(tiếp theo ts số 16)
(tiếp
theo ts số 18)
Nhưng Ton
Nhật l ai?
Thật l kh khăn khi chng ta muốn đi tm lại dấu vết của vị Thiền sư đ
bị qun lng gần hai thế kỷ ny.
C lẽ, Ton Nhật cũng giống như bao nhiu người khc trn cuộc đời ny,
nghĩa l cũng đ đến trn mặt đất hoang vu ny rồi lặng lẽ ra đi như bao
nhiu tỷ người khc. Nhưng Ton Nhật th khc chng ta ở chỗ, đ đi rồi,
nhưng ni theo hai cu thơ của Nguyễn Du:
Cnh hồng bay bổng tuyệt vời
Đ mn con mắt phương trời đăm đăm.
Tc giả L Mạnh Tht trong lời giới thiệu về cuộc đời v sự nghiệp của
Ton Nhật cũng phải cng nhận sự kh khăn ny:
Ti liệu cho ta nghin cứu về cuộc đời Ton Nhật hiện nay tương đối hiếm.
Chng gồm: thứ nhất l long vị của Ton Nhật thờ tại Cha Phổ Quang, thn
Phổ Trạch, x Phước Thuận huyện Tuy Phước tỉnh Bnh Định. Đy l một long
vị tương đối cổ, khng những ghi php danh php hiệu của Ton Nhật, m cn
ghi lại cho ta cả năm thng, ngy sinh cũng như ngy mất của Ton Nhật. N
thuộc ti liệu qu gip chng ta c được hiệu nin đại Ton Nhật một cch
chnh xc(Ton Nhật Quang Đi ton tập của L Mạnh Tht tập 1, NXB Tp HCM
2005.)
Cứ theo long vị cn thờ ở Cha Phổ Quang tỉnh Bnh Định th ta chỉ biết
được Ton Nhật sinh vo giờ Tỵ ngy 28 thng 10 năm Đinh Sửu (1757) v
thị tịch vo giờ Dần ngy 6 thng 4 năm Gip Ngọ (1834) thọ 78 tuổi.
Chỉ c vậy, cn qu qun của ng ở đu th gần như ta khng được biết g
hết Nhưng tc giả Ton Nhật Quang Đi Ton tập cho rằng: Căn cứ vo văn
ngn dng trong Hứa Sử truyện vn, ta thấy xuất hiện một số ngữ hiện cn
dng rất phổ biến tại vng Trị Thin ngy nay. Chẳng hạn ngữ mần ri(Sđd
tập 1, tr.22) :
Sơn lm luận sự tu tr
Dường như kh m dễ g mần ri.
hoặc:
Điệu An mới ni mần ri
Thanh Sơn mỹ hiện trụ tr nơi đy.
.
Hứa Sử, một trong những nhn vật chnh của Hứa Sử truyện vn cũng xc
nhận rằng mnh l người ở chốn kinh thnh:
Rằng ti ở chốn kinh thnh
Tn l Hứa Sử phận mnh mồ ci.
Nhưng kinh thnh trong hai cu thơ ni ở đy l kinh thnh no?
.Ở Đng Trong thời Ton Nhật th kinh thnh đy, tất nhin l kinh thnh
Ph Xun được cha Nguyễn Phc Khot dời từ Kim Long xuống từ những năm
1738(Sđd tập 1, tr.25) .
Đ l Ton Nhật tm thấy trong long vị v Ton Nhật suy đon từ tc phẩm
Hứa Sử truyện vn. Cn chnh Ton Nhật th sao? Ton Nhật c ni g về
chnh mnh khng? Trong tc phẩm Tam gio nguyn lưu k, đ cho ta thấy sự
thng thi v uyn bc của Ton Nhật về ba Tn gio chnh của dn tộc ta
l Phật gio, Khổng gio v Lo gio. Trong đoạn cuối của tc phẩm, Ton
Nhật đ cho biết v sao ng đ trở về với Phật gio:
Ta xưa cũng dự Nho gia
Mười hai tuổi học đến ba mươi ry
Hỏi thăm năm bảy ng thầy
Khng ai tỏ đặng tnh trời huyền mn
Tng nguyn uẩn o thnh nhn
Cũng l Chn Lạc hạo nhin đề truyền
Sau ta đầu học php Thiền
Thuở ba mươi tuổi vậy liền xuất gia
Duyn lnh may gặp thầy ta
Người thương chỉ thị thot nh tử sinh
Thiền mn khăn khắn tu hnh
Bốn mươi ba tuổi tnh lnh cht thng.
Soạn lm một kệ mừng lng
Để cho người thế cũng đồng xem coi.
Vậy l đến ba mươi tuổi th Ton Nhật mới xuất gia. Trong Xuất gia vn,
Ton Nhật cho biết sở dĩ ng xuất gia trễ như vậy l v phải phụng dưỡng
cha mẹ gi: Xưa cn n nặng c lao
Vậy nn nấn n ra vo dưỡng nui L chỉ sau khi cha mẹ đ khuất ni rồi, th Ton Nhật mới thực hiện ch
nguyện xuất gia học đạo m c lẽ ng đ m ấp từ lu. Thảo thn nay đ khẳm rồi.
Tay giơ gươm tuệ chn lui thị thnh. Dường như trong cc tc phẩm văn học cổ điển của Phật gio Việt Nam chưa
c cu no diễn tả được ch nguyện xuất gia học đạo một cch honh trng
như cu của Ton Nhật:
Tay giơ gươm tuệ chn lui thị thnh Cu ấy, theo ti c thể so snh được với cu nổi tiếng trong Quy Sơn Cảnh
sch: Pht tc siu phương m HT Tr Quang đ chuyển sang Việt ngữ rất mực
ti hoa l: Người xuất gia cất bước l muốn vượt đến phương trời cao rộng.
Nhưng trong Tam gio Nguyn lưu k, ta cn nghe ra được tiếng thở di no
ruột của Ton Nhật trước khi ng đi xuất gia: Bởi chưng căn trước vụng tu
Thn sau nn chịu trượng phu lỡ th
Cho hay thế sự khng v
Hiền ngu lộn lạo bạc ch khn phn Thế c nghĩa l ngoi việc phụng dưỡng cha mẹ gi ra, Ton Nhật chắc đ
từng đi theo tiếng gọi m ta c thể đon chắc rằng, bất cứ một người trẻ
tuổi c ch, c l tưởng cũng đều ấp ủ trong lng. Đ l l tưởng muốn
dời non lấp biển, muốn vượt ln khỏi cuộc đời tầm thường v nhm chn ny,
như hai cu thơ bằng chữ Hn sau đy của Ton Nhật: Bnh sinh dưỡng tựu xung tiu ch
Trc nhuyễn tng phong cnh bất di
Bnh sinh nui ch xng trời thẳm
Trc yến tng lay chẳng biến dời Trong bi ph c nhan đề l thơ B Vi, Ton Nhật cho biết, lc ba mươi
tuổi nghĩa l lc chưa xuất gia ng đ từng ở nơi doanh liễu: Thuở chưa xuất gia
Lng vốn đ tin knh.
Nay nguyền học đạo
Tinh h dễ đơn sai.
Ring tưởng sự đời.
Đem thn huyễn luống trau sắc huyễn
E theo lưới nghiệp
Sa biển m ắt nhuốm lng m
Nn tuốt dp lnh xa, khỏi nơi doanh liễu
Dốc liều mnh tm tới, vo chốn Thiền mn. Cứ theo lời ch thch của tc giả Ton Nhật Quang Đi: Tướng Chu Phu
đời Tần đng bản doanh nơi Tế liễu, văn ngn thường dng chữ doanh liễu để
chỉ doanh trại của cc tướng lnh.
Vậy ta c thể suy đon trượng phu lỡ th m Ton Nhật đ tm sự trong
Tam gio nguyn lưu k, c nghĩa l ng đ từng l một tướng lnh, để thực
hiện ước mơ nui ch xng trời thẳm của tuổi trẻ mnh vậy. Nhưng Ton
Nhật đ từng l một vị tướng chỉ huy cho triều đại no? Đ l việc ta sẽ
bn đến sau ny.
Cũng theo lời tm sự của Ton Nhật trong Tam gio nguyn lưu k th đến:
Bốn mươi ba tuổi tnh lnh cht thng, thế c nghĩa đến tuổi 43 th Ton
Nhật mới đắc Php. Vậy Ton Nhật đ đắc Php với ai? V ai l vị thầy của
Ton Nhật? V vị thầy của Ton Nhật đ đắc Php nhất định phải l một bậc
đạo sư đầy thng tuệ, nn Ton Nhật mới ni về thầy mnh một cch tuyệt
đối qua 2 cu: Duyn lnh may gặp thầy ta
Người thương chỉ thị thot nh tử sanh Căn cứ từ Quang tự sa mn Php Chuyn Luật Truyền Diệu Nghim Thiền Sư
xuất thế nhn do sự tch ch th Ton Nhật l một trong 28 vị Php
truyền đăng của Php Chuyn Luật Truyền Diệu Nghim. Ni cch khc, ng
l một người đệ tử đắc Php với Php Chuyn Luật Truyền Diệu Nghim, do đ
phải xuất gia với vị thiền sư ny(Sđd tập 1, tr. 18 19.) .
Theo Lược sử Phật gio v cc cha ở Ph Yn của hai tc giả Nguyễn Đnh
Chc v Huệ Nguyễn th: Diệu Nghim sinh qun ở lng cổ Php, Phủ Thăng
Hoa nay l Thăng Bnh tỉnh Quảng Nam () bẩm tnh thng minh, học giỏi.
Năm 15 tuổi ra kinh đ học v năm 18 tuổi (1755) thi đậu t ti (NXB
Thuận Ha 1999).
Biến cố c thể được xem l quan trọng nhất đ lm đảo lộn cuộc đời Diệu
Nghim l: Đến năm Qu Hợi (1743) lc đ 18 tuổi, tổ vừa chiếm được cng
danh tnh cờ xem một đoạn tuồng Tam Kinh Cố Sự, sau đ lại xem Long Hổ Sự
Duyn, bn tỉnh ngộ, biết giu sang l một trường ảo mộng, sao bằng sống ở
ni khe m học đạo, bắt chước những bậc cổ nhn kia. Bn trở về nh, lạy
trnh cha mẹ xin được xuất gia như cc bậc cổ nhn kia vậy(Sđd tập 1, tr.
58).
Sau khi đến cha Phước Lm (Quảng Nam) đầu sư học đạo với Thiền sư Minh
Hải, người đ sng lập ra cha Chc Thnh, Diệu Nghim lại lặn lội từ
Quảng Nam v Bnh Định học với danh sư Liễu Triệt v nghin cứu Đại Tạng
kinh (m theo gio sư L Mạnh Tht th lc đ cha Thập Thp đ c Đại
Tạng kinh do Tổng trấn H Tin lc bấy giờ l Mạc Thin tử đem ra hiến
cng). Tại Bnh Định, ngoi học Phật v đọc Đại Tạng kinh ra, Diệu Nghim cn đến
cha Linh Phong (thường gọi l cha ng Ni). Theo hai tc giả Lược sử
Phật gio v cc Cha Ph Yn, th Diệu Nghim đến cha Linh Phong: Cất
ring một am để tả kinh Php Hoa bằng chữ vng một bộ, Kinh Kim Cang, Hồng
Danh mỗi thứ một quyển, lấy mực tả một bộ kinh Php Hoa, lấy mực viết một
tiểu bổn cộng tất cả l 10 bộ, Tam Thin Kinh 5 bộ. Đm th tọa thiền v
tụng Php Hoa, ngy th tả kinh Hoa Nghim, Php Hoa Kim Cang.
Điều đ chứng tỏ rằng Diệu Nghim học Phật khng phải chỉ để thỏa mn tri
thức của một nh Nho, m học với tất cả kht khao mong uống được ngụm nước
đầu nguồn.
Cha Linh Phong tọa lạc trn đỉnh ni B, một trong những rặng ni di v
hng vĩ nhất của tỉnh Bnh Định. Vị thiền sư khai sng ra cha ny thường
được người dn gọi l ng Ni (Mộc y sơn ng), hnh tung của ng Ni khng
khc g những cụm my trắng trn đỉnh ni cao ny, nghĩa l đ đến rồi lại
ra đi m khng hề để lại dấu vết g hết, nhưng ci hang đ m tương truyền
ng Ni đ ngồi thiền suốt đm ngy th vẫn cn y nguyn ở đ.
Khoảng cuối thập nin 50 v đầu những năm 60 của thế kỷ trước, khi cn l
một ch tiểu ở vng qu ny, mỗi khi c dịp theo thầy đến cha kỵ tổ hoặc
mừng tuổi đầu năm, ti c thấy nhiều bản gỗ khắc kinh chữ Hn để trong một
căn nh được xy ring biệt sau cha.
Năm 1974 thp tng cng gio sư L Mạnh Tht về Bnh Định sưu tập tư liệu
về Phật gio Việt Nam, gio sư tm được bản viết Linh Phong tự k của Đo
Tấn trong tủ sch của cha. Đo Tấn cho biết rằng, cc Tổ sư ở đy đ ch
giải Php Hoa, Hoa Nghim, Kim Cang đến 200 quyển kinh Php Hoa. C thể đ
l ch giải Php Hoa, Hoa Nghim, Kim Cang của Diệu Nghim, trong những
năm Thiền sư đến ở cha ng Ni chăng?
Khi Đo Tấn viết điều ny, khng phải nghe kể lại m chắc chắn Đo Tấn đ
chnh mnh đọc được những bản ch giải ny. V tiểu sử của Đo Tấn cho
biết vo năm 1885, sau khi từ quan rời Ph Xun về lại Bnh Định, Đo Tấn
đ đến ở tại cha Linh Phong gần 2 năm, m dường như Đạo Tấn đ thấy được
cảnh cửa huyền vi của đạo Thiền qua bi thơ sau đy: Vi tiếu lậu thiền cơ
Phong trần khng mn y
Linh Phong tam thập tải
Vị kiến thử tăng quy. Miệng mỉm cười như để lộ vẽ huyền vi trong đạo Thiền. M gi bụi đ bm
đầy o
Cha Linh Phong đ hơn 30 năm qua, vẫn chưa thấy Lo Tăng ny trở về trở
về.
V trn đỉnh ni cao của cha Linh Phong, Diệu Nghim c lẽ cũng đ miệng
mỉm cười như để lộ lẽ huyền vi của Đạo Thiền chăng?
Ta khng thể no xc quyết được, ta chỉ c thể xc quyết l Diệu Nghim
rất say m cảnh ni non của cha Linh Phong. Điều ấy rất dễ nhận ra, nếu
ai đ từng đến viếng cha Từ Quang ở Ph Yn, ngi cha m Diệu Nghim đ
khởi đầu bằng một thảo am rất nhỏ để tiếp tục sự nghiệp ch giải v sng
tc của mnh.
D ni non khng hng vĩ như cha Linh Phong ở Bnh Định, nhưng cảnh tr
cha Từ Quang cũng rất đẹp. Cha toạ lạc trn vng ni Đ Trắng (Bạch
Thạch). Pha Bắc dựa vo dy ni Xun Đi, nhn xuống pha Nam trước cha
l con sng Ci Ngn Sơn.
Ton Nhật sau khi đ xuất gia với Diệu Nghim chắc đ sống ở cha Từ Quang
ny nhiều năm, v c lẽ thỉnh thoảng cũng đ cng với Thầy ra Bnh Định
leo ln đỉnh ni B để viếng thăm lại cha Linh Phong. Những năm cuối thập
nin 50 v đầu những năm 60, lc đất nước chưa ly loạn (sau những năm đ
đến 1975 th khng ln cha được nữa) th đường ln cha đ quả kh khăn
rồi, huống chi vo thời của Diệu Nghim v Ton Nhật, nghĩa l ở nửa cuối
thế kỷ 18.
Ti cứ tưởng tượng hồi đ muốn ln được tận đỉnh ni của cha th hai thầy
tr phải m mẫm vịn từng cnh cy hay vch đ m đi. Bởi vậy, chỉ c những
ai m kht vọng thot nh tử sinh, th mới đủ nghị lực v ch để tm
đến những nơi xa xi v hiểm nguy như vậy.
Trong Hứa Sử truyện vn, Ton Nhật đ nhiều lần ni đến con đường đi ln
đầy kh khăn v nguy hiểm: Cheo leo non nước xa đng
Quyết lng cầu đạo gian nan chẳng từ
V một đoạn khc :
Ch ti muốn tới lm tuyền
Quyết phương tịch cốc liệu đường tử sinh
Thn người như bọt lnh đnh
Nắng khng dời gt, ắt đnh mắc mưa. Khi đọc những cu sau đy cũng trong Hứa Sử truyện vn, ti c cảm tưởng
l Ton Nhật đ ghi lại niềm thanh bnh của nội tm mnh khi sống tại
những ngi cha như Linh Phong v Từ Quang: Ba năm ẩn chốn non xanh
Đi no chẳng quản, rch lnh chi nao
Bốn ma cảnh vắng thanh tao
Chim ku tiếng Php, suối xao my Thiền
Nhiệm mu khuya sớm luận bn
Mặc khi vui ngắm hoa vng trc xanh. Đối với Ton Nhật yu ni non rừng thẳm cũng c nghĩa l yu lun sự từ
bỏ. Cho nn ta chẳng lấy g lm lạ, hễ khi no Ton Nhật nhắc đến những
con người đ can đảm vứt bỏ những lợi danh những hạnh phc mong manh của
cuộc đời để ln đường đi tm con đường tuyệt đối th cy bt của Ton Nhật
lun lun lm ta bồi hồi xc động.
Đy l Nhan Hồi trong Tam Gio Nguyn lưu k: An bần lạc đạo thanh tao
Đẫy cơm bầu nước chẳng nao chẳng ni
Sang giu dong ruỗi mặc ai
Đạo mầu chn tnh hm mai trau dồi.
V Lục Lỗ Huệ Năng trong Lục Tổ Diễn Ca:
Dầm sương di nắng khng sờn
Đi no chẳng quản thiệt hơn chi mng
Phận mnh bần khổ gian nan
C thn c khổ, dặm ngn s chi. Nhưng ni đến từ bỏ, ni đến vứt bỏ để ra đi th dễ, v ai cũng c thể ba
hoa được, nhưng thực hiện được ước mơ đ như Nhan Hồi như Lục Lỗ Huệ Năng
đ thực hiện th vẫn l một điều thin nam vạn nan với những con người vẫn
cn đang m ngủ trong đm di tối tăm trn cuộc đời ny. Ton Nhật thức
được điều ny, nn trong hai cu thơ cuối trong Thiền Cơ Yếu ngữ vn, Ton
Nhật đ thống thiết ku gọi: C bi c lực c hng
Mới đủ sức dng vượt biển tro non Nhưng mặc d Diệu Nghim cũng như học tr của mnh l Ton Nhật đ Biết
giu sang l một trường ảo mộng v đ quyết định bắt chước những bậc cổ
nhn kia rồi quyết định từ bỏ để sống ở ni khe m học đạo. Nhưng trong
những tc phẩm của mnh Diệu Nghim v Ton Nhật đ chứng tỏ l những nh
truyền gio đầy bản lĩnh, khng chấp nhận khun vng thước ngọc do
truyền thống đ để lại m đ cng khai một cch can đảm đặt ngược lại vấn
đề. V dụ trong tc phẩm Tam Bảo biện hoặc luận Diệu Nghim dm nu ln
những hoi nghi cũng như thắc mắc m ta đoan chắc rằng bất cứ ai cũng đ
t nhất một lần thắc mắc v hoi nghi như: Từ xưa đến nay, người chết th
lm Phật sự để dng cho vong linh, nhưng c ai thấy họ thot khỏi địa ngục
m sanh ln thin đng đu. Phải chăng đ l sự by vẽ đối tr của cc
thầy tu (Sđd tập 1 tr. 56).
Trong Hứa Sử truyện văn, Ton Nhật cũng đặt vấn đề như Diệu Nghim, thầy
mnh: Hứa Sử ti mới thưa rằng
Mấy ai cho biết lnh đường tử sinh
Điều rằng thầy si trớ trinh
Kiếm ăn by đặt dỗ dnh người ta
Giấy trắng mực đen chp ra
Rằng Phước rằng tội phỉnh phờ thế gian. Trong một đoạn khc, Diệu Nghim cũng lm cho ta ngạc nhin khng km.
Diệu Nghim đ đặt lại vấn đề m gần như bất cứ một nh Phật học ở thời
no cũng c thể đ nghĩ trong đầu nhưng m chẳng bao giờ đủ can đảm ni
thẳng ra. Đ l vấn đề đi tu, thực sự c phải l đi tm giải thot hay chỉ
l hn nhc trốn thuế, bỏ ơn cha mẹ, v tch sự, khng ch lợi g cho kẻ
khc? Diệu Nghim viết: Người giu sang thế gian ở nh vng điện ngọc,
ta bu đi quỳnh, th thiếp ba ngn, hầu hạ vi vạn, o gấm thức ngon,
giường nệm chu ngọc, vng bạc chu bu v bin, thứ vật đời khng lường,
theo lng vui muộn, nhn nh tự do, cho đến người giu c đủ th thiếp,
rượu thịt bo ngon, theo hưởng lạc khng khoi ư? Sao lại đi lm thầy
tu, bỏ hết dục lạc thế gian như thế, m ở ni rừng vắng vẻ thm u, mặc o
vải, đi xin ăn để tm sự sống, mặc o cỏ, ăn l cy, khổ hạnh đi kht.
Chịu những điều như vậy đ, ấy l rất hn, khc g với kẻ ăn xin đu? Chỉ
l để trốn sưu thuế vua, bỏ qun ơn cha mẹ, quăng vứt cương thường, trở
thnh người lng đng, khng c ch g cho kẻ khc, h khng l sai lầm
sao? (Sđd tập 1 tr. 56 57).
Diệu Nghim cn đem l thuyết nghiệp bo của chnh Phật gio đề ra đẩy
vấn đề c vẽ như đến cng đường của sự bế tắc nữa: Ta thường thấy người
đời quy y tam bảo, bỏ tục đi lm thầy tu, v l do g m vứt bỏ cuộc đời
vinh hoa, năm dục khoi lạc, để mặc o th, ăn cơm xin chịu đựng những sự
cực khổ, nhạt nhẽo, vắng vẻ hiu quạnh. H chẳng phải như ngạn ngữ ni l
do nghiệp bo đ sao? (Sđd tập 1 tr. 57-58)
Con người từ nhiều thế kỷ nay, lun lun phải sống trong sự nghịch l,
nghĩa l lc no cũng mơ ước một cuộc sống ngy mai sẽ tốt đẹp hơn ngy
hm nay. Chnh v thế, nn mới c nhiều tn gio, nhiều thức hệ, l
thuyết ra đời để đp ứng sự kht khao mun thưở đ của con người.
Nhưng đau đớn thay, tn gio no, thức hệ no cũng muốn chứng minh rằng
chỉ c tn gio, l thuyết, thức hệ của mnh mới đp ứng được nỗi kht
khao ấy của con người, nn đ thi đua nhau t hồng cho tn gio v
thức hệ của mnh. Hậu quả hiển nhin l, hiện nay một phần của nhn loại
lại đang l nạn nhn th thảm cho ci mu hồng m cc tn gio v thức
hệ tự t vẽ rồi dng quyền lực bắt buộc con người phải chấp nhận mu
hồng do chnh họ tự t vẽ ấy.
Đức Phật đ thấy được rằng, mọi cực đoan đều nguy hiểm, ngay cả cực đoan
về những điều tốt lnh nhất cho chnh cuộc đời đi nữa th cũng đều l
những tai hoạ ging xuống cho con người. Bởi vậy, thng điệp đầu tin m
Đức Phật muốn gởi đến cho thế giới cực đoan ny l: Ny cc Tỳ Kheo, c
hai cực đoan (ant) m hng xuất gia phải từ bỏ.
V Đức Phật cũng xc quyết rằng chnh v ngi đ từ bỏ hai ci cực đoan
(ant) ấy nn Đức Phật mới đạt được tr tuệ siu việt (abhinnya) v đưa
đến sự an tịnh (vupasamya).
V ta chẳng lấy g lm ngạc nhin khi Diệu Nghiệm v học tr của mnh l
Ton Nhật đ dm thẳng thắng nu ln mặt tri của vấn đề, rồi sau đ mới
tm cch để giải quyết vấn đề.
Thật ra, bất cứ một nh Phật học đng nghĩa no th cũng đều phải nhn
thẳng vo sự thật của vấn đề như vậy, v Đạo Phật cn được gọi l đạo của
Như Thật (Yathbhtam) nữa. Nhưng chng ta chỉ ngạc nhin l sự giải thch
Phật gio một cch hết sức khch quan khoa học như vậy lại xảy ra vo thời
điểm ở nửa cuối thế kỷ 18, thời điểm m đất nước đang chứng kiến sự khởi
nghĩa gần như long trời lỡ đất của những người nng dn.
Nhưng khng chỉ trong lĩnh vực Phật học m thi m trong cc lĩnh vực
khc, Diệu Nghim cũng đều thể hiện tinh thần ph phn khch quan v tn
trọng sự thật. Trong Tam bảo l hoặc luận, Diệu Nghim cn ph phn ngay
cả sự cực đoan cũng như đầu c hủ lậu của cc nh Nho. Những nh Nho ny,
lc no cũng tự mn với xc chết Nho gio đ lỗi thời của mnh. Đứng trước
sự bảo thủ hẹp hi như vậy, Diệu Nghim đ nghim chỉnh đặt vấn đề với họ:
Nếu vậy th Ty Phương khng c Nho gio, sao lại văn minh đến thế?
Khi nghim chỉnh đặt vấn đề như vậy, chứng tỏ rằng Diệu Nghim đ c tầm
mắt nhn xa trng rộng, đ thấy được sự văn minh tiến bộ vượt bậc của cc
nước Ty Phương v đau lng khi thấy đất nước mnh đang bị vy khổn bởi
thức hệ Nho gio đ hết thời. Ni cho cng th, cc nh Nho chỉ lợi dụng
Nho gio nhưng thực ra chỉ để bảo vệ những đặc quyền đặc lợi của chnh họ
m thi. Lịch sử đ v đang chứng minh rằng, khng phải chỉ Nho gio m
bất cứ một triều đại no, chế độ no, hệ thống tổ chức no khi đến hồi
chung cuộc th cũng đều xảy ra sự lợi dụng như vậy cả.
V phải chăng lời chất vấn trn của Diệu Nghim đối với cc nh Nho thủ
cựu ở cuối thế kỷ 18 cho đến by giờ vẫn cn giữ nguyn gi trị v vẫn
tiếp tục l lời cảnh co nghim khắc đối với một thiểu số người vẫn khư
khư m chặt những chủ thuyết khng tưởng để khiến cho dn tộc cứ sống mi
trong hận th v lạc hậu đ sao?
Ton Nhật cn thừa lệnh Diệu Nghim ch thch v hiệu đnh lại tc phẩm Sa
di Oai nghi tăng ch giảo ngụy tự tiểu thin. Sch ny do Hoằng Tn ch
thch v in ở Trung Quốc, nhưng khi truyền vo nước ta th nhiều chữ đ
sai, do vậy Ton Nhật phải hiệu đnh từ lại.
Khi đọc tiểu luận, tc giả Ton Nhật ton tập phải thốt ln rằng: Ngy
nay, đọc lại Sa di Oai nghi tăng ch giảo ngụy tự tiểu thin, ta cảm thấy
bồi hồi xc động trước tinh thần v phong cch lm việc của những người
như Ton Nhật, v tc giả cho rằng: Trong lịch sử văn học v tư tưởng của
dn tộc, ta t khi gặp một tc phẩm văn học thuộc loại như của Ton Nhật.
C nhn ti cũng chưa từng đọc hoặc gặp một tc phẩm như thế. Do đ, Sa di
Oai nghi tăng ch giảo ngụy tự tiểu thin thực xứng đng l một tc phẩm
mẫu mực về khảo chứng văn bản học.
V như vậy, theo tc giả qua tiểu luận Sa di Oai nghi tăng ch giảo ngụy
tự tiểu thin, Ton Nhật hon ton xứng đng l một nh tr thức tiu biểu
của Việt Nam đứng chung với cc nh tr thức của thế giới ở cuối thế kỷ
18, thế kỷ đang m mẫm đi tm kiếm nh sng, tm kiếm chn l bằng chnh
sự nổ lực của con người, tc giả viết: Thi độ của Ton Nhật trong tiểu luận khảo chứng văn bản học ny khng
những đ cho thấy tnh trạng tr thức của Phật gio Việt Nam ở nữa cuối
thế kỷ 18, m cn của tr thức Việt Nam ni chung vo thời điểm đ. N thể
hiện một nổ lực ph phn, đi tm sự thực một cch khch quan khoa học.
Phải chăng n đp ứng lại xu thế chung của lịch sử thế giới thời bấy giờ,
thể hiện một xu thế đi tm nh sng, đi tm chn l, dựa trn khả năng
hiểu biết v tm kiếm của con người, chứ khng cn tin tưởng một cch m
qung vo những g do truyền thống hay những quyền uy khc để lại (Sđd
tập 2, tr. 290 291).
Nếu như cc tc phẩm văn học ở thời L Trần (hầu hết l của cc Thiền sư)
trực tiếp hay gin tiếp đều c lin hệ đến giới qu tộc đang cầm quyền,
th ngược lại Thiền sư Ton Nhật ở nữa cuối thế kỷ 18, nếu khng phải l
người nng dn th t nhất cũng l một người gần gũi với giới nng dn
ngho khổ? Hồi năm 1974, ti được thp tng với gio sư L Mạnh Tht đi sưu tập tư
liệu về Phật gio Việt Nam ở cc tỉnh Bnh Định v Ph Yn, v gio sư đ
pht hiện được nhiều tc phẩm của Diệu Nghim v Ton Nhật ở hai tỉnh ny.
V nhờ thế, ti mới biết được rằng, Diệu Nghim l vị Thiền sư đ khai
sng ra cha Đ Trắng Từ Quang ở quận Tuy An tỉnh Ph Yn, đ viết nhiều
tc phẩm bằng Hn văn, trong đ nổi tiếng nhất l Tam Bảo l hoặc luận, v
học tr l Ton Nhật lại viết hơn 20 tc phẩm bằng chữ Nm, trong đ c
tc phẩm Hứa Sử truyện vn, m nghe ni một thời đ được Phật tử cũng như
nhn dn ở cc tỉnh Nam Trung Bộ đọc nằm lng để ngm vịnh, giống như
người dn ở cc tỉnh đồng bằng sng Cửu Long ngm nga Lục Vn Tin của
Nguyễn Đnh Chiểu vậy. Nhưng Nguyễn Đnh Chiểu th may mắn hơn Thiền Sư
Ton Nhật nhiều, v trong khi ngm nga th ai cũng biết Lục Vn Tin l
của Nguyễn Đnh Chiểu, trong khi Hứa Sử truyện vn th gần như l một tc
phẩm khuyết danh, chẳng ai bận tm đến tc giả của n cả.
Bnh Định v Ph Yn l hai tỉnh m hầu hết người dn đều sinh sống bằng
nghề nng. Lm lụng vất vả quanh năm, hết cy su cuốc bẩm ở đồng n th
lại phải vo rừng để pht rẫy hoặc đốn củi.
C phải chnh từ vng đất ngho khổ v cơ cực ny m Ton Nhật mới đủ điều
kiện để dựng ln những nhn vật chnh trong Hứa Sử truyện vn, của mnh
chăng? Đồng thời c người thế gian
Vợ chồng Đo Thị ngho nn kh khăn
Hi rau bn củi nui thn
Cửa nh cực khổ trun chuyn.
Chồng đi lm mướn tay sần lưng chai. Nhưng điều đng ngạc nhin l d ngho khổ nhưng những nhn vật trong tc
phẩm của Ton Nhật lại trn đầy tnh thương v nhn nghĩa. Ni cch khc,
họ chỉ ngho khổ về vật chất nhưng lại rất giu sang về tấm lng.
Ta hy nghe Ton Nhật tả lại hai vợ chồng Đo Thị ny bn bạc với nhau nn
nhịn bớt miếng ăn để ln cha thăm viếng vị thầy đ quy y cho họ: Vợ chồng năn nỉ cng nhau
Những điều khổ no thần sầu quỷ thương
Chồng đi lm mướn bốn phương
Nh ngho con dại gh đường xt xa
Đặng chị nhịn miệng bớt ra.
Knh thầy đ sau m mới ăn
Thương thầy chẳng quản xa gần
Nhớ thời lại viếng chưa từng lng qun. Nhưng Ton Nhật khng phải chỉ ngồi yn trong cha tụng kinh g m m
tưởng tượng ra đời sống lam lũ cơ cực của người nng dn đu, m chnh bản
thn Ton Nhật cũng đ nỗi tri theo nỗi cơ cực ấy từ những ngy đầu mới
xuất gia với Thầy l Thiền sư Diệu Nghim, trong Xuất gia tối lạc tỉnh thể
tu hnh vn, Ton Nhật viết: Mỗ nay Si ở tha hương
Tới đu ngụ đ cũng nương nhờ lng
Xuất hnh chen học theo ng Cả
Biết lấy chi m trả ơn nhau. Rồi trn bước đường hoằng php độ sinh nỗi cơ cực ấy vẫn khng chịu bung
tha:
Gạo cậy đn na năm bảy chốn Lần hồi ăn bữa đi bữa no
o nhờ tn th một hai nh
Chập chng v tấm lnh tấm rch
Cơm y bồ dầu kẻ cng theo phận theo thời
Canh cốt đổng mặc người cho chẳng từ chẳng hổ.
(Thơ B Vi) Đi khi vị Thiền sư thi sĩ của chng ta cũng cố gắng tự khi hi với chnh
mnh về những nghịch cảnh kh khăn trn bước đường du ho đ gặp phải: Ngồi tựa cột như thầy bi ế
Buồn quy y cc chng ăn my
Lại sẵn giường những bạn hng quen
Dụ thế pht mấy con kẻ cắp. D c cố khi hi, cố che dấu những thất bại đau đớn do nghịch cảnh, chng
ta dường như vẫn cảm nghe được một nỗi xt xa cay đắng no đ tro ra từ
ci thơ của Ton Nhật, trong Bt Nh ngộ đạo văn, ng viết: Bữa rau muối đ an phận kh
Cũng hơn người bn ch treo d. Chnh v Ton Nhật đ sống v đ chịu đựng nhiều vất vả v cơ cực như một
người nng dn chnh hiệu, nn khi Ton Nhật muốn trnh by gio php của
Đức Phật cho người nng dn chn lấm tay bn, ng đ sử dụng một cch rất
thnh thạo thứ ngn ngữ của người nng dn để người nng dn c thể lnh
hội dễ dng điều ng muốn trnh by. V dụ, khi Ton Nhật muốn ni cho
người nng dn hiểu rằng, khng phải ngẫu nhin m năm nay la thc vo
đầy nh, m đ l kết quả tất nhin của những cố gắng từ năm trước: Dữ lnh họa phước my trời
V như trong đời nng nghiệp cy gieo
Năm trước kh nhọc di dầu
Ắt l la thc năm sau vo nh
Thường năm thm giống gieo ra
La thc trong nh chẳng biết bao nhiu
Nếu m khng biết nối gieo
Ngồi ăn hết giống nh đều cơ nguy
Người đời t biết xt suy
Nn hư mun việc đều quy cho trời.
(Hứa Sử truyện vn) Trong khi thừa lệnh Thầy mnh l Diệu Nghim giảng Sa di Oai Nghi tăng Ch
giảo Ngụy tự tiểu thin cho tăng chng, Ton Nhật cũng đ vận dụng việc
lm của người nng dn ra để trnh by. V chắc chắn giới tăng sĩ ở Ph
Yn v Bnh Định thời bấy giờ đều xuất thn từ con nh nng dn:
V như ruộng mu mỡ m c người gieo giống cy bừa, tuỳ sức nhiều t th
năm sau tất c được la. Mỗi năm trồng gieo thm, dần dần trở thnh tiểu
ph, trung ph. Sau đến nỗi của cải la thc trn dư, tất trở thnh đại
ph trưởng giả. Nếu la thu được năm rồi, năm tới ngồi ăn, th chắc chắn
sẽ hết la, đến nỗi phải bn hết ruộng đất m khng khỏi đi kht ly tn
(Sđd tập 2, tr. 294.).
V từ v dụ cng việc đồng n của người nng dn trn, Ton Nhật cảnh gic
giới tăng sĩ rằng:
Nếu khng sing năng tinh tấn, m bung lng nhc nhớm, th khi sự may
mắn đời trước đ hết, khng khỏi việc bn Phật php để nui thn, đời sau
rớt vo ba đường, kh gặp được Tam Bảo. Đ tức gọi l cc Thầy gieo giống
ruộng tốt vậy (Sđd tập 2, tr. 295.).
Đ l những lời Ton Nhật giảng giải cho giới nng dn cũng như tăng sĩ
nng dn về luật nhn quả của Phật gio, thứ quy luật m Ton Nhật đ
khẳng định l, ngy mai tốt hay xấu đều do mỗi người trong chng ta tự
quyết định lấy chứ chẳng ai c thể thay thế chng ta quyết định cả: Nhn quả chẳng chạy ho ly
Mun việc tm lại đều quy ở người
(Hứa Sử truyện vn). V trong Tam gio Nguyn lưu k, Ton Nhật cũng khẳng định lại như vậy: Phải m giữ của bo bo
Đời nay một miếng chẳng no lọ giu
Chẳng bỏ m luống vọng cầu
Mnh khng cy ruộng thc đu vo nh. Khi giảng giải về đạo l v thường (anitya) cho giới nng dn, Ton Nhật
cũng sử dụng những sự vật hay cảnh vật m người nng dn c thể trng thấy
mỗi ngy. Trong Hon Tỉnh Trần Ttm Khuyến Tu Tịnh Độ vn: Thn ny lấp lững cheo leo
Cy bờ giy giếng c bao lu di.
Trong Thiền cơ yếu ngữ văn:
Xem giu sang v bằng my nổi
Gẫm lợi danh dường đổi mưa dng.
V trong Tam gio Nguyn lưu k:
V như sương dnh ngọn cy
Bọt xao trn nước, pht giy thấy g. Mặc d mộc mạc dễ hiểu nhưng khng v thế m ci thơ của Ton Nhật rơi vo
tầm thường hay so ngữ: My quang m lướt thi hơn nhp
Người trăm năm chẳng khc chim bao
Ci bờ ny sng bủa lao xao
Ci danh lợi gẫm như bọt nước. Đ l bốn cu trong Bt Nh Ngộ đạo văn, bốn cu m tc giả TNQĐ đ cho
l: C một nhận thức sắc bn về sự thật của cuộc đời.
Nhưng những cụm từ như cheo leo, cy bờ giếng, my nổi, những mưa
dng, sương dnh ngọn cy hay bọt xao trn nước d rất dễ hiểu đối
với người nng dn, nhưng d sao th những hnh tượng ấy cũng đ sử dụng
nhiều trong kinh điển, trong thi kệ của cc Thiền sư v đặc biệt nhất l
trong thi ca. Nhưng tri lại trong Khuyến tu hnh quốc ngữ ph Ton Nhật
lại nhắc đến ci chợ hay qun khch để chỉ ci vắng vẻ heo ht của kiếp
người v của cuộc đời: Thn đời dường qun khch vo ra, đi rồi lại đến.
Việc thế như chợ đng xao xuyến, hợp ắt c tan. Mỗi lần c dịp đi ngang qua chợ Đo gần Cha Vin Quang ở Ph Yn, ti lại
thấy những ci chợ qu ngho xơ xc ở vng ny vẫn tiếp tục hợp v tan mỗi
ngy, d Ton Nhật đ ra đi gần hai thế kỷ rồi, v chắc sẽ chẳng bao giờ
trở về đứng nhn cảnh hợp rồi tan của chợ đời để xao xuyến v bng khun
nữa?
Cn một ci kh khăn nữa l lm sao cho người dn qu hiểu được rằng ng
Phật m họ đến cha quỳ lạy cầu xin mỗi ngy đ khng phải ở trn trời
cao hay bn ngoi m ng Phật đ lại ở ngay trong chnh họ.
Dường như đy l điều m Ton Nhật đ nổ lực giải thch trong hầu hết cc
tc phẩm của ng. Tất nhin cũng bằng những v dụ m người nng dn c thể
hnh dung ra được.
Trước hết, Ton Nhật v Phật như nước trong, m muốn c nước trong th
phải lọc: Cặn lọc th đặng nước trong
Ma Phật trong lng lọ phải tm đu. Phật như ngọn đn, muốn nh mnh sng, khng cn tối tăm, khng sợ kẻ gian
rnh rập th phải đốt ngọn đn ấy ln: Hy khu ngọn đn nh mnh cho sng
Kẻ gian t đu dm phạm xm Từ những v dụ ny, Ton Nhật mới bắt đầu khai mở cho họ biết rằng: Thin đường địa ngục nơi ta
Dữ lnh ấy đ, Phật ma bởi mnh Tất cả mọi cố gắng đi tm đi cầu ng Phật bn ngoi đều v ch: Chẳng phải cầu ta m thnh
Phật ở trong mnh, no nhọc tm đu Phật ở trong chnh mnh, nhưng v sao khng nhận ra, trong Hứa Sử truyện
vn Ton Nhật cho biết l do: Nếu ai trọc loạn tấm lng
Phật tuy c đ cũng khng thấy rồi
Phật như trăng tỏ trn trời
Mun phương soi thấu đi nơi sng lo
Giả như khe, chiếu giang h
Lặng thinh đy nước đu m khng trăng
Nếu m gi thổi sng nhăn
Đu đu đy nước no từng thấy chi
Lng người v dường nước kia
Thanh thời thấy Phật, trọc thời thấy đu
Sắc ti danh lợi tham cầu
M đặng thấy Phật dễ hầu c ai. V đy c lẽ l lời khuyn quan trọng m Ton Nhật muốn gởi đến cho tất cả
những người nng dn lam lũ m ng hằng thương yu với tất cả tấm lng: Phật thương hết thảy chng sanh
Chng sanh tung honh Phật độ lm sao? Vậy l khi ta khng cn tung honh nữa th chnh ta l Phật rồi, th ta
cần g ng Phật ở bn ngoi thương ta nữa?
Người nng dn bản tnh vốn hiền lnh chn chất, nhưng chnh sự hiền lnh
chơn chất ny nn họ lun lun l nạn nhn của những kẻ cậy quyền cậy thế,
những kẻ mang lng tham v đy.
Trước tin, Ton Nhật ln n những thứ thầy bi cng ph thủy bng
chng: Thầy bi ph thủy bng chng
Mắc vng lao lụy gh đường nhn gian
Người ta nhiễm chứng thương hn
Cảm kh thin địa mnh mang bệnh ngho
Rồi tu mở sch quẻ gieo
Khiến nn st hại d heo vịt g
Bảo người mau trở về nh
Lo cho đặng kịp kẻo m chết oan
Người nghe lật đật kinh hong
Giu thời lo đặng bần hn chạy vay.
(Hứa Sử truyện vn) Người nng dn vốn đ ngho khổ, nhưng chnh những bọn thầy bi cng ph
thủy bng chng ny đ khiến đời sống của họ cng ngho thm.
Bởi vậy, nn Ton Nhật ku gọi: Chớ tin ph thủy bng chng
Cng lời thầy bi gy đường tri oan
V mnh bệnh khổ chăng an
Hoặc nhiễm thương hn kh huyết gi suy
Php đời đ c lương y
Thuốc điều tiết dưỡng ắt th bệnh an.
(Hứa Sử truyện vn) V ta khng ngờ rằng, vo những thập nin ở cuối thế kỷ 18, vị Thiền sư
của chng ta lại c một quan niệm rất đng đắn về y học, rằng đ c thn
th phải c bệnh, m đ bệnh th phải chữa bệnh bằng thuốc của cc lương
y: Php đời đ c lương y
Thuốc điều tiết dưỡng ắt th bệnh an Ton Nhật cn vạch ra cho người nng dn thấy ci v l khi giết hại g
vịt d heo dể cng tế thần linh m cầu mạng sống cho chnh mnh: St sanh m đặng sống lu
Th cc nh giu ở chật đi nơi
(Hứa Sử truyện vn) V cng phi l hơn nữa, vẫn theo lời Ton Nhật đ l thần linh chnh
trực th họ đến gần, những giống hi tanh ấy để lm g? Cc vị chnh trực thần linh
Đến gần những giống hi tanh lm g?
(Hứa Sử truyện vn) V kẻ no đ đến để hưởng thụ những giống hi tanh đ th nhất định
khng phải l thần linh chnh trực m phải l loại ma lồi yu tinh
vậy: V mn mu thịt tanh hi
C dng l loại ma lồi yu tinh
(Hứa Sử truyện vn) Với tất cả tnh thương, Ton Nhật đ tha thiết khuyn răng những kẻ thch
giết hại sc vật để thỏa mn sự thm kht của mnh nn hiểu rằng: Huống chi kinh Phật ghi lời
Mun vật cng người một vc khc chi
Cng đồng chịu kh lưỡng nghi
Sanh nn người vật nối th đến nay
Chẳng qua một niệm trước sai
Lm đường c nghiệp nhiều đời v minh
Ắt sa vo lọai sc sinh
Hoặc lm cha mẹ chị anh ng b
Phm gian nhục nhn tin t
Vật chi cch vch coi m thấy đu
(Hứa Sử truyện vn) V nếu như đối với những lọai thầy bi hoặc thầy thủy bng chng th
Ton Nhật chỉ ku gọi người dn hy cảnh gic đừng nhẹ dạ cả tin theo bọn
chng chứ khng c thi độ quyết liệt như lọai ngươi sau đy, loại người
m lc no cng nhn danh nhn dn nhưng thực ra chỉ dng quyền hnh để
bn rt của cải m người dn lao động đ phải tốn biết bao nhiu cng sức
mới c được: Cậy mnh quyết qu hơn người
Lm điều hung hiểm hiếp hoi người ta
Kẻ gian hối lộ th tha
Người ngay khng của bắt ra hnh hnh
Đặng thời ph qu hiển vinh
Hại người lấy của ch mnh khng lo
Tạm ai bắt lấy phải lo
Chẳng thời th on khng lo cả nh
(Hứa Sử truyện vn) Ton Nhật căm phẩn loại người quyền qy ny đến nổi qua một phin ta
của nhn dn, ng đ để cho Dim vương đuổi chng ra khỏi thế giới của
loi người, đy chng xuống sống chung với bọn yu ma quỷ qui: Ph cho ngục tốt giam vo
Y luật hnh tội p dầu mun năm
Roi cho hồn n trầm lun
Ra loi ngạ quỷ ra lm bng sanh
(Hứa Sử truyện vn) Trong văn học cổ điển của nước ta, c lẽ phải đợi đến Ton Nhật ở nửa cuối
thế kỷ 18, với Hứa Sử truyện vn th nng dn lao động mới được đề cao,
khng chỉ đề cao chung chung, m đề cao một cch rất cụ thể, nghĩa l xc
nhận phẩm gi cũng như nhn phẩm của họ nữa. Họ, những người nng dn chn
lấm tay bn của Ton Nhật khng những được Phật ngợi khen m cn đồng
phẩm cao như bất cứ giới no, kể cả giới qu tộc, giới đang cầm quyền.
Trong Hứa Sử truyện vn, Ton Nhật đ để cho Đổng Vn, một vị quan đầy
quyền uy nhưng lại rất được nhn dn hm mộ, xc nhận gi trị ấy: Đổng Vn cười mới ni rằng
Hễ vui sanh khổ, khổ hằng đặng vui
Pht rẫy sen vng đặng ngồi
Danh chi trong đời thầy tớ Chu Cng
Hi rau bn củi tay khng
Vợ chồng Đo Thị cng đồng phẩm cao
Cng l pht rẫy cần lao
Hi rau bn củi mặt no lm nn
Phật cn phong tặng ngợi khen
Ấy phận kh hn huống lọ l ta. Tc giả Ton Nhật Quang Đi đ ni rất đng rằng: đy c lẽ l lần đầu
tin v duy nhất m lao động được ca ngợi v xc minh l yếu tố cho con
người trở thnh thần thnh (Sđd tập 1, tr. 71.).
Khi viết lại hnh trạng của Lục Tổ Huệ Năng trong Lục Tổ Diễn Ca, một vị
Tổ sư m D.T. Suzuki đ cho l một trong những nh huyền học vĩ đại nhất
của Phương đng, Ton Nhật cũng nhắc nhở lại cho chng ta biết rằng, Huệ
Năng trước khi trở thnh vị Tổ sư vĩ đại, cũng l một người đ từng hi
rau bn củi tay khng m ra: Thưa rằng ti chủ Ct Lo
Thật l phụ qun tranh lau qu nh
Người đ phận ni tỏ ra
Lng ti dễ dm vậy ha dấu chi
Đạo l hỷ x từ bi
No phn nam bắc thế th thiệt hơn
Ai ai c một tnh chn
Thnh phm chẳng khc, nhn nhn thể đồng
Người tuy phn cỏi ty đng
Đạo l vốn một đồng thng thnh phm. V tất cả đều phải lao động, nghĩa l phải từ sự nổ lực trong gian khổ th
mới tự mnh hon thiện được chnh mnh: Những ng Bồ Tt đầu trần
Cn đi gi gạo n cần sớm khuya
Những ng Bch Trượng xưa kia
Khng lm một bữa chẳng hề ăn cơm. Nhưng điều lạ lng như ta đ biết l những con người hễ c Bữa tối th
thiếu bữa trưa đ lại t nghĩ đến sự bất hạnh v đau khổ của chnh mnh,
m lc no cũng canh cnh trong lng những bất hạnh v đau khổ của kẻ
khc, như vợ chồng Đo Thị trong Hứa Sử truyện vn chẳng hạn.
Như vậy ta phải giải thch như thế no ci quan niệm xưa nay vẫn cho rằng
ph qu sanh lễ nghĩa, ngho hn sinh đạo tặc? c phải Ton Nhật muốn
vận dụng tinh thần của Phật gio để đạp đổ ci quan niệm ngu si đ tồn tại
từ lu trong x hội của chng ta chăng? Tc giả Ton Nhật Quang Đi đ
viết: N l một go nước lạnh tạt vo mặt tuồng giả nhn, giả nghĩa của thứ đạo
đức cho rằng: giu sang sinh lễ nghĩa, ngho hn sinh đạo tặc đy l thứ
đạo đức, nếu c thể gọi như vậy, để phục vụ cho bọn thống trị p bức, cho
hnh động ngược đi nhn dn, tại sao người ngho lai khng c đạo đức lễ
nghĩa? Hể bần tiện ngho khổ l sinh đạo tặc chăng? Chủ trương đạo đức
loại đ, thực sự l khinh miệt đạo đức, nếu khng phải l khng đạo đức.
N khinh miệt những người cng khổ, tước đoạt nhn phẩm của họ. Cho nn,
trn bối cảnh của thứ đạo đức suy đồi đốn mạt đ, n nổi ln thật r nt
thứ đạo đức trong sng của vợ chồng Đo Thị. Sự c mặt của n l một cuộc
đấu tranh khng khoan nhượng với thứ đạo đức lấy của cải lm thước đo của
bọn thống trị vừa ni. N đấu tranh để thiết lập nn một nền đạo đức căn
cứ vo tnh người gắn b với nhau qua lao động v bằng thnh quả của lao
động. Trn cơ sở đạo đức ấy, nghĩa thầy tr, tnh vợ chồng, lng thương
con người mới c thể pht huy. Người ta thương nhau, chia xẻ cho nhau từng
bt cơm manh o rất t ỏi do chnh bn tay lao động tạo ra. V như vậy, tc giả kết luận: c thể ni Ton Nhật l người đầu tin cng
khai nu ln quan điểm ấy, v n đ được cha ng ta tiếp nhận v truyền
đạt lại cho con chu (Sđd tập 1, tr. 74.).
Thật cảm động biết bao khi ta biết được rằng vị Thiền sư của chng ta đ
tuốt dp lnh xa khỏi nơi doanh liễu v cũng đ trải đường danh lợi,
nhưng rồi cuối cng đ dốc liều mnh tm tới, vo chốn cửa thiền. Sau đ
lại cng với thầy l Diệu Nghim lặn lội vo tận Ph Yn, mảnh đất của
những người nng dn cy su cuốc bẩm, lm trụ tr tại một ngi cha m
cho đến ngy nay vẫn cn l nơi hoang vu hẻo lnh, m thầm sống chung với
người lao động để chia xẻ những đau khổ cũng như cơ cực của họ. Cuối cng
v theo ti đều quan trọng hơn cả vẫn l qua những tc phẩm Ton Nhật đ
gy thức cho họ biết rằng: chỉ trong kh nhọc lao động con người mới
rn luyện được mnh, nng mnh ln tới cấp độ xứng đng với phẩm chất v
nhn cch con người (Sđd tập 1, tr. 73.).
V cũng thật xt xa biết bao cho đến by giờ đ gần hai thế kỷ tri quan
rồi kể từ khi Ton Nhật vĩnh viễn ra đi (1757 1834), vậy m đại đa số
người dn lao động ờ thn qu vẫn cn sống trong lầm than cơ cực, d đ c
biết bao l thuyết, biết bao thức hệ, biết bao tổ chức nhn danh sự đau
khổ của họ để ra đời, nhưng cuối cng khi mục đch của họ đ đạt được rồi
th cũng bỏ mặc m ra đi v những người nng dn vẫn tiếp tục ko l cuộc
đời của mnh trong lầm than cơ cực. (Cn tiếp 1 kỳ) T.P.A.
 |