|
TRIẾT HỌC THẾ THN
VỀ TỰ TRI & BN THM VỀ CƠ CẤU TỰ TRI
L Mạnh Tht
Chng ta thấy rằng sau khi tm ra thuyết lan truyền nội tại, Thế Thn đ
tiếp tục ti khảo st nhiều vấn đề khc nhau xoay quanh nhiều thuyết tri
nhận đ được rất nhiều trường phi của thời ng đề ra. Những vấn đề ny
hnh như đ khng được giải quyết; v trong khi khảo st chng, ng đ
nhận ra rằng nếu muốn giải quyết th phải đưa ra một phương php hon ton
mới m khi niệm cơ bản của n chnh l khi niệm về sự tự tri. Khi niệm
ny bao gồm khẳng định mọi tri nhận phải l sự tự tri. Một khi đ khẳng
định như thế, r rng chủ trương đối với một người no đ c khả năng tri
nhận, anh ta tri nhận được ci g đ mu xanh chứ khng phải n l mu
xanh; về đối tượng th anh ta tri nhận n chứ khng phải tri nhận cc
thuộc tnh của n do A Tỳ Đạt Ma Thức Thn Luận (Abhidharmavijānakāya)
khởi xướng v sau đ được Trần Na khai triển l
khng thể chấp nhận được( Abhidharmavijānakāyapādaśāstra, Taishō 1539, p.
559b27-c28:
有 六 識 身。 謂 眼 識 耳 鼻 舌 身 意 識。 眼 識 唯 能 了 别 青
色。 不 能 了 别 此 是 青 色。 意 識 亦 能 了 别 青 色。 乃 至 未 能 了 别 其
名。 不 能 了 别 此 是 青 色。 若 能 了 别 其 名。 爾 時 亦 能 了 别 青 色。 亦
能 了 别 此 是 青 色。 如 青 色 黄 赤 白 等 色 亦 爾。 耳 識 唯 能 了 别 聲。
不 能 了 别 此 是 聲。 意 識 亦 能 了 别 聲。 乃 至 未 能 了 别 其 名。不 能 了
别 此 是 聲。若 能 了 别 其 名。爾 時 亦 能 了 别 聲。亦 能 了 别 此 是 聲。
鼻 識 唯 能 了 别 香。 不 能 了 别 此 是 香。 意 識 亦 能 了 别 香。 乃 至 未
能 了 别 其 名。不 能 了 别 此 是 香。若 能 了 别 其 名。爾 時 亦 能 了 别 香
。亦 能 了 别 此 是 香。舌 識 唯 能 了 别 味。 不 能 了 别 此 是 味。 意 識 亦
能 了 别 味。 乃 至 未 能 了 别 其 名。不 能 了 别 此 是 味。若 能 了 别 其 名
。爾 時 亦 能 了 别 味。亦 能 了 别 此 是 味。身 識 唯 能 了 别 觸。 不 能 了
别 此 是 觸。 意 識 亦 能 了 别 觸。 乃 至 未 能 了 别 其 名。不 能 了 别 此 是
觸。若 能 了 别 其 名。爾 時 亦 能 了 别 觸。亦 能 了 别 此 是 觸。意 識 亦 能
了 别 諸 法。謂 或 執 為 我。或 執 我 所。 或 執 為 斷 或 執 為 常。 或 撥 無
因。 或 撥 無 作。 或 復 損 減。 或 執 為 尊。 或 執 為 勝。 或 執 為 。 。 或
執 第 一。 或 執 清 淨。 或 執 解 脫。 或 執 出 離。 若 惑 若 疑。 若 猶 豫。
若 貪 若 瞋。 若 慢 若 癡。 若 麤 若 苦。 若 障 若 靜。 若 妙 若 離。 若 如 病
若 如 癰。 若 如 箭 若 惱 害。 若 無 常 若 苦 若 空 若 無 我。 若 於 因 謂 因
謂 集 謂 生 謂 緣。 若 於 滅 謂 滅 謂 靜 謂 妙 謂 離。 若 於 道 謂 道 謂 如 謂
行 謂 出。 若 有 因 若 有 起 若 有 是 處。 若 有 是 事。 若 如 理 所 引 了 别。
若 不 如 理 所 引 了 别。 若 非 如 理 所 引。 非 不 如 理 所 引 了 别。
cf. Dignāga, Pramāṇasamuccaya I, p.14b2-4.).
Bởi v khi một tri nhận được định nghĩa l sự tự tri, n khng những
biết được ci g đ mu xanh m cn biết rằng n biết được ci đ l xanh.
Như vậy, khi niệm tự tri hm chứa yếu tnh của ngn ngữ như một trong
những thnh phần của n, bởi v như Trần Đức Thảo đ pht biểu, ngn ngữ
l mi trường trực tiếp của thức ( Trần Đức Thảo, Du geste de lindex
limage typique, La Pense 147 (1969): 3-46 & 148 (1969): 71-111 & 149
(1970): 93-106: Le mouvement de lindication comme forme originaire de la
conscience, La Pense 128 (1966): 3-24: La conscience doit tre tudie
tout dabord dans sa ralit immdiate: le language, entendu
naturellement en son sens gnral, comme language gestuel et language
verbal.).
Thật vậy, chng ta sẽ thấy Thế Thn khng chỉ xem ngn ngữ l mi
trường trực tiếp của thức m cn l phương tiện độc nhất cho thức hoạt
động. V vậy, sau khi bc bỏ thuyết tri nhận của Thức Thn Luận, ng đ
định nghĩa lại tri nhận l một nhận thức sinh khởi chỉ từ đối tượng m n
được đặt tn bởi đối tượng đ. Tri nhận như vậy được định nghĩa bằng ngn
ngữ m n được diễn tả. Do sự kiện ny, Trần Na đ cng kch nặng nề điều
trn như đ ni. Dĩ nhin, một sự cng kch như thế khng hề gy ngạc
nhin bởi v đ l điều chng ta chờ đợi. Định nghĩa mới của Thế Thn cho
thấy một quan niệm triệt để hon ton độc lập với mọi truyền thống định
sẵn được biết đến vo thời ng, đặc biệt l truyền thống của Thức Thn
Luận đầy thẩm quyền v ảnh hưởng m quan niệm của n đ được Trần Na khai
triển v bảo vệ trong tc phẩm Pramāṇasamuccaya nổi tiếng của ng dưới ci
bng của luận thư quan trọng nhất của Thế Thn l Vādavidhi. V dường như
những người cng thời cũng
như sau ng đều thất bại trong việc đnh gi đng quan niệm hon ton mới
với một nội dung cơ bản như thế của ng như những ph phn của Trần Na cho
thấy.
Hiển nhin, điều mới mẻ chủ chốt của định nghĩa trn nằm ở việc n đ
nối kết tri nhận với ngn ngữ qua đ n được diễn tả. Trần Na đ nhận ra
chnh xc điều ny v ng đ mạnh mẽ chống đối v chỉ trch, bởi lẽ đối
tượng của năm loại thức thn th khng thể diễn tả ( Dignāga,
Pramāṇasamuccaya I: 14b5-6.). Thật vậy, như chng ta đ ni, mặc d Thế
Thn chưa bao giờ cng nhin chia xẻ quan niệm của Thức Thn Luận v v
thế chưa bao giờ đề cập đến trong Cu X Luận nhưng khi niệm đối tượng
tri nhận th khng thể diễn tả, vốn được định nghĩa l nằm ngoi cấu
trc ngn ngữ (v phn biệt), vẫn thật sự được nhắc đến trong tc phẩm
của ng với một cải đổi được cng bố no đ. V thế, ng cng nhận rằng
năm loại thức thn nằm ngoi cấu trc ngn ngữ chừng no n nằm ngoi
cấu trc ngn ngữ của hoạt động của tm (kế đạc) v sự nhớ lại (ty
niệm), chứ khng nằm ngoi cấu trc ngn ngữ của ring chng (tự tnh),
bởi v chng lun lun c km theo ci được gọi l ngn của tầm v tứ
( Abhidharmakośa I ad 33: yadi paca vijānakāyāḥ savitarkāḥ
savicārāḥ katham avikalpakā ity
ucyante/nirūpanānusmaraṇavikalpenāvikalpakāḥ/
trividhaḥ kila vikalpaḥ/ svabhāvābhinirūpanānusmaraṇavikalpaḥ/ tad eṣaṃ
svabhāvavikalposti/ netarau/ tasmād avikalpakā ity ucyante/ yathā
ekapādakosvopādaka iti/ tatra svabhāvavikalpo vitarkaḥ/sa caitteṣu
paścān
nirdekṣyate/ itarau punaḥ kiṃ svabhāvau/ yathākramaṃ tau prajā mānasī
vyagrā smṛtiḥ sarvaiva mānasī//manovijānasamprayuktā prajā mānasīty
ucyate/ asamāhitā vyagrety ucyate/ sāhy abhinirūpanāvikalpaḥ/ mānasy eva
sarvā smṛtiḥ samāhitā cāsamāhitā cānusmaraṇavikalpaḥ/cf. Abhidharmakośa I
ad 32.).
Kết quả, ta c thể ni rằng quan niệm về tnh bất khả thuyết của đối tượng
tri nhận đ gy nghi ngờ nghim trọng ngay cả trong Cu X Luận mặc d c
sự kiện rằng khng c trần thuật no r rng về nghĩa chnh xc m từ
ngữ cấu trc ngn ngữ v tương tự m chỉ, như đ thấy qua thảo luận của
Thế Thn về chng ( Abhidharmakośa II ad 33a. Trong đoạn ny, Thế Thn
biết rằng tầm v tứ t ra đều l lực của ngn ngữ (vākṣamskāra). Tuy
nhin, mi đến luận thư Pacaskandhaka ng mới cố gắng định nghĩa r hai
từ ny c nghĩa chnh
xc l g. Xem Pacaskandhaka, Taishō 1612 p 849b27-29: 云 何 為 尋。 謂 能
尋 求 意 言 分 别 思 慧 差 别 令 心 麤 為 性。 云 何 為 伺。 謂 能 伺 察 意 言
分 别 思 慧 差 别 令 心 細 為 性。 ). Quan niệm mới mẻ được Thế Thn đề ra ở trn đnh
dấu một sự tch ly từ gốc rễ đối với cc quan niệm phổ biến vo thời ng.
V vậy, chẳng c g ngạc nhin khi Trần Na phải dnh trọn cả một phần
trong Pramāṇasamuccaya của ng để đnh gi.Như đ ni, quan niệm mới ny
được đề ra trong một cố gắng giải quyết nhiều
kh khăn khc nhau xuất pht từ vấn đề tri nhận v cuối cng đ dẫn đến
giả định về khi niệm tự tri. Điều kh chắc chắn l nếu tri nhận được định
nghĩa qua sự tự tri như l quan hệ đầu tin của n th điều tất yếu l tri
nhận đ phải được chỉ thị bởi tn của đối tượng m từ đ n sinh khởi. V
thế, ni rằng ti thấy th chưa đủ m phải ni thm l ti thấy ci g đ.
Khng c ci gọi l tri nhận thuần ty, tức loại tri nhận khng được đặt
tn bởi đối tượng m n tri nhận, m lun lun l tri nhận về ci g đ.
L do tại sao khng c tri nhận thuần ty m lun lun l tri nhận ci g
đ, khi tri nhận được định nghĩa qua sự tự tri, nằm ở sự kiện tự tri trong
trường hợp ny chỉ xảy ra khi tri nhận xảy ra. V nếu tri nhận khng được
chỉ thị bởi tn của đối tượng của n để phn biệt n với sự tự tri th cả
hai c thể bị trộn lẫn hon ton để trở thnh một đơn vị duy nhất v cng
nhin đồng nhất tri nhận với tự tri, một sự đồng nhất khng muốn c. Hơn
nữa, một điều thng thường l tri nhận c thể được diễn tả theo một ngn
ngữ đ cho. Nếu ti tri nhận một con ch từ trong nh chạy ra bn tay tri
ti th chắc chắn ti c thể ni như thế. V chỉ ni như thế th người
khc mới c thể biết rằng ti thật sự thấy con ch từ trong nh chạy ra.
V thế, thật khng may nếu đề ra một thuyết thuộc loại Trần Na đề nghị bởi
v khi đ một điều thng thường như thế sẽ bị bỏ qua v khng được để
đến để nhường chỗ cho một khi niệm được định sẵn no đ về những g tri
nhận phải l.
Nhưng v tri nhận được định nghĩa qua ngn ngữ m n được diễn tả, cho
nn sự tự tri cũng phải được định nghĩa qua ngn ngữ đ. V tự tri vốn l
một phần của tiến trnh tri nhận. Như vậy, ton bộ tổ hợp tri nhận v tự
tri hon ton dựa vo ngn ngữ để hoạt động, một kết luận đ rất hiển
nhin trong Cu X Luận, như đ thấy. Trong đ, Thế Thn pht biểu cng
khai cả năm thức thn đều khng nằm ngoi cấu trc ngn ngữ v chng lun
lun c km theo lời lẽ của về sự tm ti v xt đon. Tuy nhin, mi
đến khi Vādavidhi xuất hiện th sự nối
kết tri nhận với ngn ngữ mới được trnh by sung sẻ, v đợi đến khi Nhị
Thập Tụng ra đời th khi niệm tự tri mới được xem xt v bn bạc nghim
tc. Thế nhưng, việc sớm nhận ra tc dụng rất quan trọng của ngn ngữ
trong bất cứ hoạt động no được cho của tm cho thấy thuyết m tả của Thế
Thn đ xuất hiện như thế no. V thuyết ny lại sinh khởi luận l của ng
v cuối cng thc đẩy ng ti khảo st vấn đề tri nhận với khm ph đạt
được l khi niệm tự tri. Từ những g đ ni, mặc d khi niệm ny quan
trọng nhưng n lại l một sự thật phổ biến rất bnh thường m mọi người
đều xem thường, đ l nếu chng ta nhận biết ci g đ th tiến trnh nhận
biết ny xảy ra trong đầu chng ta chứ khng phải nơi no khc. Như vậy,
để biết ci g đ, ta phải cng lc biết rằng ta biết ci đ. V thế, nhận
thức ta c về thế giới ngoại tại v mọi sự vật khc xuất pht từ sự tự
nhận biết của chng ta về những thng tin được cung cấp cho chng ta qua
cc tri gic v trải qua tiến trnh xử l của khả năng tri nhận của chng
ta.
V vậy, để cho bất cứ ci g hiện hữu trn cuộc đời ny được biết đến
th n cần được phin dịch thnh cc thng tin; v những thng tin ny c
thể được xử l bởi khả năng nhận biết của chnh chng ta. Như vậy, đối
tượng được định nghĩa qua cc thng tin n cung cấp cho chng ta v những
thng tin ny được m ha theo một ngn ngữ đ cho dnh cho sự hiểu biết
của chng ta. Một khi đ đi đến một kết luận như thế, thật tự nhin cho
Thế Thn để đưa ra luận đề bất kỳ ci g hiện hữu chỉ l ci khiến ta
biết; đối tượng của n khng hiện hữu v n l sự tự tri, giống hệt như sự
nhn thấy những sợi lng v mặt trăng, v.v., của
người mắc bệnh bạch chướng nhn. Thật vậy, v bất cứ những g ta biết về
một đối tượng cũng l bất cứ thng tin no n cho chng ta v thng tin
ny, đến lượt n, sẽ định nghĩa đối tượng đ l g. Như vậy, bất cứ ci
g hiện hữu thật sự chỉ l ci khiến ta biết. Thế nhưng, nếu đ như vậy
th điều tất yếu l đối tượng được định nghĩa bởi thng tin được cung cấp
cho chng ta bởi bất cứ ci g hiện hữu ở đ chắc chắn sẽ khng hiện hữu
giống như cch hiện hữu của bất cứ ci g ở đ, bởi v đối tượng được định
nghĩa như thế chỉ l sự tri nhận ta c
về thng tin được cho chng ta. V v n chỉ l một tri nhận nn n khng
hiện hữu, bởi v theo định nghĩa th tri nhận l tự tri, v tự tri l bất
cứ ci g gip ta biết về sự c mặt của ci g đ. Tm lại, tự thn n vốn
l một dạng thng tin khng chỉ cho chnh n m cho bất cứ ci g n được
dự định chỉ đến. V thế, cần phải lưu rằng chữ đối tượng trong pht
biểu dẫn trn của Thế Thn chuyển tải trong ngn ngữ gốc của n khng chỉ
hm về đối tượng m cn cả hm về nghĩa. ( Viṃśatikā ad I. Hy
lưu rằng hai nghĩa ny chắc hẳn đ rất thng dụng vo thời Thế Thn, như
được minh chứng trong Amarasiṃha, Nāmalingānusasana, ed. Pandut Sivadatta,
Bombay: Satyabhāmābāi Pāndurang, 1944: 331 &412: II. 9.90 v III. 3. 86.)
Như vậy, về mặt ngn ngữ học đối tượng được định nghĩa qua nghĩa của n.
Bất
cứ ci g được ta ni đến như một đối tượng, n phải hm chứa một nghĩa
no
đ để ta c thể hiểu n. V lẽ n được đồng nhất hon ton với nghĩa của
n.
Ni cch khc, khi một đối tượng được định nghĩa bằng thng tin ta biết về
n,
một đối tượng như thế chắc chắn chỉ l một dạng của tự tri, v n chỉ l
một
phương tiện gip ta hướng đến ci g đ khc hơn chnh n, một ci g đ ở
bn
ngoi m ta muốn biết hay rốt cng cũng sẽ biết. Chẳng hạn như khi ta ni
về
một ngi nh, chữ nh khng chỉ lm nền tảng chỉ thị ci g đ bn ngoi
m
chng ta tnh cờ gặp phải để đồng đ l một ngi nh, m n cn lm một
knh truyền đạt thng tin gip định nghĩa ci đ. Với hai chức năng ny,
ci
được chng ta ni đến như một ngi nh chắc chắn khng hiện hữu, hoặc t
ra
khng hiện hữu theo cch hiện hữu của ci g đ ở bn ngoi, ci m chữ
ny
được dng để chỉ đến, bởi l do đơn giản l chữ nh chỉ l một m tả về
ci g
đ ở đ. Cần lưu rằng m tả được định nghĩa l một biểu tượng bất ton c thể
được
thay bằng những diễn tả thch hợp khc. L một m tả, từ ngữ chỉ c tc
dụng
truyền đạt thng tin để ci g đ bn ngoi c thể được định nghĩa v tri
nhận
đng. V vậy, những g chng ta biết về một đối tượng chỉ l những thng
tin
ny, những thng tin c khi chỉ kết lại thnh một từ v c khi nhiều hơn.
Theo
nghĩa ny, ta c thể ni rằng một đối tượng chỉ l thng tin ta biết về
n. V
pht biểu ny được diễn tả r rng bởi khả năng siu việt của Phạn ngữ
trong
chỉ một từ: artha. Đy l từ đ chuyển tải, như đ ni, hai nghĩa l
vật v
nghĩa trong suốt lịch sử. Với hm nghĩa kp ny, điều rất hiển nhin l
theo
quan điểm của Thế Thn, một đối tượng, khi được định nghĩa như thế, sẽ
khng
hiện hữu. N khng hiện hữu, v n chỉ l thng tin được dự liệu cho sự tự
tri
nhận của chng ta. Vấn đề by giờ l tại sao khi được định nghĩa như thế
n lại
khng hiện hữu, v lm thế no một tnh huống như thế lại xảy ra.
Chng ta đ thấy rằng Nhị Thập Tụng l tc phẩm đầu tin của Thế Thn cng
bố luận đề trn, ni rằng đối tượng khng hiện hữu khi được định nghĩa l
thng
tin. Vậy th thật tự nhin cho chng ta khi khảo cứu tc phẩm ny để xem
n c
cung cấp bất cứ xc minh no về một quan niệm như thế khng. Ở chương
cuối, chng ta đ thấy bằng cch no Nhị Thập Tụng cố thực hiện chnh xc
cng việc ny bằng cch chứng minh rằng ci ta biết chỉ l những thng tin
khiến chng ta biết chứ khng phải tự thn cc đối tượng. N chỉ r rằng
(1) đối
tượng ta biết c thể khng hiện hữu, th dụ những g ta thấy trong giấc
mơ, v
(2) v mọi vật lin tục thay đổi, đối tượng vốn cũng thay đổi như thế, c
thể
khng bao giờ được biết đến ngoại trừ chỉ như một hnh ảnh, tức chỉ l
thng tin
m n để lại đng sau. Với hai l do chnh ny, Nhị Thập Tụng đi đến kết
luận
rằng bất cứ ci g hiện hữu chỉ l ci khiến ta biết, như đ ni. Vậy
th r rng
n đ khng chứng minh được quan niệm của n ở mức ta mong muốn, nhất l
xt về thuyết m tả được Thế Thn trnh by trong Cu X Luận. Thật vậy, trong đ khi nối kết với vấn đề hiện hữu của qu khứ v vị lai,
Thế
Thn đ nhấn mạnh rằng một đối tượng của thức c thể khng l g cả m
chỉ
l một tn gọi, v đối tượng m n m chỉ khng cần phải hiện hữu, (
Abhidharmakośa V ad 27.) để c thể giải thch tại sao ta c thể sẵn sng
biết
v hiểu ci g đ trong qu khứ m n khng cn hiện hữu theo định nghĩa.
Như
vậy, chnh nhờ vo cc tn gọi m sự vật c thể được biết v được ghi
nhận.
Nhận xt ny đng một vai tr chủ chốt trong sự pht triển thuyết m tả
của
Thế Thn trong Cu X Luận, như đ được minh chứng đầy đủ trong thảo luận
của chng ta ở trn. Tuy nhin, điều kỳ lạ l n khng được đưa vo trong
Nhị
Thập Tụng. Kết quả, nỗ lực chứng minh luận đề bất cứ ci g hiện hữu chỉ
l
những g khiến ta biết đnh mất phần no hiệu quả của n. V sự mất mt
ny
phải đợi đến khi Tam Thập Tụng ra đời mới c thể b đắp.
Tam Thập Tụng mở đầu bằng cu ni lừng danh sự m tả về ng v php, vốn
c tc dụng theo nhiều cch, đều dựa vo sự chuyển biến của thức, v cu
ni
ny cuối cng đ dẫn đến kết luận nổi tiếng khng km l sự chuyển biến
của
thức l cấu trc ngn ngữ qua đ những g được thiết lập bằng ngn ngữ
khng
hiện hữu, v vậy bất cứ ci g hiện hữu đều chỉ l ci khiến ta biết.
(Triṃśikā
ad I & 17.) Ton bộ đời sống của một thức, bao gồm cả sự tự tri, v thế
hon
ton được quyết định bởi điều m Thế Thn gọi l cấu trc ngn ngữ.
(
Siddhasena Divākara, Sammatitarkaprakaraṇa of Siddhasena Divākara
together with Abhayadevasūris Vyākhyā, ed. Sukhalal Samghavi & Becaradāsa
Dosi, Ahmedabad: Gujarātapurātattvamandiragranthāvalī, 1928: 533;
śrotrādivṛttir avikalpiketi vindhyavāsipratyakṣalakṣaṇam anevaiva
nirastam/.
Yogasūtra I. 9: śabdajānānupātī vastuśūnyo vikalpaḥ, được bnh giải bởi
Vyāsa, Pātajala-Yogadarśanam, ed. Ram Shankar Bhattacharya, Vārānasī:
Bhāratīya Vidyā Prakāsana, 1963: 13-14.Karl H. Potter, The Encyclopedia of Indian Philosophy I, Delhi: Motilal
Banarsidas, 1970: 17.)
Vậy, cấu trc ngn ngữ l g? Để trả lời cu hỏi ny, thật khng may
l
chng ta khng c pht biểu no r rng từ chnh Thế Thn, sau khi đ tm
khắp cc tc phẩm cn giữ được của ng. Dường như những từ như cấu trc
ngn ngữ đ được sử dụng rộng ri v dễ hiểu vo thời ng, khng chỉ đối
với
những người trong giới tr thức trực tiếp của ng m cn đối với tất cả
những
người đứng đầu nhiều tng phi triết học v khoa học thuộc thời ng. Như
vậy,
chng ta c định nghĩa th vị của Vindhyavāsin, vị thầy tiếng tăm của Số
Luận
đ từng đnh bại thầy của Thế Thn trong một cuộc tranh biện, theo đ tri
nhận l hoạt động của cc gic quan như tai, v.v., m khng c cấu trc
ngn
ngữ. Một lần nữa, chng ta lại khng biết chnh xc từ ngữ cấu trc ngn
ngữ
m chỉ điều g ở đy, bởi v khng c định nghĩa no được cho.
Cố gắng hiển nhin đầu tin nhằm định nghĩa n một cch cng khai được tm
thấy trong Yogasūtra, trong đ cấu trc ngn ngữ được định nghĩa l tri
nhận
được tạo ra bởi cc từ v khng c thực thể no. Tuy nhin, thật kh xc
định
khi qut định nghĩa ny lần đầu tin xuất hiện trong đ vo khi no, mặc
d
phần đng đều nghĩ rằng ton bộ tc phầm chắc hẳn đ xuất hiện khng lu
trước khi Thế Thn ra đời. D sao đi nữa, nếu chng ta suy đon Yogasūtra
được viết giữa thế kỷ thứ III v thứ IV sdl. th n rất khớp với tnh
huống vừa
được m tả, tức những người vo thời Thế Thn đ qu quen thuộc với
nghĩa
chnh xc của từ ngữ cấu trc ngn ngữ m khng phải mất cng đưa ra
giải
thch no thm về nghĩa của n, bởi v họ biết chnh xc n c nghĩa l
g như
đ được định nghĩa trong Yogasūtra. Đ l chưa kể đến sự kiện cho d khng
c định nghĩa nghe c vẻ chuyn mn của Patajali th từ cấu trc ngn
ngữ
hnh như vẫn được xem l hm chứa những g n m chỉ ngay từ đầu, đ l
một
pht biểu c thể được diễn dịch theo cch no đ để n c thể mang nghĩa
khc
đi. Như vậy, trong Nyāyasūtra, cấu trc ngn ngữ được dng để m tả nhiều
cạm
bẫy luận l khc nhau m người ta c thể mắc phải trong tiến trnh thảo
luận
hay tranh luận (Nyāyāsūtra I.2. 10-17.). V cch dng ny r rng đ xuất
pht
từ thuật ngữ tế lễ của Mīmāṃsaka, trong đ từ ny được dng để chỉ cho tất
cc cc trường hợp trong đ một buổi lễ no đ đ c trn một nghi thức
hoặc
hai dạng khc nhau của cng một nghi thức, v chng đều c thẩm quyển như
nhau cũng như mang lại kết quả giống nhau. (Mīmāṃsāsūtra XII. 3. 10:
ekārthās tu vikalperan samuccaye hy āvṛttiḥ syāt pradhānasya//.) Những
trường hợp ny được gọi l cấu trc ngn ngữ m nghĩa của n đ qu
hiển
nhin: thật ra chỉ c một nghi thức, nhưng do cc cấu trc ngn ngữ khc
nhau
cho nn đ c hai hoặc nhiều hơn, m những nghi thức ny, trong sự phn
tch
cuối cng, đều c cng nghĩa. V thế, xt theo sự pht triển lịch sử ny,
định
nghĩa trn của Yogasūtra được minh chứng đầy đủ v lm sng tỏ thm một số
điều b ẩn chung quanh từ ngữ ny, những b ẩn đ khiến cho nhiều nh
nghin
cứu thuộc lnh vực ny phin dịch sai lạc từ ngữ trn l sự tưởng tượng
(Sylvain Lvi, Matriaux pour ltude du systme vijaptimātra, 106.).
Cấu trc ngn ngữ l ci được sản sinh bởi kiến thức từ ngữ v khng c
vật
śabdajānānupātī vastuśūnyo vikalpaḥ. Chắc chắn, nếu hai nghi thức hoặc
hai
dạng khc nhau của cng một nghi thức c cng hiệu quả như nhau v thuộc
cng một thẩm quyền như nhau trong một cuộc tế lễ được cho th chỉ c thể
nhận ra sự khc biệt duy nhất của chng nhờ vo cch dng từ của chng.
Đy
l những g khiến chng trở thnh ci m cc nh tế lễ gọi l cấu trc
ngn
ngữ. V đ l những g hm chứa trong định nghĩa đ cho của Yogasūtra.
nghĩa của từ ngữ ny v thế rất r rng t ra cho đến thời Vindhyavāsin v
Thế
Thn. Thật vậy, phần lớn những người thừa hưởng di sản triết học Thế Thn
như Bhartṛhari, Aśvabhāva, v.v, đều sử dụng rộng ri khi niệm cấu trc
ngn
ngữ m khng hề bn ring đến nghĩa của n l g (Bhartṛhari,
Vākyapadīya
III. 8.). R rng, đ l từ ngữ tiu chuẩn của ngn ngữ triết học thời đ,
v
nghĩa của n khng cn điểm mơ hồ no phải thắc mắc. Ngay cả khi Trần Na
thử thiết lập lại định nghĩa của n th trong đ vẫn khng tm thấy sự
tch ly no
đng kể đối với những g Yogasūtra đ cho. Như vậy, sau khi hỏi Vậy cấu
trc
ngn ngữ ny l g?, Trần Na cho chng ta cu trả lời như sau:
Sự kết hợp của tn gọi, chủng loại, v.v., [với một vật được tri nhận].
Trong
trường hợp cc từ c tnh chất ty nghi, một đối tượng được phn biệt bởi
một
tn gọi được diễn tả bằng một từ như Dittha. Trong trường hợp cc từ chỉ
chủng
loại, một đối tượng được phn biệt bởi một chủng loại được diễn tả bằng
một từ
như con b. Trong trường hợp cc từ chỉ tnh chất, một đối tượng được
phn
biệt bởi một tnh chất được diễn tả bằng một từ như trắng. Trong trường
hợp
cc từ chỉ hnh động, một đối tượng được phn biệt bởi một hnh động được
diễn tả bằng một từ như nấu. Trong trường hợp cc từ chỉ thực chất, một
đối
tượng được phn biệt bởi một thực chất được diễn tả bằng một từ như người
chống gậy hay người cầm ci. Ở đy, đối với những từ sau cht ny, c
người
cho rằng ci được chng diễn tả l một đối tượng được phn biệt bằng sự
quan
hệ, trong khi c người chủ trương ci được diễn tả l một vật được trần
thuật
chỉ bởi cc từ v n khng c đối tượng (Dignāga, Pramāṇasamuccaya I,
p.14a1-7.).
(đọc tiếp)
|