đợi mười năm nữa, nước ta dưỡng được sức ph cường rồi,
th ta
khng cần phải sợ chng nữa (Sdd tập II, trang 291.).
V ta vẫn cn nhớ l ngy 28 thng 10 năm Mậu Thn (1789) khi đại qun
của Thanh
triều dưới sự chỉ huy của Tổng đốc lưỡng quản l Tn Sĩ Nghị vượt ải Nam
Quan tiến
về Thăng Long th tất cả tướng lnh Ty Sơn ở Bắc H by giờ đều chủ
trương đem
qun chặn đnh với l do suy diễn của họ l lấy qun nghỉ ngơi m đnh
qun mệt
nhọc nhưng kiến của Ng Thời Nhiệm th lại khc Ton qun rt lui,
khng nn
mất một mũi tn, cho n ngủ trọ một đm rồi mai lại đuổi chng n đi v
kiến của
Ng Thời Nhiệm đ được Ng Văn Sở v cc tướng lnh Ty Sơn chấp thuận.
Nhờ
kiến đ m đại qun của Ty Sơn đ rt lui một cch an ton về ni Tam
Điệp, để tạo
điều kiện cho Quang Trung Nguyễn Huệ thần tốc tiến qun ra giải phng
Thăng
Long chưa đầy 10 ngy.
Như vậy l ảnh hưởng của Thiền phi Trc Lm ở đời Trần qua Hải Lượng
Thiền sư
Ng Thời Nhiệm đối với chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa của triều đnh Ty
Sơn l
hiển nhin, khng cần phải bn ci g thm nữa.
Nhưng sau chiến thắng oanh liệt ny th lịch sử của dn tộc một lần nữa
lại bị dang dở
bởi sự ra đi đột ngột của Quang Trung Nguyễn Huệ. Tc giả Ton Nhật Quang
Đi
ni ln sự luyến tiếc cho đất nước cũng như cho giới tr thức như Ton
Nhật đ lỡ mất
cơ hội để đưa dn tộc tiến ln cng với thế kỷ của nh sng:
Với phong cch v tinh thần lm việc đ, đng ra bước sang thế kỷ 19 dn
tộc ta
phải bước ln vũ đi khoa học thế giới. Thế m, với sự ngc đầu dậy của
một hệ
thức phong kiến cực kỳ phản động, phong cch v tinh thần lm việc của
Ton Nhật
khng c cơ hội pht triển v kế thừa, để cuối cng đất nước ta đ rơi vo
tay bọn
xm lược.
Một nh thơ hng đầu của Việt Nam ở nửa thế kỷ 20 cũng chia xẻ nỗi
luyến tiếc ny
đối với ci chết của Quang Trung Nguyễn Huệ v sự dở dang của lịch sử dn
tộc:
Thi xin người đừng nức nở
Nếu sau ny đường dang dở
Những ai về
m mi mộng người đi
(Nguyễn Huệ - Mưa nguồn)
Ton Nhật cn viết một cu chuyện tnh tn l Tống Vương truyện. Nội
dung kể lại
cu chuyện tnh giữa chng thi tử nước Tống đem lng yu một người con
gi, con
của một ngư ng ngho khổ bn bờ sng Vị Thuỷ. Nhưng trước khi đến được
với
người con gi chi lưới ở dng sng Vị Thủy đ, th chng Thi tử đa tnh
ny đ phải
từ chối biết bao nhiu l cng cha xinh đẹp ở cc nước lng giềng muốn
chiếm được
tri tim của chng:
Nước Tần nước Tấn
Nước Sở nước Tề
Ton những tin phi
Cng nng cng cha
Nước Lương nước Sở
Nước Trịnh nước Tuỳ
Ton những tin phi
Cng nng quế liễu
Nước Trần nước Triệu
Nước Hn nước Đường
Nhưng m:
Thi tử chẳng ng
Mặt ủ du du
Triều đnh xem ai nấy lắc đầu
Gh mặt thấy đều th mất va
Ở trần gian khng c người con gi no vừa lng Thi tử, nn cuối cng vua
cha phải
cầu cứu Ngọc Hong:
Tống Vương rằng rầy con đ kn ch
Cha cũng phải cầu tin thượng giới
Nhưng sau khi:
Bước ln lầu rồng
Xem năm tin nữ
Xem rồi tự sự
Bn trở vo đền
Tu vua cha duyn chẳng xứng duyn
Xin cha chớ p con sự ấy
Nhưng rồi một hm:
Ngy giao sự ước chơi vị thuỷ
Th trời xui xảy gặp ngư ng
Cho thuyền đnh c giữa dng
Thi tử lại gần thuyền ngư phủ
Sau khi gặp người con gi của người chi lưới ngho khổ th tri tim Thi
tử đ thực
sự rung động:
Mới trở về nh
Tưởng nng Thụy nữ
Ta muốn cng thưa vương phụ
Lại sợ c triều đnh
Lo lượng một mnh
Sợ người quở phạt
Khi nghe tin Thi tử đem lng yu thương người con gi của người chi lưới
ngho
khổ, nh vua tức giận m than thở:
Nh sinh con v phc
Nn rối sửa số căn
Con chư hầu cc nước th ch
M khiến lấy con nh thuyền rớ
Nhưng lng chng Thi tử đ quyết cng với sự thương con của hong hậu,
nn cuối
cng nh vua cũng phải miễn cưỡng đồng .
Rồi sau khi Thi tử v Thụy nữ, người con gi của người chi lưới đẹp
duyn cng
nhau thi vua cha thoi vị v nhường ngi cho Thi từ:
Sửa sang chnh sự
Ta nay Thi tử
Nối nghiệp trị ngi
Nội ngoại tề gia
Cng l ngư phụ
Quốc lo nội triều
Cha đ tc cao
Trước xe sau ga
Hồi đầu Phật Tổ
Thế pht tu hnh
Từ đ:
Con nối ngi truyền đ tạo thanh
Mun đời để lưu danh thin hạ.
Vậy l để đến được với nng con gi mnh yu Thi tử đ phải đấu tranh
quyết liệt
mới c thể vượt qua những cng ước giả tạo của x hội như giu ngho, tiện
dn hay
qu tộc v.v Nhưng tc gi Ton Nhật Quang Đi với ci nhn của một sử gia
đ
nhận xt v sao Ton Nhật đ viết Tống vương truyện:
V vậy, viết Tống vương truyện ca ngợi mối tnh đẹp đẽ giữa chng Thi
tử quyền
qu với một nng con gi con nh chi lưới, thực sự l ngợi ca những nt
đẹp của
cuộc khởi nghĩa Ty Sơn, giải phng những người bị p bức, tạo cơ hội cho
họ lập
nn những chiến cng hiển hch, những thnh quả văn ho x hội rực rỡ. Từ
chỗ p
bức m đứng ln, họ đ dnh cho bản thn một địa vị xứng đng trong lịch
sử dn tộc.
Cũng như loi người. Tả lại: một chng Thi tử đi tm một c gi chi
lưới, chnh l
khắc họa việc kết hợp giữa lực lượng nng dn với xu thế của thời đại để
lm nn
cuộc khởi nghĩa Ty Sơn vĩ đại (Sdd tp II, trang 93.).
Nhưng nếu một người cầm bt m chỉ biết c ca ngợi cc thủ lnh nh
nước đương
quyền, d l nh nước đ c được lng dn đi nữa, th sự ca ngợi đ cũng
chẳng c
nghĩa g hết, nếu người cầm bt khng vạch ra được một l thuyết, một
hướng đi c
lợi cho dn cho nước. Ton Nhật với tư cch l một nh văn nh thơ nh tư
tưởng của
cuộc cch mạng Ty Sơn v đồng thời cũng l một Thiền sư của Phật gio
Việt Nam,
Ton Nhật biết mnh phải lm g để hỗ trợ cho nh nước Ty Sơn.
Trong lịch sử Phật gio Việt Nam, ngoi L Trần th chỉ ở thời Ty Sơn
những người
Phật gio mới một lần nữa đề cao quan niệm sống thot ly để nhập cuộc một
cch
mạnh mẽ v ho hng. Điều đ cũng khng c g lạ bởi thời đại Ty Sơn đ
c những
con người điển hnh như Ng Thời Nhiệm v Ton Nhật (Sdd tp II, trang
179.).
Quan điểm sống thot ly để rồi nhập cuộc một cch mạnh mẽ v ho hng đ,
nếu ở
đời La chỉ mới khởi đầu, phải đợi đến thời Trần th quan điểm sống đ mới
được p
dụng một cch triệt để:
Cch sống đ bắt buộc người ta phải vo đời nhưng phải vượt ln ci đời,
vo đạo
nhưng phải xuyn qua đời. Những nhn vật chnh trong cc tc phẩm của Ton
Nhật
như Hứa sử truyện vn, Tống vương truyện đều thể hiện quan niệm sống đ
của ng.
Họ lm vua rồi họ đi tu, họ đi tu rồi họ đứng ra lm tướng. Phải chăng
Ton Nhật
muốn tm về nếp sống của cc vua nh Trần Việt Nam (Sdd tp II, trang
148.).
By giờ người ta xem thử Ton Nhật của thời Ty Sơn đ muốn tm về nếp
sống của
cc vua đời Trần như thế no trong cc tc phầm của ng trước hết l Kinh
Kim
Cang.
Trong lời tựa cho Thiền Tng chỉ Nam, Trần Thi Tng, vị vua khai sng
ra triều đại
nh Trần c viết rằng: Đến cc kinh điển của đại gio th khng kinh no
l khng
nghin cứu. Trẫm thường đọc Kinh Kim Cang đến cu ủng v sở trụ nhi sanh
kỳ
tm vừa gấp sch lại ngm nga bỗng nhin gic ngộ th lập tức sau đ
Kinh Kim
Cang đ trở thnh quyển kinh căn bản nhất của Phật gio đời Trần. Điều đ
ta c thể
dễ dng nhận thấy khi đọc Cư Trần Lạc đạo ph của vua Trần Nhn Tng hay
bi
ph vịnh cha Hoa Yn của Thiền sư Huyền Quang.
Ton Nhật ở thời Ty Sơn cũng thế, khng những đ viết ring một tc
phẩm c tn
l Bt nh ngộ đạo văn, trong đ c những cu v cng honh trng, honh
trng
chẳng khc g tiếng sấm chẻ:
Ci Nam đ mở rộng cửa lầu
Đn tr tuệ ho quang chi chi
Thuyền Bt nh nghnh ngang bốn ci
Nước ma ha rữa sạch ba lng
Hoặc l:
Cửa Bt nh vo ra thong thả
Trống đại hng đ thu m
Chung Linh sơn hy tỏa tm vin
Ngọc mu ni h dễ khinh tuyền
Kinh Bạch tự dm đm vọng tiết
Những cu sau đy trong Tham Thiền vn của Ton Nhật:
Bạn thuyền Bt nh hm mai
Xem hoa lập cảnh dồi mi Kim Cang
Hay:
Một nồi hương huệ đất xng
Ba biến kinh lng thường niệm hm mai
Khiến ta nhớ đến những cu:
Khuya sớm sng chong đn Bt nh
Hm mai rửa sạch nước ma ha
của Huyền Quang Thiền sư ở đời Trần ở thế kỷ 13.
V cũng như vua Trần Thi Tng nhờ đọc Kinh Kim Cang m gic ngộ th Ton
Nhật
chắc cũng như vậy, nghĩa l cũng nhờ thấy lẽ sắc khng của Bt nh m ngộ
đạo,
như Ton Nhật đ ghi lại trong một bi thơ bằng chữ Hn:
Trần duyn đoạn hậu tự tiu dung
Thanh tịnh phương tư sắc thị khng
Phật tức tm hề tm tức Phật
Thanh Son chỉ tại bạch vn trung
(Trung nin xuất gia)
L Mạnh Tht dịch:
Duyn đời đ dứt tự thong dong
Thanh tịnh phương tri sắc thị khng
Phật tức lng chừ lng tức Phật
Ngay trong my trắng ni xanh rờn
V mặc d chỉ l viết lại hnh trang của Lục Tổ Huệ Năng, nhưng chng
ta phải hiểu
rằng Ton Nhật cũng xem Kinh Kim Cang l quyển kinh căn bản nhất để đưa
con
người đến chn trời gic ngộ như vua Trần Thi Tng của đời Trần:
By giờ cảm động thiết tnh
Nghe cu sở tục tm truyền Kim Cang
Trực liền ngộ đặng linh quang
Diệu xưa Phật Tổ thấy ton chn như
Quan điểm ấy cng r rng hơn nữa khi trong Bt Nh Ngộ Đạo văn Ton
Nhật lặp
lại:
Giảng cho thng tứ c Kim Cang
Th mới thấy bổn lai diện mục
Dưới ảnh hưởng của những nh tr thức lỗi lạc của thời đại như Ng Thời
Nhiệm v
Ton Nhật th r rng Kinh Kim Cang cũng trở thnh quyển kinh được triều
đnh Ty
Sơn xem như quyển kinh quan trọng nhằm vạch ra một hướng đi tinh thần cho
dn
tộc Việt, điều đ được thể hiện qua việc Ngọc Hn cng cha tức Bắc cung
Hong
hậu của triều đnh Ty Sơn chủ tr việc thu Kinh Kim Cang Bt Nh ln
gấm. Hiện
cha Trc Lm ở Huế vẫn cn giữ gn tấm thu bằng gấm ny. Bởi vậy, xin
được lập
lại cu hỏi rất c nghĩa của tc giả Ton Nhật Quang Đi Thi độ tn
gio của triều
đnh Quang Trung như thế no, th Ngọc Hn cng cha mới thu Kinh Kim
Cang Bt
Nh ln gấm chứ!
Hỏi tức l đ trả lời vậy.
Nhưng ảnh hưởng mnh liệt nhất tinh thần Phật gio đời Trần đối với
Ton Nhật vẫn
l trong Hứa sử truyện vn. Ti c cảm tưởng l khi viết tc phẩm ny mục
đch của
Ton Nhật khng g khc hơn l nhằm giải thch hai tc phẩm quan trọng
nhất của đời
Trần l bi tựa Thiền Tng chỉ Nam của vua Trần Thi Tng v Cư Trần Lạc
Đạo ph
của vua Trần Nhn Tng.
Trong Thiền Tng chỉ nam, vua Trần Thi Tng đ ni ln nỗi ray rứt
cũng như đau
khổ v dằn vặt của mnh đối với cng danh sự nghiệp: Lại nghĩ sự nghiệp
đế vương
thời trước, hưng phế bất thường, cho nn tm đến ni ny chỉ muốn cầu lm
Phật, chứ
khng cầu g khc.
Nhưng Quốc sư Trc Lm đ khuyn vua Trần Thi Tng rằng:
Trong ni vốn khng c Phật, Phật ở ngay trong lng. Lặng lẽ m hiểu, đ
chnh l
chn Phật. Nay nếu bệ hạ gic ngộ tm đ th lập tức thnh Phật, khng
nhọc tm bn
ngoi
Nhưng sau cu ni ấy, Quốc sư Trc Lm thấy nh vua vẫn phn vn lưỡng
lự chưa
chịu xuống ni, nn Quốc sư mới ni tiếp:
Phm đ l bậc nhn qun th phải lấy muốn của thin hạ lm muốn của
mnh, lấy
tấm lng của thin hạ lm tấm lng của mnh. Nay thin hạ muốn đn bệ hạ
về th bệ
hạ khng về sao được! Duy chỉ c việc nghin cứu nội điển th xin bệ hạ
đừng cht
xao lng m thi.
Chnh v đời Trần đ lấy muốn của thin hạ lm muốn của mnh, lấy
tấm lng của
thin hạ lm tấm lng của mnh một cch triệt để, nn khng c g lạ
trong hơn một
thế kỷ tồn tại, vương triều Trần khng chỉ một lần m cả đến ba lần đnh
bại đội qun
xm lược hung hn m thời bấy giờ chỉ mới nghe nhắc đến Tartar (Tht Đt)
thi th
đ ln cơn sốt rồi. Nhưng khng chỉ mạnh về mặt qun sự, m trn mặt văn
học tư
tưởng cũng thế, nghĩa l cũng lấy tấm lng của thin hạ lm tấm lng của
mnh nn
nền văn học đời Trần đ pht triển rực rỡ. D bị kẻ ngoại xm cũng như
thin tai địch
họa ph hủy rất nhiều, nhưng những g cn lại của nền văn học ấy vẫn tiếp
tục nui
dưỡng lng tự ho dn tộc cho đến ngy hm nay. Bởi thế ta chẳng lấy g
lm lạ, vo
những năm cuối cng của thế kỷ 20, một phần của nhn loại đ nhận ra rằng,
những
thức hệ ngoại lai m bấy lu nay họ tn thờ thực sự chẳng gip ch g cho
sự pht
triển của quốc gia họ cả, m cn gy ra khng biết bao l thống khổ v hận
th cho
dn tộc họ nữa.
Bởi vậy, hơn bao giờ hết, ci hnh bng c đơn heo ht của một lo
Tăng sống trn
ni hoang, xương gầy mặt v, ăn rau đắng, nếm hạt dẻ, chơi cảnh rừng, uống
nước
suối, lng như my nổi trn ni Yn tử cch đy bảy thế kỷ căn dặn nh
lnh đạo
của dn tộc Việt phải lấy muốn của thin hạ lm muốn của mnh, lấy
tấm lng của
thin hạ lm tấm lng của mnh đ trở thnh một bức thng điệp khẩn thiết
hơn bao
giờ hết đối với dn tộc Việt Nam trong lc ny.
Trong Hứa sử truyện vn của thiền sư Ton Nhật của thời Ty Sơn, Đồng
Vn, một vị
quan bch chiến bch thắng đang trấn giữ miền bin giới của nước Trung
Quốc Việt
Vương cng m ảnh nỗi sầu mun thuở ấy của kiếp người như Trần Thi Tng
của
đời Trần:
Đời tham cả lộc cao ngi
V như l vược hớp mồi mắc cu
Tuổi xanh khiến sớm bạc đầu
Pht đau lại chết khổ sầu m thi
V Đồng Vn cũng đ vứt bỏ cả lộc cao ngi bỏ vợ con ln cha xuất gia
với thiền sư
Mật Hạnh.
Khi nghe tin Đồng Vn đ xuất gia, th Triệu Tn bn nước lng giềng
liền ro riết
chuẩn bị xm lăng:
Lệnh truyền tướng t cc nha
Chỉnh tu binh m can qua sẵn sng
Triệu Tn mới cất binh sang
Ngựa ăn chật nội qun hn dy non.
Chỉ mới c giao tranh trận đầu qun của nước Trung Quốc Việt vương đ thảm
bại v:
Triệu Tn ti mạnh tột đời
Tướng việt sa thế, r rời chạy đi
Triệu Tn sch m huy kỳ
Trống su reo đuổi ầm ỷ vang rn
Qun việt r chạy rần rần
Triệu Tn chm tướng tưng bừng Đng Ty
Khng cn cch no hơn, vua Việt vương đnh phải cng cc quan xa gi
đến cha
để xin Đỗng Vn cứu nguy x tắc.
Cũng như Trần Thi Độ đ cng với cc quan trong triều ln tận ni Yn
Tử để xin
vua Trần Thi Tng hy v x tắc m xuống ni.
Trong Thiền Tng chữ Nam, Trần Thi Độ đ thưa với Trần Thi Tng:
Vả Thi Tổ bỏ thần m đi, nắm đất trn mồ chưa kh, lời trăn trối bn tai
cn đ. Thế
m bệ hạ lại lnh gt ẩn cư nơi ni rừng, để theo đuổi ci ch ring của
mnh. Như thần
nghĩ, bệ hạ tnh kế tự tu đ vậy, nhưng cn quốc gia x tắc th sao?
Trong Hứa sử truyện vn, vua Việt Vương cũng đ ni với quan Đỗng Vn
những lời
tương tự:
Vả ng dũng lược n oai
Triệu Tn ni đ sợ ti xưa nay
Xin ng phương tiện ra tay
Chống đn x tắc khỏi ngy khuynh nguy
Đạo l cứu độ từ bi
Nước ngho dn chết bỏ đi nỡ no
Ka lời tục ngữ thường rao
Liền giết một mo, cứu chuột mun con
Xin ng đoi tưởng cựu n
Ra tay gip nước cứu dn phen ny
Sau đ thin sư Mật Hạnh, thầy của Đỗng Vn đ phải giải thch mọi thắc
mắc trong
lng của Đỗng Vn, v Đỗng Vn đang phn vn lưỡng lự l c nn trnh xa
x hội
loạn lạc đau khổ để đi tm hạnh phc ring cho mnh khng?
Mật Hạnh lời mới tỏ phn
Chng ta v tưởng bốn n tu hnh
Gặp cơn c Đảng tung honh
Dễ ta đu kh nỡ đnh ngồi coi
Huống thm nghĩa cũ vua ti
Mnh vng hiểm trở xa xi tm vời
Phải chi vũ lực tột đời
Cũng ra gip người thầy chẳng tiếc cng
Vả chăng quyền xảo thch trung
Bồ Tt đa hạnh thiệt trong đạo ny
Lm sao m đặng lợi người
Gip nước cứu đời cũng một việc tu.
Như vậy l thiền sư Mật Hạnh đ bảo cho Đỗng Vn, đệ tử của mnh biết rằng
gip
dn cứu nước mới mới l việc quan trọng nhất của người xuất gia.
Một sự thắc mắc nữa cũng khng km phần quan trọng l giới st. Nếu một
người đ
xuất gia m tham dự chiến tranh th c phạm giới st khng?
Hy cn ngại việc st sanh
Thi lại quỳ gối thưa trnh bổn sư
Thầy phn ti đ hiệp cơ
Nhưng m cn ngại, hy chưa yn tĩnh
Vả như một sự st sinh
Đầu trong cc giới, chẳng khinh thiệt th
Dầu kẽ tại gia xuất gia
Chẳng dm tri phạm ấy l php chung
Nhẫn loi nhỏ nht cn trng
Cũng chẳng nn giết huống đồng loại ta
Nay ti chấn động can qua
Sao cho khỏi hại người ta by giờ
Thiền sư Mật Hạnh đp rằng:
Giả như cố bất nhn
Bung lng st hại tội dường hằng sa
Vốn nay v sự nước nh
Cứu dn gip nước, sao m chẳng nn
Luật rằng phương tiện xảo quyền
Ty cơ lội vật, php trần xưa nay
Đỗ Trường Ấn phong hai thầy
Ở trong qun trận ngy ngy ngăn binh
Qui Tn giết rắn lm lnh
Việc xưa tỏ chp đnh rằng đến nay
Sau khi dẫn chứng truyện xưa, thiền sư Mật Hạnh ni cho Đỗng Vn biết
chuyện của
ngy hm nay, nghĩa l ngy hm nay mun dn cũng đang rn siết dưới sự
bạo tn
của kẻ xm lược:
Vả như luận sự giặc ny
Triệu Tn một đứa, tai đầy mun dn
Bung lng tham ngược bất nhn
Vạn thặng căm hờn, thin hạ nghiến răng
Lng trời ắt cũng chẳng ưng
Để vầy quen n lung lăng quấy th
Kinh rằng đại lực đại bi
Hay ng tới đ mặc khi my dng
Trước ra văn đức vỗ lng
Bằng n cứng cổ sẽ dng gia binh
ng hy cứ việc thi hnh
Dim vương bắt tội thầy đnh chịu thay
Vậy l kể từ khi l tưởng Bồ tt được Lục Độ Tập kinh cng bố: Bồ Tt
thấy dn ku
ca, do vậy gạt lệ, xng vo chnh trị h khắc để cứu dn khỏi nạn lầm
than th tuyn
ngn ấy đến nửa cuối thế kỷ 18 lại được những con người đang nui dưỡng l
tưởng
Bồ tt khẳng định mạnh mẽ hơn nữa:
Trước ra văn đức vỗ lng
Bằng n cứng cổ sẽ dng gia binh
ng hy cứ việc thi hnh
Dim vương bắt tội thầy đnh chịu thay
L do c lẽ cũng khng c g kh hiểu cho lắm. Nếu như những thế kỷ trước
đ, dn
tộc ta chỉ c một kẻ th ở Phương Bắc, th đến nữa cuối thế kỷ 18, phong
tro Ty
Sơn khng những chỉ đối đầu với ba tập đon phong kiến bn trong (Trịnh L
Nguyễn) m cn phải đối đầu với Phương Bắc v Xim La ở Phương Nam v đặc
biệt
một kẻ th mới cn nguy hiểm hơn, đ l việc cc tu chiến của cc nước
Ty phương
đang cấu kết với tay sai trong nước ngy đm lng vng ngoi bờ biển của
pha Nam
tổ quốc với mục đch l đưa tn gio mới vo nhằm thay thế những tn gio
đ được
dn tộc tiếp thu từ những ngy đầu mới lập quốc. Trong Bt Nh Ngộ đạo văn
Ton
Nhật đ đau lng thốt ln:
Sao chẳng nhớ cu chn giả
M học thi Ty Phương!
V cũng như Trần Thi Tng nghe lời khuyn của Quốc sư Trc Lm m xuống
ni,
th Đổng vn trong Hứa sử truyện vn của Ton Nhật ở thời Ty Sơn cũng
phải rời
cha Huệ Lm, để ra tay cứu vớt mun dn đang sống trong cảnh lầm than.
Ton
Nhật tả lại cảnh Đỗng vn xuống ni xuất qun như sau:
Một mai trận thượng cất ra
Giặc ấy chẳng đnh n m cũng tan
V dầu n c chống ngang
Nghe ta đng lịnh, giao thương hy dng
Dụ thi mới bt tin phương
Tả chi, Hữu dực, Trung qun n cần
Hậu tiếp đốc binh Đỗng vn
Bt rồi rắt rắt rần rần ko qua
Chư qun đều niệm Di Đ
Trước sau nổi tiếng nghe ha vang rn
Khắp trong quận huyện quan dn
Dựng cờ ứng nghĩa rần rần ko ra
Con thề đnh trả th cha
Em nguyện liều thc, bo ha th anh
Vậy l d muốn của Trần Thi Tng l ở lại với ni Yn tử để tm sự giải
thot ring
cho mnh, nhưng cuối cng theo lời dạy của Quốc sư Trc Lm Phm đ l
bậc nhn
qun tất phải lấy muốn của thin hạ lm muốn của mnh, m muốn của
thin hạ
l phải xuống ni, nn Trần Thi Tng phải xuống ni trở lại v Đỗng vn
trong Hứa
sử truyện vn của Ton Nhật cũng thế, nghĩa l cũng muốn ở lại Cha để tm
sự an
lạc ring cho mnh, nhưng theo lời khuyn của Thiền sư Mật Hạnh cũng phải
rời Cha
để cứu mun dn ra khỏi chốn n lệ lầm than.
Trong Tống vương truyện, sau khi Thi tử nước Tống lấy con gi của một
người chi
lưới ngho khổ, th nh vua nhượng ngi cho con để hồi đầu Phật tử, thế
pht tu
hnh, cn trong Hứa sử truyện vn, vị quan Đỗng vn sau khi dẹp xong qun
ngoại
xm th vua nước ny l Việt vương cũng đ tuổi cao tỉnh ngộ, hỏi d Phật
gia để
rồi cuối cng:
Cởi quăng ngọc to kim gi
Cao xương huệ kiếm, diệt t v minh
()
Đều hay lnh chốn trần lao
Vượt ra ma vng, thẳng vo Phật mn
Dường như v hnh bng của cc vua Trần ở thế kỷ 13 nhất l Trần Thi Tng
v Trần
Nhn Tng, những ng vua c thể ni l minh triết nhất trong lịch sử dn
tộc ta, sau
khi đnh bại ngoại xm, đất nước thi bnh thịnh trị th cũng đều nhường
ngi lại cho
con m xuất gia học đạo. Phải chăng những ng vua đ vẫn lun lun l hnh
bng
l tưởng m Ton Nhật muốn triều đại Ty Sơn cũng phải c những ng vua
như
đời Trần oanh liệt?
Khng biết khởi đầu từ bao giờ nhưng c phần chắc l kể từ khi Thi tử
Tất Đạt Đa từ
bỏ ngi vua vo rừng su để tm đạo, kể từ khi Lo Tử cỡi tru đi biệt tăm
sau khi đ
giao bản thảo đạo đức kinh cho Don Hỷ th c lẽ vấn đề mới được đặt ra
l: Nếu
muốn thnh tựu con đường sống đạo th nn vo rừng ở ẩn hay l cứ ở lại
chốn phồn
hoa đ hội m vẫn lm chủ được tm mnh khng hề bị đời sống phồn hoa cm
dỗ. Đ
chnh l vấn đề được hai tc giả lớn của đời Trần đề cập. Từ cu ni lừng
danh của vị
quốc sư Trc Lm trn ni Yn Tử ở thế kỷ 13: trong ni vốn khng c
Phật, Phật ở
ngay trong lng đến hai cu mở đầu bi ph Cư Trần lạc đạo của Trần Nhn
Tng:
Mnh ngồi thnh thị
Nết dụng Sơn Lm
Trong Hứa Sử truyện vn của thiền sư Ton Nhật, Hứa Sử cng đặt vấn đề
ấy với
Việt Vương:
Thị thnh lại với lm tuyền
Tu hnh cng đức hai đường đu hơn?
Việt Vương trả lời:
Nay thầy lời đ hỏi ta
Lấy trong sự l phn ra cho tường
Lm truyền thanh cảnh nu nương
Đặng phần tịch mịch, khỏi đường huyn hoa
Song thời cũng ở lng ta
Lng ta thanh tĩnh, cảnh ho cng thanh
Dẫu m ở chốn non xanh
Lng cn loạn động thị thnh khc chi
Thị thnh xao xuyến nhiều bề
Lng ta thanh tĩnh khc g Sơn Lm
Tu hnh yếu vốn tại tm
Nếu nệ nơi cảnh, mắc lầm ho hai
Ta phải hiểu thế no về quan điểm trn của Ton Nhật, c phải Ton Nhật
muốn ni
như thế ny chăng:
Điều quan trọng khng phải l sống ở thị thnh hay ni rừng. Vấn đề l
lm sao gic
ngộ được sự thật. Đấy mấu chốt của vấn đề. Ta đ thấy sự gic ngộ c thể
tm thấy ở
bất cứ nơi đu, đặc biệt l chnh giữa cuộc đời trần tục đầy những hệ lụy
thế sự.
Chnh trong cuộc sống trần tục ấy m gic ngộ được th gi trị cn nng
ln gấp bội.
Cn một vấn đề quan trọng nữa m ti nghĩ rằng c lẽ Ton Nhật cũng muốn
triều đại
Ty Sơn phải tiếp tục con đường m đời Trần đ vạch ra, đ l vấn đề sử
dụng chữ
Quốc m. Khi đọc những bi thơ chữ Hn của Ton Nhật, tc giả Ton Nhật
Quang
Đi nhận xt rằng:
qua những bai thơ chữ Hn, chứng tỏ khả năng sử dụng chữ Hn văn rất
điu
luyện v thnh thục của Ton Nhật. Điều hy cn cho ta thấy l việc phần
lớn tc
phẩm Ton Nhật viết bằng tiếng quốc m khng c nghĩa l ng khng thể sử
dụng
chữ Hn. Ngược lại, d l một người rất giỏi chữ Hn nhưng ng đ tm về
với tiếng
ni của dn tộc để chuyển tải những g mnh muốn ni với nhn dn. muốn
xy
dựng một nền văn học quốc m, khng chỉ dn tộc m cn cho Phật gio, đ
đặt Ton
Nhật khng những vo những nh thơ lớn của dn tộc m cn của Phật gio.
Thứ
đến, với những bi thơ đ nền văn học quốc m của dn tộc ta vo cuối thế
kỷ 18 v
đầu thế kỷ 19 chứng tỏ sự đa dạng v phong ph với những tnh tự v nhận
thức của
những con người khc nhau (Sdd tập II, trang 265.).
Tiếng quốc m của dn tộc ta chắc chắn đ c từ rất lu, c thể từ cc
triều đại vua
Hng trước Ty lịch, nhưng chỉ đến thời vua Trần Nhn Tng, với hai tc
phẩm của
mnh l Cư Trần lạc đạo ph v đắc th lm truyền thnh đạo ca cng Vịnh
Vn Yn
tự ph của thiền sư Huyền Quang (1234-1334) v gio tử ph của Mạc Đĩnh
Chi
(1284-1361), th nền văn học tiếng việt mới c những tc phẩm đầu tin
hon chỉnh
của mnh cn được bảo tồn đến ngy nay. Vị tr văn học của vua Trần Nhn
Tng do
thế đối với dn tộc ta rất l vĩ đại(Trần Nhn Tng ton tập Sdd trang
269-270.).
Cố học giả Trần Trọng Kim trong phần viết về việc học hnh v thi cử đời
Ty Sơn c
ni rằng: việc cai trị thường hay dng chữ Nm. Nh vua muốn ni rằng
người Việt
Nam th phải dng tiếng Việt Nam, để gy thnh ci tinh thần của nước nh,
v ci
văn chương đặc biệt, khng phải đi mượn tiếng mượn chữ của nước Tu. Vậy
nn khi
thi cử thường bắt quan ra bi chữ Nm v bắt sĩ tử lm bi bằng chữ Nm.
Thời by
giờ nhiều người khng hiểu r ci nghĩa su xa ấy, cho l nh Ty Sơn
dng h
chnh m ức hiếp nhn dn (Trần Trọng Kim Sdd trang 375.).
Bằng chứng hng hồn về lng tự ho đối với tiếng ni của dn tộc mnh,
đ l việc
vua Quang Trung đ dng dạc đọc bản tuyn ngn độc lập bằng tiếng Nm
trước ba
qun trước khi xuất qun đi đnh đuổi qun Tu:
Đnh cho để di tc
Đnh cho để răng đen
Đnh cho n chch lun bất phản
Đnh cho n phiến gip bất hon
Đnh cho n sử tư Nam Quốc anh hng chi hữu chủ
Nếu quả đng Ton Nhật l tướng của Ty Sơn hay quan trọng hơn nữa l
mưu thần
của vua như hai tc giả Nguyễn Đnh Chc v Huệ Nguyễn đ xc nhận trong
tc
phẩm bin khảo Lịch sử Phật gio v cc cha ở Phc Yn th chắc hẳn việc
sử dụng
tiếng Nm như tiếng chnh thức trong hnh chnh cng như trong thi cử của
triều
đnh Ty Sơn Quang Trung th tất nhin phải c sự đng gp cng sức lớn
lao của
Ton Nhật, vị thiền sư đ hết lng yu thương tiếng ni của dn tộc mnh,
v mặc d
rất giỏi chữ Hn nhưng đ để lại gần hai mươi tc phẩm bằng chữ Nm.
V khng cn hồ nghi g nữa, một người biết trn trọng tiếng Nm m cn
l một
Thiền sư của Phật gio Việt Nam th qua hai tc phẩm Cư Trần lạc đạo ph
v Đắc th
lm truyền thnh đạo ca, Ton Nhật đ thức một cch triệt để rằng Tiếng
Việt như
một ngn ngữ c thể pht biểu những tư tưởng trừu tượng tương đối kh nắm
bắt một
cch kho lo v dễ hiểu. Từ đ Tiếng Việt đ từ thnh một ngn ngữ đủ khả
năng
chuyển tải bất cứ nội dung tư tưởng khc nhau no v c vẻ đẹp ring của
n (Trần
Nhn Tng ton tập, Sdd trang 274.).
Lời kết:
Chng ta, những người Phật tử Việt Nam nn nhn sự hưng thịnh cũng như suy
vong
như thế no của lịch sử Phật gio Việt Nam qua cc thời đại? V c phải
chỉ c cc
triều đại Đinh L v nhất l L Trần th mới đựơc xem l thời kỳ hưng
thịnh nhất của
Phật gio Việt Nam chăng ?
Chẳng hạn, cc triều đại Đinh, L, L, Trần thay đổi khc nhau, hết
triều đại ny tới
triều đại kia, nhưng Phật gio vẫn vươn ln pht triển v c những đng
gp to lớn
cho dn tộc. Điều ny chứng tỏ bn ngoi sự thay đổi của cc triều đại,
dn tộc vẫn
pht triển theo tnh quy luật của n, bất chấp ch chủ quan của một
triều đại. C vẻ
như dn tộc c một sức sống của ring n, v Phật gio biết bm vo sức
sống ny
của dn tộc để cng dn tộc đi ln. Cc triều đại thay đổi v chng đ
khng đp ứng
được yu cầu của sức sống dn tộc, nn đ bị loại bỏ (Lịch sử Phật gio
Việt Nam
tập II của L Mạnh Tht - NXB TP Hồ Ch Minh 2001, lời tựa.).
Giả như khng c trường hợp của Ton Nhật th quan điểm trn về lịch sử
Phật gio
Việt Nam của gio sư L Mạnh Tht kh c thể chấp nhận đối với nhiều
người, v ai
cũng c thi quen nghĩ rằng, chỉ c Đinh, L v đặc biệt l L, Trần mới
l thời cực
thịnh của Phật gio Việt Nam, cn sau đ th Phật gio suy tn v Nho gio
đ thay
thế chỗ đứng của Phật gio. Nhưng v c trường hợp của thiền sư Ton Nhật
nn
theo ti quan điểm lịch sử ấy hon ton chnh xc, nghĩa l Ton Nhật đ
tham gia
cuộc Cch mạng của Ty Sơn, v theo quan điểm của Ton Nhật cuộc Cch mạng
ấy
ph hợp với lng dn nhưng khi cuộc Cch mạng Ty Sơn tan r, triều đại
khc ln
thay, Ton Nhật nhận thấy triều đại ấy khng đp ứng được yu cầu của sức
sống
dn tộc th vị thiền sư của chng ta chỉ cn biết bn vo sức sống của
dn tộc.
Kết quả l, ngy nay chng ta c được gần 20 tc phẩm bằng tiếng quốc m,
m theo
gio sư L Mạnh Tht th: Kho tng văn học cổ điển Việt Nam chưa bao giờ
c một
nh thơ nh văn để lại một lượng lớn tc phẩm bằng tiếng quốc m như Ton
Nhật.
Chỉ với số lượng đ thi, n đ biển thị khng những sức sống dạt do của
dn tộc
đang ln thể hiện qua tiếng ni nhn dn(Sdd tập I, trang 11-12.).
Nhưng theo ti, điều quan trọng nhất trong quan điểm đ l, chng ta
những người
Phật gio Việt nam hiện tại cũng như mai sau nn bm vo sức sống của dn
tộc để
đi ln thay v chỉ biết bm vo cc triều đại hay cc Nh nước, v cc
triều đại sẽ
phải thay đổi khi khng cn đp ứng được yu cầu của sức sống dn tộc.
Vậy l, chỉ c bm vo sức sống của dn tộc th Phật gio Việt nam mới
c thể tồn
tại mi trong lng của dn tộc m thi.
C phải đ l bi học lịch sử lớn lao m thiền sư Ton Nhật ở nửa cuối
thế kỷ 18 đ để
lại cho chng ta, những người Phật gio Việt Nam hm nay chăng?
Nha Trang, ma Vu Lan 2550
T.P.A.
|