www.todinhlinhson.com

gp nhặt

 

Thch Tuệ Sỹ
Huyền Thoại Duy Ma Cật

những gi trị phổ qut của Bồ Tt hạnh (I)

(phần II)

(phần III)

Nhn đọc Triết Học Thế Thn bản dịch Việt
Về những minh họa từ Thiền Uyển Tập Anh
Buddhist Foundation of Economics

L Mạnh Tht

Triết Học Thế Thn (phần I)
(phần II)
(phần III)

(phần IV)

(phần V)

(Về Tự Trị - 1)
(Về Tự Trị - 2)
(Về Tự Trị - 3)
Một Số Nhận Xt Cuối Cng
Ngn Ngữ về Những G Hiện Hữu

Emperor Nhn Tng and the War of Defense

And The Trc Lm School

Thch Phước An

nh thơ của Am My Trắng ở Thế Kỷ XVIII c bi bc Phật Gio Khng?

Ton Nhật thiền sư..

Ton Nhật thiền sư (tt)

Thch Thi Ha

Giới thiệu phẩm vua Diệu Trang Nghim - Kinh Php Hoa

Bồ Tt Qun Thế m - Phẩm Phổ Mn Kinh Php Hoa

Lịch Sử Pht Triển Phật Gio Đại Thừa Bồ Tt Giới

Giới thiệu Phật Gio Đại Thừa Bồ Tt Giới Phần(1)

Phần (2)

phần (3)

giới thiệu phẩm Bồ Tt Phổ Hiền khuyến pht trong kinh Php Hoa

Hồng Dương

Lưới Tương Giao (1)

Lưới Tương Giao (2)

Lưới Tương Giao (3)

Lưới Tương Giao (4)

Đốn Ngộ Tiệm Tu

Tn L Trung Đạo

Tn v chứng trong kinh Hoa Nghim

Phn Biệt, Ngn Ngữ v Tu chứng

E Conze

V Vi v Tiến Trnh Giải Thot

Một số vấn đề trong ABHIDHARMA

 

TRIẾT HỌC THẾ THN
VỀ TỰ TRI & BN THM VỀ CƠ CẤU TỰ TRI

L Mạnh Tht


Chng ta thấy rằng sau khi tm ra thuyết lan truyền nội tại, Thế Thn đ tiếp tục ti khảo st nhiều vấn đề khc nhau xoay quanh nhiều thuyết tri nhận đ được rất nhiều trường phi của thời ng đề ra. Những vấn đề ny hnh như đ khng được giải quyết; v trong khi khảo st chng, ng đ nhận ra rằng nếu muốn giải quyết th phải đưa ra một phương php hon ton mới m khi niệm cơ bản của n chnh l khi niệm về sự tự tri. Khi niệm ny bao gồm khẳng định mọi tri nhận phải l sự tự tri. Một khi đ khẳng định như thế, r rng chủ trương đối với một người no đ c khả năng tri nhận, anh ta tri nhận được ci g đ mu xanh chứ khng phải n l mu xanh; về đối tượng th anh ta tri nhận n chứ khng phải tri nhận cc thuộc tnh của n do A Tỳ Đạt Ma Thức Thn Luận (Abhidharmavijānakāya) khởi xướng v sau đ được Trần Na khai triển l
khng thể chấp nhận được( Abhidharmavijānakāyapādaśāstra, Taishō 1539, p. 559b27-c28:

 有 六 識 身。 謂 眼 識 耳 鼻 舌 身 意 識。 眼 識 唯 能 了 别 青
色。 不 能 了 别 此 是 青 色。 意 識 亦 能 了 别 青 色。 乃 至 未 能 了 别 其
名。 不 能 了 别 此 是 青 色。 若 能 了 别 其 名。 爾 時 亦 能 了 别 青 色。 亦
能 了 别 此 是 青 色。 如 青 色 黄 赤 白 等 色 亦 爾。 耳 識 唯 能 了 别 聲。
不 能 了 别 此 是 聲。 意 識 亦 能 了 别 聲。 乃 至 未 能 了 别 其 名。不 能 了
别 此 是 聲。若 能 了 别 其 名。爾 時 亦 能 了 别 聲。亦 能 了 别 此 是 聲。
鼻 識 唯 能 了 别 香。 不 能 了 别 此 是 香。 意 識 亦 能 了 别 香。 乃 至 未
能 了 别 其 名。不 能 了 别 此 是 香。若 能 了 别 其 名。爾 時 亦 能 了 别 香
。亦 能 了 别 此 是 香。舌 識 唯 能 了 别 味。 不 能 了 别 此 是 味。 意 識 亦
能 了 别 味。 乃 至 未 能 了 别 其 名。不 能 了 别 此 是 味。若 能 了 别 其 名
。爾 時 亦 能 了 别 味。亦 能 了 别 此 是 味。身 識 唯 能 了 别 觸。 不 能 了
别 此 是 觸。 意 識 亦 能 了 别 觸。 乃 至 未 能 了 别 其 名。不 能 了 别 此 是
觸。若 能 了 别 其 名。爾 時 亦 能 了 别 觸。亦 能 了 别 此 是 觸。意 識 亦 能
了 别 諸 法。謂 或 執 為 我。或 執 我 所。 或 執 為 斷 或 執 為 常。 或 撥 無
因。 或 撥 無 作。 或 復 損 減。 或 執 為 尊。 或 執 為 勝。 或 執 為 。 。 或
執 第 一。 或 執 清 淨。 或 執 解 脫。 或 執 出 離。 若 惑 若 疑。 若 猶 豫。
若 貪 若 瞋。 若 慢 若 癡。 若 麤 若 苦。 若 障 若 靜。 若 妙 若 離。 若 如 病
若 如 癰。 若 如 箭 若 惱 害。 若 無 常 若 苦 若 空 若 無 我。 若 於 因 謂 因
謂 集 謂 生 謂 緣。 若 於 滅 謂 滅 謂 靜 謂 妙 謂 離。 若 於 道 謂 道 謂 如 謂
行 謂 出。 若 有 因 若 有 起 若 有 是 處。 若 有 是 事。 若 如 理 所 引 了 别。
若 不 如 理 所 引 了 别。 若 非 如 理 所 引。 非 不 如 理 所 引 了 别。
cf. Dignāga, Pramāṇasamuccaya I, p.14b2-4.).

Bởi v khi một tri nhận được định nghĩa l sự tự tri, n khng những biết được ci g đ mu xanh m cn biết rằng n biết được ci đ l xanh. Như vậy, khi niệm tự tri hm chứa yếu tnh của ngn ngữ như một trong những thnh phần của n, bởi v như Trần Đức Thảo đ pht biểu, ngn ngữ l mi trường trực tiếp của thức ( Trần Đức Thảo, Du geste de lindex limage typique, La Pense 147 (1969): 3-46 & 148 (1969): 71-111 & 149 (1970): 93-106: Le mouvement de lindication comme forme originaire de la conscience, La Pense 128 (1966): 3-24: La conscience doit tre tudie tout dabord dans sa ralit immdiate: le language, entendu naturellement en son sens gnral, comme language gestuel et language verbal.).

Thật vậy, chng ta sẽ thấy Thế Thn khng chỉ xem ngn ngữ l mi trường trực tiếp của thức m cn l phương tiện độc nhất cho thức hoạt động. V vậy, sau khi bc bỏ thuyết tri nhận của Thức Thn Luận, ng đ định nghĩa lại tri nhận l một nhận thức sinh khởi chỉ từ đối tượng m n được đặt tn bởi đối tượng đ. Tri nhận như vậy được định nghĩa bằng ngn ngữ m n được diễn tả. Do sự kiện ny, Trần Na đ cng kch nặng nề điều trn như đ ni. Dĩ nhin, một sự cng kch như thế khng hề gy ngạc nhin bởi v đ l điều chng ta chờ đợi. Định nghĩa mới của Thế Thn cho thấy một quan niệm triệt để hon ton độc lập với mọi truyền thống định sẵn được biết đến vo thời ng, đặc biệt l truyền thống của Thức Thn Luận đầy thẩm quyền v ảnh hưởng m quan niệm của n đ được Trần Na khai triển v bảo vệ trong tc phẩm Pramāṇasamuccaya nổi tiếng của ng dưới ci bng của luận thư quan trọng nhất của Thế Thn l Vādavidhi. V dường như những người cng thời cũng
như sau ng đều thất bại trong việc đnh gi đng quan niệm hon ton mới với một nội dung cơ bản như thế của ng như những ph phn của Trần Na cho thấy.

Hiển nhin, điều mới mẻ chủ chốt của định nghĩa trn nằm ở việc n đ nối kết tri nhận với ngn ngữ qua đ n được diễn tả. Trần Na đ nhận ra chnh xc điều ny v ng đ mạnh mẽ chống đối v chỉ trch, bởi lẽ đối tượng của năm loại thức thn th khng thể diễn tả ( Dignāga, Pramāṇasamuccaya I: 14b5-6.). Thật vậy, như chng ta đ ni, mặc d Thế Thn chưa bao giờ cng nhin chia xẻ quan niệm của Thức Thn Luận v v thế chưa bao giờ đề cập đến trong Cu X Luận nhưng khi niệm đối tượng tri nhận th khng thể diễn tả, vốn được định nghĩa l nằm ngoi cấu trc ngn ngữ (v phn biệt), vẫn thật sự được nhắc đến trong tc phẩm của ng với một cải đổi được cng bố no đ. V thế, ng cng nhận rằng năm loại thức thn nằm ngoi cấu trc ngn ngữ chừng no n nằm ngoi cấu trc ngn ngữ của hoạt động của tm (kế đạc) v sự nhớ lại (ty niệm), chứ khng nằm ngoi cấu trc ngn ngữ của ring chng (tự tnh), bởi v chng lun lun c km theo ci được gọi l ngn của tầm v tứ ( Abhidharmakośa I ad 33: yadi paca vijānakāyāḥ savitarkāḥ
savicārāḥ katham avikalpakā ity ucyante/nirūpanānusmaraṇavikalpenāvikalpakāḥ/
trividhaḥ kila vikalpaḥ/ svabhāvābhinirūpanānusmaraṇavikalpaḥ/ tad eṣaṃ svabhāvavikalposti/ netarau/ tasmād avikalpakā ity ucyante/ yathā
ekapādakosvopādaka iti/ tatra svabhāvavikalpo vitarkaḥ/sa caitteṣu paścān
nirdekṣyate/ itarau punaḥ kiṃ svabhāvau/ yathākramaṃ tau prajā mānasī
vyagrā smṛtiḥ sarvaiva mānasī//manovijānasamprayuktā prajā mānasīty ucyate/ asamāhitā vyagrety ucyate/ sāhy abhinirūpanāvikalpaḥ/ mānasy eva sarvā smṛtiḥ samāhitā cāsamāhitā cānusmaraṇavikalpaḥ/cf. Abhidharmakośa I ad 32.).

Kết quả, ta c thể ni rằng quan niệm về tnh bất khả thuyết của đối tượng tri nhận đ gy nghi ngờ nghim trọng ngay cả trong Cu X Luận mặc d c sự kiện rằng khng c trần thuật no r rng về nghĩa chnh xc m từ ngữ cấu trc ngn ngữ v tương tự m chỉ, như đ thấy qua thảo luận của Thế Thn về chng ( Abhidharmakośa II ad 33a. Trong đoạn ny, Thế Thn biết rằng tầm v tứ t ra đều l lực của ngn ngữ (vākṣamskāra). Tuy nhin, mi đến luận thư Pacaskandhaka ng mới cố gắng định nghĩa r hai từ ny c nghĩa chnh
xc l g. Xem Pacaskandhaka, Taishō 1612 p 849b27-29: 云 何 為 尋。 謂 能
尋 求 意 言 分 别 思 慧 差 别 令 心 麤 為 性。 云 何 為 伺。 謂 能 伺 察 意 言
分 别 思 慧 差 别 令 心 細 為 性。 ). Quan niệm mới mẻ được Thế Thn đề ra ở trn đnh dấu một sự tch ly từ gốc rễ đối với cc quan niệm phổ biến vo thời ng. V vậy, chẳng c g ngạc nhin khi Trần Na phải dnh trọn cả một phần trong Pramāṇasamuccaya của ng để đnh gi.Như đ ni, quan niệm mới ny được đề ra trong một cố gắng giải quyết nhiều
kh khăn khc nhau xuất pht từ vấn đề tri nhận v cuối cng đ dẫn đến giả định về khi niệm tự tri. Điều kh chắc chắn l nếu tri nhận được định nghĩa qua sự tự tri như l quan hệ đầu tin của n th điều tất yếu l tri nhận đ phải được chỉ thị bởi tn của đối tượng m từ đ n sinh khởi. V thế, ni rằng ti thấy th chưa đủ m phải ni thm l ti thấy ci g đ. Khng c ci gọi l tri nhận thuần ty, tức loại tri nhận khng được đặt tn bởi đối tượng m n tri nhận, m lun lun l tri nhận về ci g đ. L do tại sao khng c tri nhận thuần ty m lun lun l tri nhận ci g đ, khi tri nhận được định nghĩa qua sự tự tri, nằm ở sự kiện tự tri trong trường hợp ny chỉ xảy ra khi tri nhận xảy ra. V nếu tri nhận khng được chỉ thị bởi tn của đối tượng của n để phn biệt n với sự tự tri th cả hai c thể bị trộn lẫn hon ton để trở thnh một đơn vị duy nhất v cng nhin đồng nhất tri nhận với tự tri, một sự đồng nhất khng muốn c. Hơn nữa, một điều thng thường l tri nhận c thể được diễn tả theo một ngn ngữ đ cho. Nếu ti tri nhận một con ch từ trong nh chạy ra bn tay tri ti th chắc chắn ti c thể ni như thế. V chỉ ni như thế th người khc mới c thể biết rằng ti thật sự thấy con ch từ trong nh chạy ra. V thế, thật khng may nếu đề ra một thuyết thuộc loại Trần Na đề nghị bởi v khi đ một điều thng thường như thế sẽ bị bỏ qua v khng được để đến để nhường chỗ cho một khi niệm được định sẵn no đ về những g tri nhận phải l.

Nhưng v tri nhận được định nghĩa qua ngn ngữ m n được diễn tả, cho nn sự tự tri cũng phải được định nghĩa qua ngn ngữ đ. V tự tri vốn l một phần của tiến trnh tri nhận. Như vậy, ton bộ tổ hợp tri nhận v tự tri hon ton dựa vo ngn ngữ để hoạt động, một kết luận đ rất hiển nhin trong Cu X Luận, như đ thấy. Trong đ, Thế Thn pht biểu cng khai cả năm thức thn đều khng nằm ngoi cấu trc ngn ngữ v chng lun lun c km theo lời lẽ của về sự tm ti v xt đon. Tuy nhin, mi đến khi Vādavidhi xuất hiện th sự nối
kết tri nhận với ngn ngữ mới được trnh by sung sẻ, v đợi đến khi Nhị Thập Tụng ra đời th khi niệm tự tri mới được xem xt v bn bạc nghim tc. Thế nhưng, việc sớm nhận ra tc dụng rất quan trọng của ngn ngữ trong bất cứ hoạt động no được cho của tm cho thấy thuyết m tả của Thế Thn đ xuất hiện như thế no. V thuyết ny lại sinh khởi luận l của ng v cuối cng thc đẩy ng ti khảo st vấn đề tri nhận với khm ph đạt được l khi niệm tự tri. Từ những g đ ni, mặc d khi niệm ny quan trọng nhưng n lại l một sự thật phổ biến rất bnh thường m mọi người đều xem thường, đ l nếu chng ta nhận biết ci g đ th tiến trnh nhận biết ny xảy ra trong đầu chng ta chứ khng phải nơi no khc. Như vậy, để biết ci g đ, ta phải cng lc biết rằng ta biết ci đ. V thế, nhận thức ta c về thế giới ngoại tại v mọi sự vật khc xuất pht từ sự tự nhận biết của chng ta về những thng tin được cung cấp cho chng ta qua cc tri gic v trải qua tiến trnh xử l của khả năng tri nhận của chng ta.

V vậy, để cho bất cứ ci g hiện hữu trn cuộc đời ny được biết đến th n cần được phin dịch thnh cc thng tin; v những thng tin ny c thể được xử l bởi khả năng nhận biết của chnh chng ta. Như vậy, đối tượng được định nghĩa qua cc thng tin n cung cấp cho chng ta v những thng tin ny được m ha theo một ngn ngữ đ cho dnh cho sự hiểu biết của chng ta. Một khi đ đi đến một kết luận như thế, thật tự nhin cho Thế Thn để đưa ra luận đề bất kỳ ci g hiện hữu chỉ l ci khiến ta biết; đối tượng của n khng hiện hữu v n l sự tự tri, giống hệt như sự nhn thấy những sợi lng v mặt trăng, v.v., của
người mắc bệnh bạch chướng nhn. Thật vậy, v bất cứ những g ta biết về một đối tượng cũng l bất cứ thng tin no n cho chng ta v thng tin ny, đến lượt n, sẽ định nghĩa đối tượng đ l g. Như vậy, bất cứ ci g hiện hữu thật sự chỉ l ci khiến ta biết. Thế nhưng, nếu đ như vậy th điều tất yếu l đối tượng được định nghĩa bởi thng tin được cung cấp cho chng ta bởi bất cứ ci g hiện hữu ở đ chắc chắn sẽ khng hiện hữu giống như cch hiện hữu của bất cứ ci g ở đ, bởi v đối tượng được định nghĩa như thế chỉ l sự tri nhận ta c
về thng tin được cho chng ta. V v n chỉ l một tri nhận nn n khng hiện hữu, bởi v theo định nghĩa th tri nhận l tự tri, v tự tri l bất cứ ci g gip ta biết về sự c mặt của ci g đ. Tm lại, tự thn n vốn l một dạng thng tin khng chỉ cho chnh n m cho bất cứ ci g n được dự định chỉ đến. V thế, cần phải lưu rằng chữ đối tượng trong pht biểu dẫn trn của Thế Thn chuyển tải trong ngn ngữ gốc của n khng chỉ hm về đối tượng m cn cả hm về nghĩa. ( Viṃśatikā ad I. Hy lưu rằng hai nghĩa ny chắc hẳn đ rất thng dụng vo thời Thế Thn, như được minh chứng trong Amarasiṃha, Nāmalingānusasana, ed. Pandut Sivadatta, Bombay: Satyabhāmābāi Pāndurang, 1944: 331 &412: II. 9.90 v III. 3. 86.)

Như vậy, về mặt ngn ngữ học đối tượng được định nghĩa qua nghĩa của n. Bất cứ ci g được ta ni đến như một đối tượng, n phải hm chứa một nghĩa no đ để ta c thể hiểu n. V lẽ n được đồng nhất hon ton với nghĩa của n. Ni cch khc, khi một đối tượng được định nghĩa bằng thng tin ta biết về n, một đối tượng như thế chắc chắn chỉ l một dạng của tự tri, v n chỉ l một phương tiện gip ta hướng đến ci g đ khc hơn chnh n, một ci g đ ở bn ngoi m ta muốn biết hay rốt cng cũng sẽ biết. Chẳng hạn như khi ta ni về một ngi nh, chữ nh khng chỉ lm nền tảng chỉ thị ci g đ bn ngoi m chng ta tnh cờ gặp phải để đồng đ l một ngi nh, m n cn lm một knh truyền đạt thng tin gip định nghĩa ci đ. Với hai chức năng ny, ci được chng ta ni đến như một ngi nh chắc chắn khng hiện hữu, hoặc t ra khng hiện hữu theo cch hiện hữu của ci g đ ở bn ngoi, ci m chữ ny được dng để chỉ đến, bởi l do đơn giản l chữ nh chỉ l một m tả về ci g đ ở đ.

Cần lưu rằng m tả được định nghĩa l một biểu tượng bất ton c thể được thay bằng những diễn tả thch hợp khc. L một m tả, từ ngữ chỉ c tc dụng truyền đạt thng tin để ci g đ bn ngoi c thể được định nghĩa v tri nhận đng. V vậy, những g chng ta biết về một đối tượng chỉ l những thng tin ny, những thng tin c khi chỉ kết lại thnh một từ v c khi nhiều hơn. Theo nghĩa ny, ta c thể ni rằng một đối tượng chỉ l thng tin ta biết về n. V pht biểu ny được diễn tả r rng bởi khả năng siu việt của Phạn ngữ trong
chỉ một từ: artha. Đy l từ đ chuyển tải, như đ ni, hai nghĩa l vật v nghĩa trong suốt lịch sử. Với hm nghĩa kp ny, điều rất hiển nhin l theo quan điểm của Thế Thn, một đối tượng, khi được định nghĩa như thế, sẽ khng hiện hữu. N khng hiện hữu, v n chỉ l thng tin được dự liệu cho sự tự tri nhận của chng ta. Vấn đề by giờ l tại sao khi được định nghĩa như thế n lại khng hiện hữu, v lm thế no một tnh huống như thế lại xảy ra.
Chng ta đ thấy rằng Nhị Thập Tụng l tc phẩm đầu tin của Thế Thn cng bố luận đề trn, ni rằng đối tượng khng hiện hữu khi được định nghĩa l thng tin. Vậy th thật tự nhin cho chng ta khi khảo cứu tc phẩm ny để xem n c cung cấp bất cứ xc minh no về một quan niệm như thế khng. Ở chương cuối, chng ta đ thấy bằng cch no Nhị Thập Tụng cố thực hiện chnh xc cng việc ny bằng cch chứng minh rằng ci ta biết chỉ l những thng tin khiến chng ta biết chứ khng phải tự thn cc đối tượng. N chỉ r rằng (1) đối tượng ta biết c thể khng hiện hữu, th dụ những g ta thấy trong giấc mơ, v (2) v mọi vật lin tục thay đổi, đối tượng vốn cũng thay đổi như thế, c thể khng bao giờ được biết đến ngoại trừ chỉ như một hnh ảnh, tức chỉ l thng tin m n để lại đng sau. Với hai l do chnh ny, Nhị Thập Tụng đi đến kết luận rằng bất cứ ci g hiện hữu chỉ l ci khiến ta biết, như đ ni. Vậy th r rng n đ khng chứng minh được quan niệm của n ở mức ta mong muốn, nhất l xt về thuyết m tả được Thế Thn trnh by trong Cu X Luận.

Thật vậy, trong đ khi nối kết với vấn đề hiện hữu của qu khứ v vị lai, Thế Thn đ nhấn mạnh rằng một đối tượng của thức c thể khng l g cả m chỉ l một tn gọi, v đối tượng m n m chỉ khng cần phải hiện hữu, ( Abhidharmakośa V ad 27.) để c thể giải thch tại sao ta c thể sẵn sng biết v hiểu ci g đ trong qu khứ m n khng cn hiện hữu theo định nghĩa. Như vậy, chnh nhờ vo cc tn gọi m sự vật c thể được biết v được ghi nhận. Nhận xt ny đng một vai tr chủ chốt trong sự pht triển thuyết m tả của Thế Thn trong Cu X Luận, như đ được minh chứng đầy đủ trong thảo luận của chng ta ở trn. Tuy nhin, điều kỳ lạ l n khng được đưa vo trong Nhị Thập Tụng. Kết quả, nỗ lực chứng minh luận đề bất cứ ci g hiện hữu chỉ l những g khiến ta biết đnh mất phần no hiệu quả của n. V sự mất mt ny phải đợi đến khi Tam Thập Tụng ra đời mới c thể b đắp.

Tam Thập Tụng mở đầu bằng cu ni lừng danh sự m tả về ng v php, vốn c tc dụng theo nhiều cch, đều dựa vo sự chuyển biến của thức, v cu ni ny cuối cng đ dẫn đến kết luận nổi tiếng khng km l sự chuyển biến của thức l cấu trc ngn ngữ qua đ những g được thiết lập bằng ngn ngữ khng hiện hữu, v vậy bất cứ ci g hiện hữu đều chỉ l ci khiến ta biết. (Triṃśikā ad I & 17.) Ton bộ đời sống của một thức, bao gồm cả sự tự tri, v thế hon ton được quyết định bởi điều m Thế Thn gọi l cấu trc ngn ngữ.

( Siddhasena Divākara, Sammatitarkaprakaraṇa of Siddhasena Divākara together with Abhayadevasūris Vyākhyā, ed. Sukhalal Samghavi & Becaradāsa Dosi, Ahmedabad: Gujarātapurātattvamandiragranthāvalī, 1928: 533; śrotrādivṛttir avikalpiketi vindhyavāsipratyakṣalakṣaṇam anevaiva nirastam/. Yogasūtra I. 9: śabdajānānupātī vastuśūnyo vikalpaḥ, được bnh giải bởi Vyāsa, Pātajala-Yogadarśanam, ed. Ram Shankar Bhattacharya, Vārānasī: Bhāratīya Vidyā Prakāsana, 1963: 13-14.Karl H. Potter, The Encyclopedia of Indian Philosophy I, Delhi: Motilal Banarsidas, 1970: 17.)

Vậy, cấu trc ngn ngữ l g? Để trả lời cu hỏi ny, thật khng may l chng ta khng c pht biểu no r rng từ chnh Thế Thn, sau khi đ tm khắp cc tc phẩm cn giữ được của ng. Dường như những từ như cấu trc ngn ngữ đ được sử dụng rộng ri v dễ hiểu vo thời ng, khng chỉ đối với những người trong giới tr thức trực tiếp của ng m cn đối với tất cả những người đứng đầu nhiều tng phi triết học v khoa học thuộc thời ng. Như vậy, chng ta c định nghĩa th vị của Vindhyavāsin, vị thầy tiếng tăm của Số Luận đ từng đnh bại thầy của Thế Thn trong một cuộc tranh biện, theo đ tri nhận l hoạt động của cc gic quan như tai, v.v., m khng c cấu trc ngn ngữ. Một lần nữa, chng ta lại khng biết chnh xc từ ngữ cấu trc ngn ngữ m chỉ điều g ở đy, bởi v khng c định nghĩa no được cho. Cố gắng hiển nhin đầu tin nhằm định nghĩa n một cch cng khai được tm thấy trong Yogasūtra, trong đ cấu trc ngn ngữ được định nghĩa l tri nhận được tạo ra bởi cc từ v khng c thực thể no. Tuy nhin, thật kh xc định khi qut định nghĩa ny lần đầu tin xuất hiện trong đ vo khi no, mặc d phần đng đều nghĩ rằng ton bộ tc phầm chắc hẳn đ xuất hiện khng lu trước khi Thế Thn ra đời. D sao đi nữa, nếu chng ta suy đon Yogasūtra được viết giữa thế kỷ thứ III v thứ IV sdl. th n rất khớp với tnh huống vừa được m tả, tức những người vo thời Thế Thn đ qu quen thuộc với nghĩa chnh xc của từ ngữ cấu trc ngn ngữ m khng phải mất cng đưa ra giải thch no thm về nghĩa của n, bởi v họ biết chnh xc n c nghĩa l g như đ được định nghĩa trong Yogasūtra. Đ l chưa kể đến sự kiện cho d khng c định nghĩa nghe c vẻ chuyn mn của Patajali th từ cấu trc ngn ngữ hnh như vẫn được xem l hm chứa những g n m chỉ ngay từ đầu, đ l một pht biểu c thể được diễn dịch theo cch no đ để n c thể mang nghĩa khc đi.

Như vậy, trong Nyāyasūtra, cấu trc ngn ngữ được dng để m tả nhiều cạm bẫy luận l khc nhau m người ta c thể mắc phải trong tiến trnh thảo luận hay tranh luận (Nyāyāsūtra I.2. 10-17.). V cch dng ny r rng đ xuất pht từ thuật ngữ tế lễ của Mīmāṃsaka, trong đ từ ny được dng để chỉ cho tất cc cc trường hợp trong đ một buổi lễ no đ đ c trn một nghi thức hoặc hai dạng khc nhau của cng một nghi thức, v chng đều c thẩm quyển như nhau cũng như mang lại kết quả giống nhau. (Mīmāṃsāsūtra XII. 3. 10: ekārthās tu vikalperan samuccaye hy āvṛttiḥ syāt pradhānasya//.) Những trường hợp ny được gọi l cấu trc ngn ngữ m nghĩa của n đ qu hiển nhin: thật ra chỉ c một nghi thức, nhưng do cc cấu trc ngn ngữ khc nhau cho nn đ c hai hoặc nhiều hơn, m những nghi thức ny, trong sự phn tch cuối cng, đều c cng nghĩa. V thế, xt theo sự pht triển lịch sử ny, định nghĩa trn của Yogasūtra được minh chứng đầy đủ v lm sng tỏ thm một số điều b ẩn chung quanh từ ngữ ny, những b ẩn đ khiến cho nhiều nh nghin
cứu thuộc lnh vực ny phin dịch sai lạc từ ngữ trn l sự tưởng tượng (Sylvain Lvi, Matriaux pour ltude du systme vijaptimātra, 106.). Cấu trc ngn ngữ l ci được sản sinh bởi kiến thức từ ngữ v khng c vật śabdajānānupātī vastuśūnyo vikalpaḥ. Chắc chắn, nếu hai nghi thức hoặc hai dạng khc nhau của cng một nghi thức c cng hiệu quả như nhau v thuộc cng một thẩm quyền như nhau trong một cuộc tế lễ được cho th chỉ c thể nhận ra sự khc biệt duy nhất của chng nhờ vo cch dng từ của chng. Đy l những g khiến chng trở thnh ci m cc nh tế lễ gọi l cấu trc ngn ngữ. V đ l những g hm chứa trong định nghĩa đ cho của Yogasūtra. nghĩa của từ ngữ ny v thế rất r rng t ra cho đến thời Vindhyavāsin v Thế Thn. Thật vậy, phần lớn những người thừa hưởng di sản triết học Thế Thn như Bhartṛhari, Aśvabhāva, v.v, đều sử dụng rộng ri khi niệm cấu trc ngn ngữ m khng hề bn ring đến nghĩa của n l g (Bhartṛhari, Vākyapadīya
III. 8.). R rng, đ l từ ngữ tiu chuẩn của ngn ngữ triết học thời đ, v nghĩa của n khng cn điểm mơ hồ no phải thắc mắc. Ngay cả khi Trần Na thử thiết lập lại định nghĩa của n th trong đ vẫn khng tm thấy sự tch ly no đng kể đối với những g Yogasūtra đ cho. Như vậy, sau khi hỏi Vậy cấu trc ngn ngữ ny l g?, Trần Na cho chng ta cu trả lời như sau: Sự kết hợp của tn gọi, chủng loại, v.v., [với một vật được tri nhận]. Trong trường hợp cc từ c tnh chất ty nghi, một đối tượng được phn biệt bởi một tn gọi được diễn tả bằng một từ như Dittha. Trong trường hợp cc từ chỉ chủng loại, một đối tượng được phn biệt bởi một chủng loại được diễn tả bằng một từ như con b. Trong trường hợp cc từ chỉ tnh chất, một đối tượng được phn biệt bởi một tnh chất được diễn tả bằng một từ như trắng. Trong trường hợp cc từ chỉ hnh động, một đối tượng được phn biệt bởi một hnh động được diễn tả bằng một từ như nấu. Trong trường hợp cc từ chỉ thực chất, một đối
tượng được phn biệt bởi một thực chất được diễn tả bằng một từ như người chống gậy hay người cầm ci. Ở đy, đối với những từ sau cht ny, c người cho rằng ci được chng diễn tả l một đối tượng được phn biệt bằng sự quan hệ, trong khi c người chủ trương ci được diễn tả l một vật được trần thuật chỉ bởi cc từ v n khng c đối tượng (Dignāga, Pramāṇasamuccaya I, p.14a1-7.).

(đọc tiếp)