www.todinhlinhson.com

gp nhặt

 

Thch Tuệ Sỹ
Huyền Thoại Duy Ma Cật

những gi trị phổ qut của Bồ Tt hạnh (I)

(phần II)

(phần III)

Nhn đọc Triết Học Thế Thn bản dịch Việt
Về những minh họa từ Thiền Uyển Tập Anh
Buddhist Foundation of Economics

L Mạnh Tht

Triết Học Thế Thn (phần I)
(phần II)
(phần III)

(phần IV)

(phần V)

(Về Tự Trị - 1)
(Về Tự Trị - 2)
(Về Tự Trị - 3)
Một Số Nhận Xt Cuối Cng
Ngn Ngữ về Những G Hiện Hữu

Emperor Nhn Tng and the War of Defense

And The Trc Lm School

Thch Phước An

nh thơ của Am My Trắng ở Thế Kỷ XVIII c bi bc Phật Gio Khng?

Ton Nhật thiền sư..

Ton Nhật thiền sư (tt)

Thch Thi Ha

Giới thiệu phẩm vua Diệu Trang Nghim - Kinh Php Hoa

Bồ Tt Qun Thế m - Phẩm Phổ Mn Kinh Php Hoa

Lịch Sử Pht Triển Phật Gio Đại Thừa Bồ Tt Giới

Giới thiệu Phật Gio Đại Thừa Bồ Tt Giới Phần(1)

Phần (2)

phần (3)

giới thiệu phẩm Bồ Tt Phổ Hiền khuyến pht trong kinh Php Hoa

Hồng Dương

Lưới Tương Giao (1)

Lưới Tương Giao (2)

Lưới Tương Giao (3)

Lưới Tương Giao (4)

Đốn Ngộ Tiệm Tu

Tn L Trung Đạo

Tn v chứng trong kinh Hoa Nghim

Phn Biệt, Ngn Ngữ v Tu chứng

E Conze

V Vi v Tiến Trnh Giải Thot

Một số vấn đề trong ABHIDHARMA

 


TON NHẬT thiền sư
Với những nẻo đường ct bụi của qu hương

Thch Phước An
 

Thiền sư Ton Nhật, theo gio sư L Mạnh Tht l một nh văn, nh thơ lớn của lịch sử văn học dn tộc ta, l một nh tư tưởng lớn, c những quan điểm độc đo đầy sng tạo đối với lịch sử tư tưởng thế kỷ 18, v cũng l một vị Thiền Sư đặc biệt trong lịch sử Phật gio Việt Nam (Ton nhật quan đi ton tập, lời giới thiệu NXB Tổng hợp, TPHCM 2005.) Nhưng vẫn theo Gio sư th: cho đến nay, tn tuổi v sự nghiệp của ng đ bị chm vo qun lng.

Nhưng trước khi đi vo những tc phẩm của vị Thiền sư bị qun lng đ gần 2 thế kỷ ny, ti muốn nhn đy ni ln một cht cảm nhận của mnh đối với 3 tập Lịch Sử Phật Gio Việt Nam (LSPGVN) cũng của gio sư L Mạnh Tht. D mới c đến đời Trần Thnh Tng (1278) nhưng đ gần 3000 trang rồi. Nếu chỉ c thng kim bc cổ thi th cũng vẫn chưa đủ, m theo ti, phải c một hoi bảo, một tấm lng khng chỉ ring cho Phật Gio m cho cả dn tộc nữa, th Gio sư mới c đủ kin nhẫn để cống hiến một cng trnh đồ sộ đến như vậy.
Chng ta những người Phật Tử Việt Nam hm nay, vẫn thường tự ho rằng dn tộc ny, đất nước ny c được như ngy hm nay chnh l do sự đng gp lớn lao của những người Phật Tử từ những ngy đầu lập quốc cho đến by giờ.
Bởi vậy, Phật gio l dn tộc, v dn tộc đương nhin l Phật gio. Đng như lời ca của một thi nhn:

Việt Nam v Phật gio
Phật gio v Việt Nam
Ngn năm xương thịt kết liền
Tnh sng nghĩa biển
Mối duyn mặn nồng
Cy đa bến cũ
Hnh bng con đ
Thiết tha cn nhớ cu h
Cy đa bến cũ con đ năm xưa.
Trang sử Việt Nam yu dấu
Thơm ướp hương trầm
Nghe trong tim L L Trần
C năm cnh đạo nở bừng nguy nga
(Trụ Vũ)

Lm sao m một dn tộc đang bị chiếm đng bởi một kẻ lng giềng khổng lồ ở phương Bắc, lại c thể từng bước đứng dậy, để dnh lại được chủ quyền từ tay của kẻ xm lược để rồi cuối cng đ trở thnh một quốc gia Đại Việt độc lập v c chủ quyền?
V chắc cũng khng phải ngẫu nhin m thời no cũng c những bậc anh hng xuất chng như L Bn, Ng Quyền, L Đại Hnh, L Thường Kiệt, L Lợi, Nguyễn Tri, Ng Thời Nhiệm, Nguyễn Huệ đứng ra bảo vệ chủ quyền quốc gia dn tộc?
Chắc chắn phải c một sức mạnh tinh thần no đ đằng sau hun đc để đất nước Đại Việt mới tạo nhiều bậc anh ti như vậy.
Khng cn hồ nghi g nữa, trong những ngy đầu mới du nhập vo Việt Nam, những người Phật tử Việt Nam đ cng với dn tộc Việt Nam tạo ra sức mạnh kỳ vĩ ấy.
Ta sẽ thấy đ l điều nổi bật nhất m gio sư L Mạnh Tht muốn trnh by với những bằng chứng hiển nhin trong suốt ba tập LSPGVN của Gio sư.
Nơi Trang 503, tập 2, L Mạnh Tht viết: c người đ từng ni khng c tư tưởng cch mạng, th khng c vận động cch mạng, cũng thế, đất nước ta vo những ngy đấu tranh sống chết với kẻ th để bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, nếu khng c một hệ tư tưởng chỉ đạo, th khng thể no c cuộc vận động chnh trị thnh cng(Tất cả những đoạn trong ngoặc kp đều được trch từ LSPGVN tập 1 v 2 NXB Thuận Ha v TPHCM 1999-2001)
V nơi trang 523: v lịch sử l một sự vận động c thức của con người, th con người phải chuẩn bị một cch c thức cho cuộc vận động đ xảy ra theo hướng của mnh
Chắc chắn c một số người sẽ lập luận rằng, Phật gio d sao cũng chỉ l một hiện tượng văn ho đến từ nước ngoi, nếu Phật gio vạch ra một l thuyết rồi đứng ra chỉ đạo cuộc vận động đ th tất nhin Phật gio cũng mang một đồ p đặt một nền văn ho ngoại lai ln đầu ln cổ dn tộc Việt m thi chăng?

Phật gio đng l cũng từ nước ngoi du nhập vo, như Khổng gio vo Lo gio chẳng hạn, nhưng sở dĩ Phật gio thnh cng l v: Phật gio khim tốn khp mnh, khng ln tiếng dạy đời, khng bắt người Việt Nam bỏ hết phong tục tập qun bản địa, m vẫn tiếp thu qu khứ của người Việt, uốn nắn qu khứ đ ln để biến thnh hiện tại c lợi cho cả hai. Cho nn người Việt Nam chấp nhận Phật gio như l một yếu tố bản địa v khng xem l phần tử ngoại lai. Những người ngoại quốc đến Việt Nam như cc nh sư Ấn độ, Chim thnh, Khang Cư đều cũng phải khp mnh vo văn ho Việt, yu thương đất nước Việt như đất nước họ. Quan hệ đ dần dần tự kết chặt họ vo mảnh đất ny v Việt ho họ.

Sự đau đớn thống khổ của dn tộc v nhn loại ko di trong suốt thế kỷ 20 vừa qua bắt buộc chng ta phải đi đến một sự khẳng định mạnh mẽ rằng, một cuộc xm lăng ồ ạt bằng qun sự của một cường quốc khổng lồ vo một quốc gia nhỏ b no đ, tất nhin phải gy ra đau khổ v tang tc cho dn tộc đ rồi. Nhưng sự đau khổ tang tc v bạo lực khng nguy hiểm bằng sự đau khổ, tang tc do nọc độc của chủ thuyết hay gio điều cuồng tn gy ra, v một l do dễ hiểu l qun chiếm đng bằng bạo lực khng thể no ở mi trn đất nước m họ chiếm đng được. Cn thức hệ hay gio điều cuồng tn th c thể ở lại lu di trong tm hồn của những kẻ bệnh hoạn, những kẻ kht khao quyền lực. Những kẻ ny sẽ cấu kết lại với nhau để thực hiện cho bằng được cuồng vọng của mnh bất chấp sự thống khổ của đồng loại.

Bởi vậy, một sử gia khng c nghĩa l chỉ: tm thấy ci th kể lại những thăng trầm của cc dn tộc, cc tư tưởng, hay chp lại những chuyện buồn về ci chết của cc vua cha, m sứ mạng của một sử gia phải l: gip chng ta nhn thấy hiện tại dưới nh sng của dĩ vng như Will Durant đ ni như vậy.

Tc giả LSPGVN, với tư cch l một người con đ sanh ra v trưởng thnh trn đất nước đau khổ ny đ lm trn sứ mạng đ khi tc giả nghim khắc cảnh co: bất cứ hệ tư tưởng no khng tn trong hệ văn ho tư tưởng bản địa của người dn Việt th trước sau g cũng phải bị đo thải, d c hiện diện trn đất nước ny bao lu đi chăng nữa. Hệ tư tưởng ấy tất yếu l phải kết hợp với nền văn ho bản địa của người Việt nếu muốn tồn tại.

Vậy những người Phật gio đ cng với dn tộc Việt thời bấy giờ đ phải lm những g để dn tộc c đủ sức mạnh tinh thần nhằm ginh lại chủ quyền v nền độc lập trong những ngy đầu lập quốc?

Nếu một dn tộc bị một nước lng giềng chiếm đng v đặt nền thống trị lu di, muốn khẳng định nền độc lập của mnh bằng những ranh giới do thin nhin quy định khng chưa đủ, m trước tin phải khẳng định được rằng dn tộc mnh c một nền văn ho, phong tục, tập qun hon ton khc biệt với nước đang đặt ch thống trị trn đất nước mnh.
By giờ ta thử xem tổ tin của chng ta c đủ khả năng để khẳng định sự độc lập đ khng?
Sau khi đnh bại được cuộc khởi nghĩa của Hai B Trưng vo năm 43 sau dương lịch, M Viện đ phải vội v về lại Trung Quốc đưa ln lời tấu trnh với Thin triều Hn rằng: Hơn 10 điều luật của Việt luật khc với Hn luật. Tc giả LSPGVN đưa ra nhận xt rằng, c một bộ luật ring, thế cũng c nghĩa l bộ my cng quyền dựa trn php luật đ được hon chỉnh.
Ngoi Việt luật ra, cn c bi Việt ca, được Lưu Hướng ghi lại trong Thuyết Uyển.
Bi Việt ca ny rất phổ biến khng chỉ trong giới qu tộc m cn lan trn đến giới bnh dn của Trung Quốc vo thời đ nữa.

Tc giả LSPGVN cho rằng, bi Việt ca ny khng thể no xuất hiện chậm hơn năm 16 trước DL.
Từ đ, tc giả đưa ra một khẳng định quan trọng rằng: Vo thời Hng Vương đ xuất hiện một ngn ngữ Việt Nam, m ta c thề tm thấy trong Lục Độ Tập Kinh, trong đ cn bảo lưu trn 15 trường hợp cc cấu trc ngữ học theo văn php tiếng Việt, cung cấp cho chng ta một số lượng đng kể cc t m cho việc nghin cứu tiếng Việt cổ v phục chế lại diện mạo tiếng ni ấy cch đy 2000 năm.

Khng chỉ phục chế lại diện mạo tiếng Việt thi, m Lục Độ Tập Kinh cn: Tập thnh những chủ đề lớn của dn tộc như nhn nghĩa, trung hiếu, đất nước, mất nước lm cột sống cho chủ nghĩa nhn đạo Việt Nam v truyền thống văn ho Việt Nam. Lục Độ Tập Kinh được Khương Tăng Hội dịch vo thời Tam Quốc, từ nguyn bản Lục Độ Tập Kinh bằng tiếng Việt, gồm cả thảy 91 truyện

Nếu Lục Độ Tập Kinh được Khương Tăng Hội dịch từ một bản tiếng Việt, th chắc chắn trước đ đ c một dịch giả no đ dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Việt hay t nhất cũng cải bin những mẫu chuyện Phật gio từ tiếng Phạn sang tiếng Việt chăng?

Sau khi tiến hnh nghin cứu ngữ php tiếng Trung Quốc v tiếng Việt, nhất l khi so snh sự khc biệt về chữ Nhn, về tn ngưỡng, v đặt biệt l sự khc nhau giữa lịch php Trung Quốc v Ấn Độ tc giả đi đến kết luận rằng: Việc hnh thnh Lục Độ Tập Kinh l cả một qu trnh cải bin kinh sch Phật gio nhằm phục vụ cho yu cầu vừa truyền b Phật php vừa thực hiện chức năng gửi gấm chủ trương đấu tranh độc lập cho đất nước đến với dn tộc.
Sự cải bin quan trọng nhất l truyền thuyết về trăm trứng:
Truyện ny ta thấy c tương đương trong thin anh hng ca Mahbharat của văn học Ấn Độ. Truyền thống Ấn Độ th gọi l 100 cục thịt (mamsapesi); đến truyện trăm con của Avadana - Jataka th vẫn giữa nguyn lại 100 cục thịt ny, m Ch Khim dịch thnh nhục đon trong truyện Bch Tử Đồng Sản Duyn của soạn tập Bch Duyn Kinh 7, thực hiện khoảng năm 230 SDL. Thế m truyện 23 ny của Lục Độ Tập Kinh th vẫn giữ nguyn l 100 trứng (Non bch mai). Vậy th truyền thống về b u Cơ sanh trăm trứng ny dứt khot phải tồn tại trước thời Hai B Trưng khi biến cố năm 43 xảy ra.

V sao lại phải cải bin từng 100 cục thịt (Mamsapesi) thnh 100 trứng (Non bch mai);
Đứng trước hiểm hoạ diệt vong v cc truyền thống đ bị mai một, nn truyền thống ny đ được lồng vo khung cảnh Phật gio, v cc yếu tố bản địa Việt Nam như thế xuất hiện kh nhiều trong cc truyện của Lục Độ Tập Kinh hiện cn. Đấy phải chăng l dụng của cc nh cải bin? Vậy l ci truyền thuyết 100 trứng, ci truyền thuyết Con Lạc Chu Hồng vẫn lun lun l biểu tượng cho sự thương yu, đm bọc lấy nhau của dn tộc lại được rt ra từ Lục Độ Tập Kinh, một bộ kinh đ được Khương Tăng Hội mang từ Việt Nam qua Trung Quốc v sau đ chnh Khương Tăng Hội lại dịch sang tiếng Trung Quốc một nước đang chiếm đng nước ta. V truyền thuyết thing ling ấy lun lun được những người con ưu t của dn tộc dng đến để nhắc nhở, để thức tỉnh mỗi khi dn tộc đang đứng trước họa diệt vong của ngoại xm, như Phan Bội Chu đ từng lm như thế khi phng điếu cho ci chết của nh i quốc Phan Chu Trinh: Dn địa linh, con Lạc chu Hồng. V ci thng điệp ấy, thng điệp về lng từ bi khng điều kiện ta thấy cứ được nhắc đi nhắc lại hoi trong Lục Độ Tập Kinh:
Yu nui người vật, thương xt lũ t, vui hiền, gip người độ lượng, cứu gip chng sanh, vượt cả đất trời, thấm khắp biển sng, bố th chng sanh, người đi cho ăn, kẻ kht cho uống, lạnh cho mặc, nng cho mt, bệnh cho thuốc, xe ngựa thuyền b, cc vật chu bu, vợ con đất nước, ai xin liền cho.

Chỉ by tỏ lng thương khng chưa đủ, Lục Độ Tập Kinh cn ku gọi mỗi người hy nn nui dưỡng l tưởng Bồ Tt trong chnh mnh. Một người nui dưỡng l tưởng Bồ Tt th phải lm g? Bồ Tt thấy dn ku ca, do vậy gạt lệ, xng mnh vo nơi chnh trị h khắc để cứu dn khỏi nạn lầm than. Chnh từ bản tuyn ngn quan trọng ny của Lục Độ Tập Kinh m ta thấy sau khi cuộc chiến tranh vệ quốc của Hai B Trưng thất bại (39 - 43 SDL), lịch sử của dn tộc đ ghi lại khng biết bao nhiu những người Phật tử Việt Nam cả xuất gia lẫn tại gia thực hiện l tưởng Bồ Tt, nghĩa l Gạt lệ xng vo nơi chnh trị h khắc để cứu dn cứu nước ra khỏi cảnh n lệ lầm than. Đ l L Nam Đế, l cc Thiền sư Định Khng, La Qu, Khun Việt, Php Thuận, Vạn Hạnh, l những Phật tử tại gia, Bồ Tt giới L Cng Uẩn, L Thường Kiệt, l Trần Thi Tng, Trần Nhn Tng, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, l Ức trai Nguyễn Tri, l Hải Lượng Thiền Sư Ng Thời Nhiệm.

Nhưng li cuốn nhất vẫn l việc Lục Độ Tập Kinh của Phật gio Việt Nam đ viện dẫn tư tưởng Phật gio để tiến hnh ph phn Nho gio, một hệ tư tưởng vẫn được xem l tiu biểu nhất v thực dụng nhất trong việc Tề gia, trị quốc, Bnh thin hạ:
Ti ở đời lu năm, tuy thấy Nho sĩ chứa đức lm lnh, h c bằng được đệ tử của Đức Phật qun mnh cứu người m khng nu tn.

Với lời nhận định trn của Lục Độ Tập Kinh, ta thử lm một cuộc so snh giữa những người Phật tử Việt Nam v cc Nho sĩ của Khổng gio từ những thế kỷ đầu lập quốc đến thời cận đại để xem lời nhận định trn c chnh xc hay khng?

C hai cu thơ sau đy của một Nho sĩ đồng thời cũng l một thi sĩ nổi tiếng ở thế kỷ 19 c thể lm sng tỏ thm cho lời ph phn trn của Lục Độ Tập Kinh;
Lm trai đứng giữa trong trời đất
Phải c danh g với ni sng
(Nguyễn Cng Trứ)

Vậy l đ r, mục đch chnh của cc nh Nho l Phải c danh g với ni sng, trong khi đ đại nguyện của những người Phật tử l Gạt lệ xng vo nơi chnh trị h khắt để cứu dn ra khỏi nạn lầm than. Cho nn cũng chẳng c g lạ, khi ta thấy trong suốt lịch sử đấu tranh dựng nước v giữ nước của dn tộc lịch sử gần như vắng bng những nh Nho dm hy sinh qun mnh để cứu dn cứu nước ra khỏi chốn lầm than, ngoại trừ hai nh Nho tiếng tăm lừng lẫy l Nguyễn Tri ở thế kỷ 15 v Ng thời Nhiệm ở thế kỳ 18. Nhưng cả hai, Nguyễn Tri v Ng thời Nhiệm đều thấy sự bế tắc v chn ngn của ci học Phải c danh g với ni sng của Nho gio v đ trở về với Phật gio để tho gỡ ci bế tắc ấy.

Ng Thời Nhiệm đ tự nhận l Hải Lượng thiền Sư, v đ vứt bỏ Ngu Trung của Nho gio để gip cho Quang Trung Nguyễn Huệ, một người nng dn, đnh tan 29 vạn qun Thanh. Cn Nguyễn Tri, d khng nhận mnh l Thiền sư như Ng Thời Nhiệm, nhưng qua sự nghiệp thơ văn v nhất l cả cuộc đời hy sinh qun mnh thấy dn ku ca, gạt lệ xng vo nơi chnh trị h khắc để cứu dn ra khỏi nạn lầm than.

V ta c thể xem Nguyễn Tri l người đ thể hiện đng nghĩa nhất l tưởng Bồ Tt m Lục Độ Tập Kinh đ đề ra, m trước đ Trần Thi Tng thuyền sư, Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng đ lm như vậy đối với đời nh Trần oanh liệt. Lục Độ Tập Kinh cũng ghi lại cuộc trao đổi lạ lng giữa một bn l nh Nho v một bn l cc Phạm Ch, để rồi cuối cng cc nh Nho phải ci đầu th nhận rằng, sự hiểu biết của mnh chẳng c nghĩa g hết, v đ tn những Phạm Ch lm thầy:
Cc Nho sĩ hỏi đạo cao (Phạm Ch) đp đạo su; hỏi nghĩa hẹp th giải thch nghĩa rộng. Cc Nho sĩ ni: Người ny đạo cao tr xa, c thể lm thầy được.

Khi bnh luận về cuộc đối thoại trn, tc giả LSPGVN đ kết luận: Quả l một đn sấm st đnh bạt những xum xoe của hng nho gia sĩ thứ.
Chỉ từ hai mẫu đối thoại trn thi, ta cũng c thể thấy rằng, nền văn ho của dn tộc Việt trước cuộc khởi nghĩa của Hai B Trưng (39 - 43 sdl) đ pht triển kh cao dưới sự hỗ trợ tch cực (chưa muốn ni l chỉ đạo) của Phật gio. Khng chỉ khẳng định bản lĩnh nền văn ho của chnh dn tộc mnh, m cn tỏ ra coi thường những g được coi như l tinh hoa nhất của nền văn ho Thin triều. Quả đng như lời tc giả LSPGVN: Một đn xấm st đnh bạt những xum xoe của hng nho gia sĩ thứ.

Bởi vậy, ta chẳng lấy g lm lạ, khi những dị nhn phương Bắc đến lnh nạn tại nước ta, đều bị nền văn ho ấy chinh phục mạnh mẽ, tiu biểu trong số ấy l Chu Ph, người đ vứt điển huấn của Thnh trước, bỏ php luật của Hn gia, để sống v suy nghĩ theo lối sống v suy nghĩ mới của đất Giao Chu.

Nhưng nổi bậc nhất trong số những dị nhn ấy vẫn l Mu Tử, trong tc phẩm lừng danh của mnh, tc phẩm L Hoặc Luận, tc phẩm m L Mạnh Tht đ đnh gi l: tc phẩm l luận gối đầu giường của Phật gio Viễn Đng m cụ thể l Trung Quốc v Nhật Bản, cn đối với lịch sử tư tưởng dn tộc Việt th n l một tc phẩm l luận c một vị tr xung yếu.
Vậy ta thử xem L Hoặc Luận của Mu Tử nu ln những vấn đề g để tc phẩm c một vị tr xung yếu như thế?

Khi c người hỏi: con đường của Phật gio l g, th được Mu Tử trả lời: Con đường đ ở nh th c thể thờ cha mẹ, lm chủ nước th c thể trị dn, ở một mnh th c thể tự sửa thn. Chỉ một cu ni ngắn gọn nhưng v cng sc tch trn của Mu Tử đ v hiệu ho tất cả lng tự mn của cc nh Nho xưa nay. Cc nh Nho cứ nghĩ rằng, chỉ c Nho gio mới c tnh cch thực dụng, v chỉ c Nho gio thi mới tập trung giải quyết những vấn đề bức thiết nhất của cuộc sống hiện tại. Cn cc hệ tư tưởng khc (như Phật gio chẳng hạn), th chỉ bn những chuyện viễn vong, thiếu thực tế, chẳng gip ch g cho đời sống hiện tại cả (vị tri sanh, yển tri tử ).

Ni cch khc, khi con đường của đạo Phật l: ở nh c thể thờ cha mẹ, lm chủ nước th c thể trị dn, ở một mnh th c thể tự sửa thn th tư tưởng để Khổng gio cải tạo x hội như l tề gia, trị quốc bnh thin hạ khng cn một gi trị g nữa đối với Phật gio ni ring v dn tộc Việt ni chung, v Phật gio chẳng những đ c thể lm được cng việc đ, m cn c thể lm tốt hơn Khổng gio nữa.

Trong L Hoặc Luận, mặc d Mu Tử chỉ bn sự lin hệ giữa Phật gio v Khổng gio, nhưng đọc thật kỹ những lời giải đp của Mu Tử cch đy đ gần 2000 năm đến by giờ vẫn cn gi trị nguyn vẹn đối với những người hay thắc mắc về một rừng kinh điển của Phật gio:
Khi c người hỏi: Thnh nhn chế ra 7 bộ kinh, chẳng qua ba vạn lời m mọi việc đều đầy đủ. Nay kinh Phật, quyển số kể đến vạn, lời đếm tới triệu, khng phải một sức người c thể kham nổi. Ti cho l phiền phức m khng thiết yếu.

Mu Tử đp: Sng biển sở dĩ khc với knh rạch l v chng su rộng, ni Ngũ Nhạc sở dĩ khc với g đống l v chng cao (), kinh Phật trước ni sự việc hng ức năm lại dạy yếu l của mun đời. Thi tổ chưa nổi, Thi thỉ chưa sinh, trời đất mới dựng, nhỏ khng thể nắm, b khng thể vo, th Phật đ bao trm bn ngoi sự rộng lớn, đ chia xẻ sự b nhỏ bn trong, chẳng chi l khng ghi chp. Cho nn, kinh quyển kể hng vạn, lời đếm hng ức, cng nhiều cng đủ, cng lắm cng giu. C chi l khng thiết yếu? Tuy một người khng kham nổi, v như đến sng uống nước, uống no tự đủ, đu cn biết chỗ thừa ư?
Trả lời cu hỏi khng những kinh Phật đ qu nhiều rồi m phần nhiều chỉ l hoa mỹ, người thắc mắc đề nghị nn bỏ những điều thừa đ đi, thay vo đ nn ni thẳng vo chỗ thiết thực, th Mu Tử trả lời như sau: Khng được đu! Ka trời trăng, đều sng, mỗi chỗ c chỗ chiếu; 28 v sao, mỗi ngi c chỗ chủ của n. Trăm vị thuốc đều sinh ra, mỗi vị c chỗ chữa của n. Sau đ, Mu Tử ni rằng, Khổng gio cũng thế, nghĩa l Khổng Tử cũng chưa cho Năm Kinh l đủ lại phải viết thm Xun Thu, Hiếu Kinh, l muốn mở rộng, thỏa mn lng người vậy. Cn kinh Phật tuy nhiều, cũng đều quy về một mối.

Đối với lời chỉ trch rằng: Mu Tử đ lấy lời kinh truyện, thuyết hoa mỹ để khen gợi hạnh Phật, xưng tụng Đức Phật cao đến my xanh, rộng qu mặt đất, h khng vượt ci vốn m qu sự thực khng? Người hỏi cn tự đề cao chng ti ch kh đng chỗ, chẩn kh đng bệnh.
Mu Tử trả lời: Than i! Chỗ ti khen như lấy ct bụi m đấp Tung, Thi, lấy sương sớm đổ vo sng be; chỗ ng ch như cầm bầu lọ muốn vơi sng biển, đem cy bừa muốn co Cn Ln, nghing bn tay đi che mặt trời, cầm cục đất đi lấp sng Hong. Ti c khen, khng thể khiến Phật cao hơn, ng c huỷ bng th cũng khng v thế m khiến đức Phật thấp xuống vậy.
Đại khi tất cả những lời hỏi đp đều xoay quanh vấn đề giữa Phật gio v Nho gio. Nhưng đến cu chất vấn thứ 14, d cũng lin quan đến Phật gio v Khổng gio nhưng lại trở thnh nghim trọng hơn. Sở dĩ n trở thnh nghim trọng v vấn đề được đặt ra khng phải chỉ xảy ra vo thời đại của Mu Tử, nghĩa l cch đy hơn 18 thế kỷ, m ngay cả đến đầu thế kỷ 21 ny, dường như ci bng ma đ vẫn cn m ảnh một phần nhn loại. Đ l chủ nghĩa S-vanh l lng tự cao tự đại về ni giống mnh, về dn tộc mnh, xem dn tộc khc l man di mọi rợ, tự nhận mnh c trch nhiệm phải đi khai ho, đi lm nghĩa vụ quốc tế.

Cu hỏi đ như thế ny: Khổng Tử ni: Mọi rợ c vua khng bằng cc nước Hạ mất vua, Mạnh Tử ch Trần Tương học ci thuật của Hứa Hnh, ni: Ta nghe dng Hạ để biến cải man di, chưa từng nghe man di đi biến cải Hạ. ng từ nhỏ học đạo Nghiu, Thuấn, Chu, Khổng m ngy nay lại bỏ để đi học ci thuật của man di mọi rợ, chẳng đ lầm rồi sao?
Mu Tử đp: Đ l lời thừa khi ti chưa hiểu đạo lớn vậy. Như ng c thể gọi l thấy vẻ đẹp của lễ chế m khng biết thực chất của đạo đức, thấy đuốc sng, m chưa thấy mặt trời giữa trưa. Lời ni của Khổng Tử l để uốn ngay php đời vậy. Mạnh Kha ni v ght sự chuyn nhất thi. Xưa Khổng Tử ở nơi chn mọi, ni rằng: Người qun tử ở đy th c chi l thối nt? Đến khi Trọng Ni khng được dung thn ở nước Lỗ, nước Vệ. Mạnh Kha khng được dng ở nước Tề, nước Lương, h cc ngi lại lm kẻ sĩ ở nơi man mọi hay sao? Vũ Di ra từ Ty Khương m thnh thnh triết. Cổ Tẩu sinh vua Thuấn m ương ngu. Do Dư sinh ở Địch m lm cho nước Tần b chủ. Quản Thc Tin v Si Thc Độ từ đất H Lạc m ni phản loạn. Tả truyện: Sao Phương Bắc ở trn trời l chnh giữa, ở tại người l Phương Bắc. Lấy đấy m xem đất Hn chưa hẳn l trung tm trời đất vậy. Kinh Phật giảng dạy, trn dưới trm khắp, loi vật hm huyết đều thuộc về Phật cả. Cho nn ta lại tn knh m học lấy, sao lại bảo phải bỏ ci đạo của Nghiu, Thuấn, Chu, Khổng (). Ngọc khng tổn thương lẫn nhau. Chu Tuỳ v Ngọc Bch khng hại lẫn nhau. Bảo người ta lầm khi chnh tự mnh lầm vậy (Nghin cứu về Mu Tử, L Mạnh Tht, Tu thư Vạn Hạnh 1982.).

Khi Mu Tử trả lời: Đ l lời thừa khi ti chưa hiểu đạo lớn, thế c nghĩa l Mu Tử muốn ni rằng khi ng chưa hiểu đạo lớn (tức Đạo Phật), th Mu Tử cũng c ci lập luận đầy ngu xuẩn như người đang đối thoại với ng vậy. Nhưng sau khi đ dốc ch vo Đạo Phật (ư thị nhuệ ch ư Phật đạo) th ng bỏ được lối suy nghĩ ngu xuẩn ấy, v Kinh Phật dạy rằng: Trn dưới trm khắp, loi vật hm huyết đều thuộc về Phật cả (Phật kinh sở thuyết thượng hạ chu cực hm huyết chi loại vật giai thuộc Phật yn).

Nếu đ tự nhận dn tộc mnh đang sở hữu một nền văn ho vĩ đại, đang đứng trn đỉnh cao của tr tuệ loi người th phải rao giảng sự bnh đẳng giữa cc chủng loại, cc dn tộc chứ sao lại rao giảng sự kỳ thị phn biệt? Phải rao giảng tnh thương yu, lng nhn i chứ sao lại rao giảng sự hận th? Quả l một đn ch mạng ging vo sự ngu si xuẩn ngốc của những kẻ nhn danh văn ha Chu Khổng để miệt thị dn tộc khc l man di mọi rợ (di địch).
Đối với lng kiu ngạo về dn tộc của người Hn thời bấy giờ tự nhận mnh l Trung Quốc tức nước Ở giữa. Ở giữa ở đy khng phải chỉ ở giữa đối với con người đối với cc dn tộc khc, m cũng c nghĩa l trung tm cả với trời đất nữa.

Để đối trị lại, Mu Tử trch một cu trong Tả truyện: Sao Phương Bắc ở trn trời l chnh giữa, ở tại người l Phương Bắc (Bắc thần chi tinh, tại thin chi trung, tại nhn chi Bắc).
Từ l luận đanh thp ny, Mu Tử đặt nghi vấn: Đất Hn chưa hẳn đ l trung tm của trời đất(Hn địa vị tất vi thin trung d).

Đy khng cn l hoi nghi hay giả thuyết nữa, m khi viết như vậy Mu Tử đ phủ nhận triệt để hay ni đng ra l Mu Tử đ tống cổ người Hn ra khỏi ci trung tm do chnh họ l tc giả ấy rồi.

Ta c thể tạm l luận như thế ny:
Khi anh đ khng cn ở tại trung tm nữa th tất nhin anh phải ở một phương no đ, như phương Bắc chẳng hạn. Nếu anh đ ở phương Bắc tất nhin ti l người đang ở phương Nam. Nghĩa l tất cả chng ta đều giống nhau, đều bnh đẳng với nhau. Khng c phương Ty cao hơn phương Đng v ngược lại. Khi đ ngang nhau rồi th chẳng ai c quyền nhn danh bất cứ ci g để đi khai ho ai cả.

Sự xc định Nam Bắc ny theo tc giả LSPGVN l rất quan trọng:
V đ trở thnh một phạm tr xung yếu trong lịch sử dn tộc ta, m đỉnh cao l sự xuất hiện của đế hiệu Nam Đế của L Bn 544, v sau đ l quốc hiệu Nam quốc trong tuyn ngn độc lập năm 980 của L Đại Hnh:
Nam Quốc Sơn H Nam Đế Cư
Tiệt nhin định phận tại thin thư
Như h nghịch lộ lai xm phạm
Nhữ đẳng hnh khan thủ bại hư

N đi hỏi một lối nhận thức mới, một đnh gi mới về vị tr của một quốc gia ở pha Bắc nước ta, cũng như vị tr dn tộc ta trong quan hệ với quốc gia đ. Điều ny đnh dấu trnh độ nhận thức chnh trị vo thời Mu Tử đ đạt tới một nhận thức cao để vượt ln v định ra được vị tr của mnh cũng như kẻ th mnh v quan hệ tương tc của chng.

Bi thơ trn thường được gọi l bi thơ thần hay Nam Quốc sơn h tc giả l L Thường Kiệt xuất hiện trong cuộc chiến tranh với Tống triều 1076. Nhưng tc giả LSPGVN lại cho rằng, sở dĩ c sự sai lầm như thế l do Ng Sĩ Lin đời L Thnh Tng đ lấy thng tin từ thế truyền rồi đưa vo Đại Việt Sử K Ton Thư. Nhưng theo Lĩnh Nam Chch Qui, tc phẩm được viết vo thế kỷ 14 khoảng cuối đời Trần, th bi thơ thần ny đ xuất hiện trong cuộc chiến tranh 981 dưới sự lnh đạo của vua L Đại Hnh. Hai bộ sử bằng tiếng Việt ở thế kỷ 16 v 17 v Việt sử Diễn m v Thin Nam Ngữ Lục cũng đều c một kết luận như vậy, v tc giả của bi thơ khng ai khc hơn chnh l Thiền sư Php Thuận, người m đ ni r cho vua L Đại Hnh biết l vận nước di hay ngắn l do người lnh đạo quyết định, nghĩa l người lnh đạo c đủ ti v đức để nối kết lng dn lại với nhau hay khng.
Cho nn, nếu coi bi thơ thần ấy xuất hiện vo năm 1076 th thật cũng lạ lng l nước ta độc lập đ gần hai thế kỷ mới c tuyn ngn độc lập sao?
Khng cn hồ nghi g nữa, đy l cu hỏi rất hợp l để trả bi thơ Thần trn về lại cho cuộc chiến 981 vậy.

Từ những sự khẳng định lin tục của những biến cố lịch sử từ 544 đến 981 với L Nam đế rồi Nam Quốc sơn h ta mới thấy hết tất cả tầm vc vĩ đại của Mu Tử. Cho nn ta chẳng lấy g lm lạ khi tc giả LSPGVN lưu chng ta nhiều lần rằng: Phải đặt những quan điểm của Mu Tử qua L Hoặc Luận trong khng kh học thuật của thời đ mới thấy được gi trị của n. Tch rời n ra ngoi cc khng kh học thuật v hon cảnh m n ra đời th ta khng hiểu g được. Những sai lầm của cc học giả trước đy l đ qun mất lợi điểm ny, chỉ nhn thấy L Hoặc Luận từ gc độ của người Trung Quốc.
Vậy cc khng kh học thuật của thời Mu Tử l thế no?
Thi Thư được dạy như l những lời dạy bất di bất dịch của Thnh hiền, cộng thm những người diễn giảng như Lưu Huy v Tiết Tn ny sng bi Thi Thư như chn l, v tn knh Đất Hn l trung tm của trời đất, ngoi đất Hn ra th khng c đất no khc. Một bn l Mu Tử thẳng thừng tuyn bố Thi Thư chưa hẳn l lời của Thnh hiền v Đất Hn chưa chắc l trung tm của trời đất, lm nn những c đnh sấm st đ ph ngay cc quan điểm hẹp hi, độc tn ấy.

Đ l vị tr Mu Tử của Giao Chu cn trn vũ đi của thế giới th Mu Tử đứng ở nơi no?
Dường như tnh hnh chnh trị của nước ta dưới thời Mu Tử, cũng c g đ tương tự như u chu dưới thời m c sử gia gọi l thời trung cổ. Nghĩa l cũng như nh Hn, cc Nho sĩ đ xem Thi Thư như l chn l tuyệt đối của Thnh hiền, th u chu thời trung cổ gio hội La m cũng lợi dụng Thnh kinh (Bible) như l chn l tuyệt đối để thống trị. Giai cấp qu tộc v Tăng lữ đ cấu kết với nhau để vơ vt của cải của quốc gia, sống xa hoa sa đọa trn sự đau khổ của thần dn.
Khng thể chịu đựng được những nh tr thức cn một cht lương tri bị bắt buộc phải ln tiếng. Đầu tin họ bắt đầu chế nhạo cc nghi lễ c tnh cch khi hi của gio hội, Wyeliffe (1320 1384) cho rằng việc gio hội ni ăn bnh thnh được cc linh mục cho cc con chin ăn trong lc lễ bi sẽ biến thnh xương thịt của Jesus l hon ton lo khot. Sau đ, tại Tiệp Khắc mn đệ của Wyeliffe l Jean Huss h ho tự do tư tưởng, tự do tn gio, đi truy cứu lại tất cả lời dạy của Jesus trong Kinh thnh.

Năm 1513 Jean Huss bị gio hội thiu sống, khng đầy một năm sau (1514) mn đệ của Jean Huss l Jerme de Prague cũng cng một số phận bi thảm như ng, nghĩa l cũng bị thiu sống. Nhưng phong tro Jean Huss vẫn pht triển khắp nơi, nhất l ở Bohme. Nhưng rồi cuối cng th gio hội đ phải nhn danh Thnh chiến m dẹp tan.
C qu lắm khng, khi sử gia Tom Paine cũng l chnh trị gia lỗi lạc người Mỹ gốc Anh đ tuyn bố thẳng thừng rằng: The Age of ignorance commenced with Christian system. Chắc l khng qu lắm, v chẳng phải trước Galil một phần của nhn loại đ bị đầu độc một cch ngu si rằng tri đất l trung tm của vũ trụ, v mặt trời th xoay quanh n. Nhưng khi Galil đnh chnh lại, nghĩa l đng với sự thật, nhưng chỉ tri với Thnh kinh thi, th bắt đầu từ năm 1633 nhn loại lại phải chứng kiến một sự thật đau lng v sự ngu si đ được chnh thức ln ngi, ngy 21 thng 06 năm 1633, Galil nh vật l học, triết học, ton học v thin văn học của Italia đ bị giải đến Rma, bị bắt buộc phải thừa nhận l mnh đ bn bổ Thnh kinh nghĩa l những g Thnh kinh ni mới l chn l, cn những g m Galil vừa cng bố l sai lầm. Truyền thuyết ni rằng, khi rời to nh xử n, Galil với dng lom khom v gi cả, nhưng lại nhất định khng chịu lom khom trước quyền lực ngu si, đ lẩm bẩm trong miệng rằng: Dầu sao th tri đất vẫn đang quay (Eppur si muove)

Nếu lịch sử của u chu đ hết lng ca ngợi v tn vinh những Wyeliffe, Jean Huss, Jerme de Prague v nhất l Galil như những kẻ đ oanh liệt chống trả lại những kẻ đ lợi dụng Thnh kinh để gieo rắc sự ngu si tăm tối trn đầu nhn loại như l những vĩ nhn, th nhất định Mu Tử của Việt Nam cũng đứng vo hng ngũ của những vĩ nhn ấy, v Mu Tử cũng chống trả lại một cch quyết liệt một loại Vatican khc của Viễn Đng Một đất Hn l trung tm của đất trời, nhưng nếu ni vĩ đại th chắc chắn Mu Tử phải vĩ đại hơn, v Mu Tử mới l kẻ tin phong. Phải đợi đến gần 13 thế kỷ sau th những nh tr thức của Ty phương ny mới ln tiếng tố co những kẻ đ rắp tm đưa nhn loại trở lại thời đồ đ để dễ bề thống trị.
Nhn chuyện Mu Tử đến tị nạn rồi dốc ch học Phật tại Giao Chu. Sau đ lại viết L Hoặc Luận (đ trnh by ở trn) một tc phẩm l luận khng chỉ l đầu tin của Phật gio Việt Nam ở thế kỷ thứ 2 m gần như l cả khu vực Viễn Đng nữa. Chnh từ sự hnh diện ny, một lần nữa, cu hỏi: Vậy Phật gio đ truyền đến nước ta từ thời no? Lại c dịp trỗi dậy trong mỗi người chng ta, những người m chẳng phải đ chỉ hnh diện thi m cn mong ước một ngy mai tươi sng để Phật Gio Việt Nam xứng đng với ci qu khứ oanh liệt đ nữa sao? Thực ra, theo tc giả LSPGVN Đy l cu hỏi, khng phải đợi đến thời đại chng ta mới đặt ra, m đ xuất hiện từ hng ngn năm trước. Tối thiểu, vo năm 1096 Hong thi hậu Ỷ Lan đ nu ln v được Quốc sư Thng Biện trả lời như sau, dẫn lời của Đm Thin: Xứ Giao Chu đường thng với Thin Trc (Ấn Độ). Khi Phật php chưa tới Giang Đng (nước Tề) th ở Luy Lu (Kinh đ của Giao Chỉ, nay l lng Lũng Kh ở phủ Thuận Thnh, tỉnh Bắc Ninh), đ c xy hơn 20 ngi cha, chọn hơn 500 vị tăng, v tụng 15 ngn quyển kinh rồi. V đ, m người ta đ ni rằng Giao Chu theo Phật trước chng ta. Lc ấy đ c những vị như Ma Ha K Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lưu Chi v Mu Tử ở đ.

By giờ ta xem thử tc giả LSPGVN c giải tỏa phần no nỗi thắc mắc của Phật tử Việt Nam từ hơn một ngn năm nay khng?

Ngoi chứng cớ ni rằng người Giao Chu của chng ta đ biết trồng hoa Uất kim hương Tulip cng Phật như được Dương Ph trong Nam Duệ Di Vật (hay Nam Chu). Một thng tin được xem như sớm nhất, xuất hiện khoảng 100 sdl ra, th theo ti cc thng tin sau đy lại cũng c thể rất chnh xc?

1) Trước hết, tc giả dẫn chuyện Nhất Dạ Trạch trong Lĩnh Nam Chch Qui tc phẩm của đời Trần. Theo đ, Chữ Đồng Tử, chồng của Tin Dung Mỵ Nương (Con của Vua Hng) được một nh sư tn l Phật Quang truyền dạy đạo Phật tại một ngi cha ở ni Quỳnh Vin. Ni Quỳnh Vin ny m hầu hết cc nh nghin cứu Việt Nam (trong đ c nhm chủ bin thơ văn L Trần) trong tập 3 đ ch thch l: Một quả ni trong thần thoại. Nhưng tc giả LSPGVN đ bc bỏ quan điểm đ, v xc nhận rằng, ni Quỳnh Vin l hn ni c thật. Tc giả dẫn chứng hai cu thơ của Vua L Thnh Tng c tn l Nam Giới Hải Mn, được nh vua sng tc vo năm 1470, khi L Thnh Tng ko qun đi chinh phạt Chim Thnh:
Di miếu man truyền Kim Vũ Mục
Danh Sơn do thuyết cổ Quỳnh Vin
Di miếu cn truyền nay Vũ Mục
Danh sơn vẫn nhắc cổ Quỳnh Vin

Tc giả cho rằng: Vũ Mục l chỉ cho tướng L Khi, chu ruột của L Lợi. Năm Thi Ho thứ 2 (1444) đi đnh Chim Thnh, bắt được vua Chim l B Ci, khi trở về đến cửa biển Nam giới th mất. Dn chng thương nhớ, lập đền thờ tại cửa biển ny. Cửa biển ny được dn địa phương gọi nm na l cửa St (H Tỉnh), cn ni Quỳnh Vin th nằm ở pha Nam cửa biển ny v từ thời L Thnh Tng đ được xc nhận l một danh sơn, tức hn ni c tiếng tăm của đất nước. Bởi vậy, nn tc giả khẳng định rằng: N dứt khot khng phải l một ngọn ni thần thoại, cng khng phải l một hn ni khng c địa điểm cụ thể tại đất nước ta. N quả l một hn ni nằm tại cửa St. V trn ni Quỳnh Vin ny cn c một ngi cha.
Chỉ c việc tc giả dẫn chứng được ni Quỳnh Vin l một hn ni c thật chứ khng phải hn ni thần thoại thi, th vấn đề Phật Gio được truyền vo nước ta vo thời đại Hng Vương đ được h mở một phần no rồi.

2) Tc giả trch một cu viết của Lưu Hn Kỳ trong Giao Chu K: Thnh N L ở pha Đng Nam huyện An Định cch sng bảy dặm, thp v giảng đường do vua A Dục dựng vẫn cn. Những người đốn củi thường gọi l Kim Tượng.
Điều quan trọng l phải xc định được thnh N L thuộc huyện An Định nằm ở đu? v c phải huyện An Định l một huyện của nước ta hay khng? Tc giả LSPGVN dẫn chứng:
Ti liệu sớm nhất nhắc tới thnh ny l Thuỷ Kinh Ch quyển 37 của L Đạo Nguyn: Bến đ Quan Tắc pht xuất từ đ, xong n từ pha Đng huyện đi qua huyện An Định v Trường Giang của Bắc Đi. Trong sng c nơi vua Việt Vương đc thuyền đồng. Khi nước triều rt, người ta cn thấy dấu vết. Sng lại chảy về pha Đng, cch sng c thnh N L, m người ta bảo l do vua A Dục dựng.
Theo Tiền Hn Thư 28 (hạ) th huyện An Định l một trong mười một huyện thuộc quận Giao Chỉ, gồm c Luy Lu, Lin Lu, Ph Lầu, M Linh, Khc Dương, Khc Bắc Đi, Khể Từ, Ty Vu, Long Bin, Chu Din v An Định. Sau đ, An Định lại được đổi lại thnh Định An. V cứ như vậy trong vng năm thế kỷ, danh xưng Định An hay An Định cứ thay đổi nhau để chỉ cho một vng đất, một huyện của Giao Chỉ.

Sau khi đ nhắc đến Claude Madrolle, trong Tokin ancient (1937), cho rằng thnh N L tức thnh bn đen, v đi đến giả thuyết N L chnh l vng Đồ Sơn thuộc Hải Phng ngy nay. Nhưng tc giả LSPGVN cho rằng giả thuyết ny khng đng, v N L hiểu nghĩa bn đen tất nhin khng ph hợp với văn phạm chữ Hn. Bởi v nếu hiểu N l bn, v L l mu đen, th thnh ny c tn l L N, chứ khng phải l N L. Hơn nữa cụm từ N L trong Hn văn thường được dng như một phin m của chữ naraka của tiếng Phạn, v naraka lại c nghĩa l địa ngục.

Vậy nếu thnh N L khng nằm ở Đồ Sơn thuộc thnh phố Hải Phng, th theo tc giả n nằm ở đu? Tại vng ni Tam Đảo c ba ngọn cao nhất l Thạch Bn, Ph Nghĩa v Thin Kỳ. Trong đ, giữa chn ngọn Thạch Bn, tại lng Sơn Đỉnh, c ngi cha tn l Ty Thin. Cha ny tương truyền l c lin hệ với vua Hng v c một bản Ngọc phả về vua Hng thờ tại đy. Điều li cuốn l cha Ty Thin ny lại c tn nm na l cha Địa Ngục. Đ l cha th thiếu g tn tại sao lại c thể tn l Địa Ngục, phải chăng do từ chữ Phạn naraka m ra? Huyện An Định do thế c khả năng nằm tại vng ni Tam Đảo ny chăng?.
D giả thiết như thế nhưng tc giả cũng tạm đi đến kết luận: Trước mắt cha Địa Ngục m cũng cn gọi l cha Ty Thin ny đ m chỉ t nhiều đến thnh N L của huyện An Định. Cần lưu rằng huyện An Định ở quanh vng ni Tam Đảo, v cũng chnh nơi đy, đ c thnh Cổ Loa xưa, m việc khai quật được những mũi tn đồng đ biểu hiện t nhiều tnh cổ sơ của huyện ny. Ni thẳng ra, những di liệu khảo cổ học như thế chứng tỏ vng đất ny từ thời Hng Vương đ từng l trung tm chnh trị v qun sự của chnh quyền Lạc Việt.
Khi xuất bản tập 2 (2001) tc giả LSPGVN lại bổ tc thm thng tin về ngi cha c tn l Ty Thin hay Địa Ngục ny. Trong Kiến Văn Tiểu Lục, L Qu Đn viết: Ni Tam Đảo ở địa phận x Lan Đnh v Sơn Đỉnh huyện Tam Dương () sườn ni c cha cổ Ty Thin () trn đỉnh ni c cha cổ Đồng Cổ (). Suối từ sườn ni chảy ra. Cha bn phải ny vung vắn hơn một trượng, tượng ton bằng đ, cnh cửa hai bn kho chặt lại bằng kho sắt lớn, trn c vin đ khắc chữ triện Địa Ngục tự, khng biết dựng từ thời no?

3) V một bằng chứng nữa cho thấy Phật gio đ đến nước ta từ thời Hng Vương, nghĩa l những thế kỷ trước Cng nguyn: Trong cc loại thần tch của cc x, ta biết trong số cc tướng t của Hai B Trưng (m tc giả cho rằng l triều đại cuối cng của cc vua Hng tồn tại đến 39 43 sdl) sau khi bị M Viện đnh bại, một số đ mai danh ẩn tch trong cc gio đon Phật gio. Một trong những vị ny được biết tn l Bt Nn Phu Nhn đ xuất gia. Trong tập 2 lại bổ tc thm, một số nữ tướng nữa cũng rt vo cc cha như nữ tướng Tin La, nữ tướng Thiều Hoa, sinh ngy mng 2 thng ging năm Qu Tỵ (3 sdl). 16 tuổi cha mẹ đều mất, nn đ vo cha Phc Khnh tức cha lng Hiền Quang ngy nay. Khi nghe Hai B Trưng đnh đuổi T Định, b Thiều Hoa đ chiu mộ được 500 qun về hưởng ứng. Sau khi thắng trận, b Thiều Hoa trở lại cha v mất sau đ một năm tức 37 sdl. Ngy nay đền thờ b Thiều Hoa vẫn cn tại lng Hiền Quang huyện Tam Tỉnh tỉnh Ph Thọ. Ở to tiền tế của đền cn treo bức đại tự Diệt Bạo Tướng Qun v nhiều cu đối ni về việc b đ tu v chết tại cha Phc Khnh cng việc b đ lm phụ t cho Hai B Trưng. B Thiều Hoa ny cũng l người đ khai sng ra hội Phết Hiền Quang.

Vậy l đến đy ta đ c đủ chứng cớ chnh xc để kết luận như tc giả LSPGVN rằng:
Vị Hng Vương của thời Chữ Đồng Tử ta c thể xc định vo những thế kỷ trước Dương Lịch, c khả năng l Hng Nghị Vương thứ 1 hoặc thứ 2, tức khoảng thế kỷ thứ 2 3 trước Dương Lịch. V Chữ Đồng Tử l người Phật tử đầu tin của Việt Nam chng ta vậy.
Chnh v Phật gio c thể đ chnh thức c mặt tại nước ta từ những năm 247-232 trước Dương Lịch, tức những năm m phi đon của Sona của vua A Dục phi đến vng Suvanbhumi (Đng Nam , hay c thể l Đng Dương?) để truyền b gio php vĩ đại của Đức Thế Tn như vậy, nn ta chẳng lấy g lm lạ khi đến thế kỷ thứ 7 th Phật gio nước ta đ bắt đầu pht triển rầm rộ, bằng chứng l phong tro đi Ấn Độ cầu php của cc cao tăng nước ta đng đảo khng thua g cc cao tăng Trung Quốc. Cảm động biết bao khi ta biết được đ c một Khuy Xung bẩm tnh thng minh, giỏi đọc kinh Phạn ngữ, đi đến chỗ no thường hay viết thnh bi để ht ln. Ban đầu đến lễ cy Bồ Đề. Tới thnh Vương X th mắc bệnh tại vườn Trc. Bn ở lưu lại hồi lu. Rồi mất, tuổi khoảng 30.

Ngoi Khuy Xung ra, cn c Vận Kỳ, Giải Thot Thin, Huệ Diệm, nhưng nổi bật nhất c lẽ l Đại Thừa Đăng (Mahyanapradipa) người i Chu (Thanh Ho). Theo cha mẹ đi thuyền đến nước Đỗ Hoa La Bt Để (Dvaravati) theo tc giả th nay thuộc tỉnh Nakhom Pathon v Chai Nt của Thi Lan v đ xuất gia tại đ. Sau theo sứ giả của nh Đường l Diệm Tự đến kinh đ Trường An của Trung Quốc, theo học v thọ giới cụ Tc với php sư Huyền Trang.
Sau khi dịch xong bộ Đại Bt Nh 600 quyển vo cuối thng 10 năm Long Sc thứ 3 (663) m Huyền Trang đ bắt đầu dịch vo năm Hiền Khnh thứ 5 (600). Chỉ bốn thng sau th Huyền Trang tịch.

Sau khi Huyền Trang tịch, Đại Thừa Đăng lại rời Trường An ln đường thực hiện ch nguyện của mnh, ch nguyện ấy được Nghĩa Tịnh, một nh cầu php vĩ đại của Trung Quốc ghi lại trong Đại Đường Cầu Php trong cao tăng truyện l: Dồn ch vo thnh Vương x, chứa lng tới vườn Trc, mong đập nt tm nạn, rốt tm được bốn vng.

Sau khoản 20 năm ở Ấn Độ, cuối cng Đại Thừa Đăng đ đến nơi Đức Phật nhập Niết Bn ở thnh Cu Thi Na, v tịch tại đ, thọ 60 tuổi.

Huyền Trang cn c một đệ tử nữa c tn l Đại Thừa Quang, m Tống Cao Tăng truyện cho l khng biết qu qun ở đu, nhưng lại l một phụ t lỗi lạc của Huyền Trang trong cng tc phin dịch: Lại thường theo Huyền Trang đến cung Ngọc Hoa dịch Đại Bt Nh. Cng của Quang vượt ra khỏi những người cng gip, nn bấy giờ c hiệu l Đại Thừa Quang. Xem Huyền Trang từ năm Trinh Qun thứ 19 (645) bắt đầu phin dịch cho đến năm Ln Đức thứ 1 (664) th mất ở cung Ngọc Hoa. Phm 20 năm dịch ra tổng số 75 bộ Kinh Luật Luận của Đại Thừa v Tiểu Thừa gồm 1.335 quyển, th 10 phần, 7- 8 phần l do Quang bt thọ.
Vậy Đại Thừa Quang l ai? C lin hệ g với Đại Thừa Đăng khng?
Sau khi tiến hnh phn tch, đối chiếu cc dữ liệu, tc giả LSPGVN kết luận một cch bất ngờ:

C một điều hết sức l th l chữ Phạn Pradipa trong Cu X Luận c khi Huyền Trang dịch l Đăng, nhưng cũng c khi lại dịch l Quang. Như những tc giả Phạn Ho Đại Tự Điển đ chỉ ra. Ni cch khc, Đại Thừa Đăng của Nghĩa Tịnh chnh l Đại Thừa Quang của Huyền Trang, chỉ l một người
Vậy l trong sự nghiệp dịch thuật vĩ đại của Huyền Trang th c đến bảy tm phần l do Đại Thừa Đăng của Việt Nam bt thọ.
Như vậy l v đọc nhiều v thng hiểu nhiều ngn ngữ nn gio sư L Mạnh Tht đ cho ta nhiều khm ph bất ngờ như trường hợp Đại Thừa Đăng trn. Cn một khm ph nữa m theo ti cho l cũng bất ngờ khng km đ l việc gio sư phn tch bi thơ sau đy của thi ho Trương Lịch, bi thơ c nhan đề Tống Nhật Nam Tăng:

Độc hướng song phong lo
Tng Mn Bế lưỡng nha
Phin kinh thượng tiu diệp
Quải nạp lạc đằng ba
Thức thạch tn khai tỉnh
Xuyn lm tự chủng tr
Thời phng Nam Hải khch
Man ngữ vấn thuỳ gia
Song Phong gi ring nhắm
Cửa tng đi cnh gi
L chuối trn kinh dịch
Bng my rụng o phơi
Lật đ khơi giếng mới
Trồng ch rừng tự xoi
Khi gặp khắp Nam Hải
Tiếng mọi hỏi nh ai

Qua hai cu đầu của bi thơ ta được biết Trương Tịch đ gặp một nh sư Việt Nam của chng ta tại ni Song Phong. Nhưng Song Phong ở đu? Tc giả cho biết: Tại Trung Quốc c hai ngọn ni tn Song Phong nhưng ngọn nổi tiếng nhất nằm tại To Kh của Lục Tổ Huệ Năng (638-713). Tiểu sử của Huệ Năng trong Tống Cao Tăng truyện quyển 8 c chp: Bấy giờ thứ sử Vi C khiến Huệ Năng ra cha Đại Phạm. Năng nhất mực từ chối bn vo Song Phong bn khe của To Hầu. Từ đ về sau, đặc biệt l từ đời Tống, Song Phong thường gắn kết với Huệ Năng, như Tr Cự viết Song Phong sơn To Kh hầu Bảo Lm truyện in trong Đại Tạng Kinh. Nhưng theo tc giả th: Tuy nhin, vo đời nh Đường, Song Phong phần lớn l để chỉ cho ngọn ni của Đạo tn nằm ở tỉnh Hồ Nam ngy nay.
Nhưng r rng l 2 cu thơ của Giả Đảo:

Tam canh lưỡng mấn cơ chi tuyết
Nhất niệm Song Phong Tứ Tổ tm
Bao canh mi tc bao cnh tuyết
Mật niệm Song Phong Tứ Tổ lời

Nhưng vị Thiền sư của qu hương chng ta đang lm g tại Thiền viện ở ni Song Phong?
Căn cứ vo cu:

Phin kinh thượng tiu diệp
L chuối trn kinh dịch

Tc giả đon chắc rằng vị thiền sư của qu hương chng ta đang dịch kinh Phật trn ngọn l Bối (một số bản th bảo l l chuối) Thiền sư dịch kinh bằng ngn ngữ no? Chắc chắn khng phải l chữ Hn, v hai cu thơ cuối Trương Tịch viết:

Thời phng Nam Hải khch
Man ngữ vấn thuỳ gia
Khi gặp khch Nam Hải
Tiếng mọi hỏi nh ai?

Dĩ nhin tiếng mọi ở đy để chỉ cho tiếng Việt, dưới ci nhn của cc nh tr thức Thin triều. Rồi tc giả kết luận: C khả năng nh sư Nhật Nam của chng ta tại một Thiền đường của trung tm Song Phong của Đạo Tn đang cặm cụi phin dịch bản kinh chữ Hn hoặc Phạn ra tiếng Việt để gửi về lại cho qu mnh đọc.

D đ l Song Phong của Đạo Tn hay Huệ Năng đi nữa, th chng ta cũng v cng hnh diện v qu hương của chng ta c một Thiền sư đ đến học thiền tại trung tm Song Phong ny, một dng Thiền m Bồ Đề Đạt Ma đ đem từ Ấn Độ vo Trung Quốc. Sau đ đ trn lan khắp khu vực thuộc miền Viễn Đng. V gần một thế kỷ nay đ o ạt chinh phục mạnh mẽ vo cc nước Ty phương. V đặc biệt hơn nữa l vị Thiền sư của chng ta đ được Trương Tịch, một người m Cựu Đường Thi bảo rằng: Những ti danh như Bạch Cư Dị, Nguyễn Chẩn, Hn Dũ rất tn trọng vậy m vừa mới gặp lần đầu, thi ho được knh trọng ny đ xc cảm đến nổi phải để lại cho hậu thế một bi thơ tuyệt đẹp.
Nhưng độc đo nhất trong 3 tập LSPGVN của gio sư L Mạnh Tht, theo ti l đ để ra cả 2 chương 8 v 9 để viết về 6 l thư v cuộc khủng hoảng của nền Phật gio Việt Nam ở thế kỷ thứ 5. Đ l 6 l thư đối đp giữa hai Php sư Đạo Cao v Pht Minh cho đệ tử c tn l L Miễu.

Những thắc mắc của vị sứ qun c tn l L Miễu ny xoay quanh vấn đề tại sao thực hnh Phật gio m khng thấy chn hnh của Đức Phật ở đời? Tc giả cho rằng: Đặt vấn đề như thế l nhắm đến trọng tm của ton bộ sinh hoạt Phật gio, v sinh hoạt Phật gio đu c nghĩa g ngoi mục đch lm cho những người thực hnh n gic ngộ, nghĩa l tm lại bản chất Phật gio của chnh mnh. Do vậy, hỏi sao khng thấy chn hnh của Phật đối với người Phật gio l nu ln những nghi vấn về chnh mục đch mnh đang theo đuổi, l tự hỏi về sự hiện hữu của chnh mục đch đ. C thể no ta thấy Đức Phật chăng? C thể ta gic ngộ chăng?

Chắc chắn khng phải l một sự ngẫu nhin khi vị sứ qun ny tự mnh c đủ khả năng để gy nn cuộc khủng hoảng về nội dung tu tập của Phật gio Việt Nam ở thế kỷ thứ 5, m phải c nguyn nhn su xa của n. Đ l v sự c mặt của một trong những nhn vật được đnh gi l lỗi lạc nhất của Phật gio Trung Quốc thời bấy giờ, đ chnh l Thch Huệ Lm. Huệ Lm l đệ tử của Đạo Uyn, Đạo Uyn lại cũng l một trong những cao đệ của Cưu Ma La Thập ở Trường An v đ tham dự vo cng tc dịch thuật vĩ đại của Cưu Ma La Thập. Cn Huệ Lm học tr của Đạo Uyn th tiếng tăm lừng lẫy cũng khng khc g thầy mnh, m c thể hơn nữa, v Huệ Lm được giới tr thức hm mộ, một trong số đ l H Thừa Thin chẳng hạn. H Thừa Thin l một trong những nh thin văn học lỗi lạc của Trung Quốc cổ đại.

Khng phải chỉ giới tr thức thi, m Huệ Lm cn được Tống Thi Tổ tức Tống Văn Đế, trị v vo những năm 424 - 453 trọng dụng nữa, tiểu sử chp rằng: Trong khoảng nguyn gia, Huệ Lm tham dự quyền yếu, triều đnh đại sự cng tham dự bn cải. Một nhn vật lỗi lạc như vậy, l tinh hoa khng những của Phật gio Trung Quốc ở thế kỷ thứ 5 m cn cả giới tr thức nữa lại đột nhin c mặt ở nước ta? V sao như thế?

Đ l v Huệ Lm đ viết Qun Thiện Luận, một tc phẩm gặp phải những phản đối quyết liệt từ tập thể Tăng gi Trung Quốc thời bấy giờ. Họ kết n Huệ Lm, đi lột o tu v đuổi ra khỏi nước. Nhưng nhờ Tống Văn Đế che chở nn lệnh trục xuất chưa được thi hnh. Cho đến khi Tống Văn Đế băng h th Huệ Lm mới bị đy đến nước ta. Tc giả LSPGVN cho l: Lm c thể đ sống tại nước ta cho tới lc L Trường Nhn thực sự lập chnh quyền độc lập của mnh vo năm 468 v L Miễu, người đ gửi thư cho Đạo Cao v Php Minh cũng c thể l L Thường Nhn, v trong l thư thứ 4 Đạo Cao v Php Minh đ xem L Miễu đang ở vo địa vị của một bậc Thin tử (Cư Đại Bảo chi địa). Từ đ, tc giả LSPGVN suy luận l những thắc mắc của L Miễu: Nếu bảo lời dạy ấy kho hay lợi vật, độ thot nhiều người th sao chn hnh khng hiện ra ở đời? Ấy chẳng qua l ni sung khng thật. Bắt nguồn từ việc tc giả Qun Thiện Luận của Huệ Lm bị đy đến nước ta.

By giờ ta thử xem nội dung của Qun Thiện Luận ni g để khiến cho giới Tăng lữ Phật gio Trung Quốc phẫn nộ v cuối cng đuổi tc giả của n đến nước ta?
Tn Bnh, một nh tr thức cng thời với Huệ Lm đ tm tắt 7 điểm m Huệ Lm đ chỉ trch Phật gio l: 1) Vấn đề u minh khng lin lạc với đời ny; 2) Vấn đề ni sung về Khng v Hữu; 3) Vấn đề v thường để dụ dỗ sự kht khao của người ta khng c chi su sắc; 4) Vấn đề ni chuyện V lượng thọ v thần quang linh biến; 5) Vấn đề mu thuẫn giữa l thuyết v dục v việc đem những thứ tn kỳ như Niết Bn v Php thn để tăng trưởng lng dục của Phật gio; 6) Vấn đề lm cha đẹp, đc tượng cho kho để tăng trưởng lng cạnh tranh b lũ; 7) Vấn đề nn bỏ đi những chuyện hiển hối v v sanh.

Ở đy, chng ta hy để ngoi những điểm khc, chỉ cần điểm 6: Vấn đề lm cha đẹp, đc tượng cho kho để tăng trưởng lng cạnh tranh b lũ thi, th chắc chắn khng chỉ c giới Tăng lữ thời Huệ Lm ở thế kỷ thứ 5 phản đối m cả giới Tăng sĩ thời hm nay, đầu thế kỷ 21 ny cn phản đối dữ dội hơn. V sao? V Huệ Lm đ đnh trng vo căn bệnh hiểm ngho gần như v phương cứu chữa của giới Tăng sĩ ở bất cứ thời no.

Nhưng nếu chỉ trch m khng đưa ra được một giải php để thay thế cho ci mnh chỉ trch, th nhất định sự chỉ trch đ bị kết n l ph hoại l một điều hiển nhin, khng thể chối ci.
Nếu ta đọc thật kỹ những lời đối đp cuối cng giữa Hắc v Bạch, th ta sẽ nhận ra rằng, Huệ Lm c một ước mơ cho Phật gio của ring mnh:

- Hắc: kết luận của Ngi như vậy kh kho đồng nhất với kết luận của ti. Thế th mọi việc chấm dứt ở đời sống ny sao?
- Bạch: lẽ u minh thật ra khng lin quan đến nhn sự. Chu Khổng nghi m khng giải thch, Thch Ca giải thch m khng thật sự. Do thế, nn bỏ đi dấu vết mập mờ v giữ lại ci tn chỉ cốt yếu. Xin ni r thm điều ny. Rằng, để dẫn dắt mọi người, ta phải dng nhn nghĩa để lm cho họ chịu lẽ m theo sự gio ho; để lnh đạo mọi người, ta phải dng khuyn răn để lm cho họ trnh lợi m nghing về thiện. Cho nn, lời ngọt chỉ dấy ln khi cn hữu dục, m tức khắc lặn đi khi đ hiểu lẽ, l thuyết đạm bạc lưu hnh chỉ c thuyn giải, nhưng tn lụi ở trong tham luỵ. Do thế, kẻ by ra chuyện lai sanh, ấy l che lấp lm sứt mẻ đạo vậy. Thch gio bất đắc dĩ by ra chuyện u m, ấy l mặc nhin ph hợp với việc im lặng của Cơ Khổng. Cứ đ m xt th kẻ bn về n chưa chắc l cao siu, kẻ biết chưa chắc l đng, kẻ khng biết chưa chắc l sai. Chỉ biết rằng, Lục Độ với Ngũ Gio cng hnh, tn thận với từ bi đều lập. Chng th đồ m đồng qui. Cho nn, khng được giữ chặt lấy vết pht tch khc nhau của chng.
- Như vậy qua Qun Thiện Luận, Huệ Lm muốn ni g? C phải Huệ Lm muốn ni như sự giải thch của tc giả LSPGVN sau đy:
Gio l của Đức Phật đối với ng khng phải l một thứ l thuyết, để người ta dựa vo kết b lm bậy. N khng phải l thứ l thuyết đem ra để dọa mọi người về những thứ thin đường địa ngục với những thứ quả bo u minh. N cũng khng phải l một thứ l thuyết về diệt dục hay khng diệt dục. Phật gio với ng như vậy phải l một l thuyết đầy cởi mở v tnh thương, l một l thuyết gip đỡ con người c một đời sống x hội trn đầy v thỏa mn.

Với tất cả thẩm quyền của một sử gia, tc giả cho rằng: C thể Huệ Lm l nh tư tưởng Phật Gio Trung Quốc đầu tin đặt Phật Gio trn một quan niệm x hội chnh trị v muốn biến Phật gio thnh một l thuyết x hội chnh trị nh nước. V chnh Huệ Lm l người mở đường cho l thuyết chnh trị nh nước của Vệ Nguyn Tung sau ny. V chnh nhờ c l thuyết chnh trị x hội nh nước của Vệ Nguyn Tung m sau khi nh Chu sụp đổ th từ trn đống gạch vụn sụp đổ đ nổi ln một khun mặt anh ti l Dương Kin, người mnh liệt tin tưởng Phật php v đ thống nhất ton quốc Trung Hoa sau đng 300 năm chia cắt, mở đầu cho sự thnh lập nh Đường thịnh trị vĩ đại tiếp theo, đặt cơ sở cho sự nghiệp hoằng php dịch thuật vĩ đại của những vị như Huyền Trang v tương tự

Huệ Lm l một tăng sĩ Phật gio sanh ra v lớn ln trn đất nước của Nho Gio, nn Huệ Lm đ thức một cch triệt để rằng, mnh phải lm g cho l tưởng Phật gio m mnh đang tn thờ, d Huệ Lm biết chắc rằng chnh Huệ Lm phải đổi một ci gi rất đắt cho việc lm gy nhiều ngộ nhận đ.

Tổng kết những l do v hon cảnh trường hợp trn, người ta by giờ c thể thấy Huệ Lm viết Qun Thiện Luận trong ước mơ v điều kiện no. Chnh tự chng m ta phải hiểu tại sao Lm đ thốt ln những cu như: Thch ca biện như bất thật. Chng nhằm vạch ra cho phần lớn tăng sĩ thời ng thấy l, thứ Thch Ca m họ tn sng, đối với Lm thật sự khng c một quyền uy phải knh trọng no. Nỗ lực của Lm c thể ni l đ nhắm đến mục đch hết sức vĩ đại v cao viễn, đ l thật sự đồng ho l thuyết chnh trị của Chu Khổng vo l thuyết Phật gio, để cuối cng hon ton thế chn Chu Khổng ngay cả trong lnh vực l luận v l thuyết chnh trị nh nước.

Đ l ước mơ v hoi bảo của Huệ Lm cho Phật gio của chnh ng. Tất nhin những ước mơ cao viễn như vậy th lm sao những người đi tu với mục đch cuối cng l Lm cha cho đẹp, đc tượng cho kho, để tăng trưởng lng cạnh tranh b lũ th lm sao c thể hiểu được chứ?
Nhưng đằng sau những lời lẽ c vẻ huỷ bng, c vẻ lạnh lng, tn nhẫn, v nghim khắc đ l ci g?
Người ta thường ni rằng gần như tất cả những thin ti đều mang nặng trong mnh một bi kịch no đ. Chắc Huệ Lm cũng khng ra khỏi thng lệ ny chăng?
Nếu ta đọc hai bi văn m Huệ Lm đ lm để truy điệu cho hai người bạn đạo thn thiết nhất của đời mnh, th ta sẽ nhận ra điều đ.

Bi thứ nhất Huệ Lm lm để truy điệu cho Đạo Sanh. Đạo Sanh như ta đều biết, l một trong những cao đệ của Cưu Ma La Thập. Đạo Sanh đ bị nhm cựu Tăng đuổi ra khỏi chng, v đưa ra quan điểm rằng ngay cả Nhất Xiển Đề (Iccantikas) cũng c thể thnh Phật, v quan điểm cấp tiến ny, nn Đạo Sanh đ bị nhm cựu Tăng kết n l rao giảng t thuyết, rồi họ đuổi Đạo Sanh ra khỏi hng ngũ Tăng chng. Nhưng sau khi kinh Niết Bn được Php Hiển từ Ấn Độ mang về. V sau đ được dịch ra tiếng Trung Quốc th chủ trương của Đạo Sanh hon ton ph hợp với kinh Niết Bn, v kinh Niết Bn cng bố rằng, ngay cả Nhất Xiển Đề cũng c thể thnh Phật.

Khi bị đuổi th Đạo Sanh về sống với Php Cương ở ni Hổ Kh, rồi mất ở tại đ.
Đọc bi truy điệu, ta thấy Huệ Lm nhắc đi nhắc lại cu h buồn thay! đến cả thảy 6 lần.
Đy l đoạn Huệ Lm ni về ch nguyện học đạo v trực gic su xa của Đạo Sanh: Đến tuổi trung nin, du học rộng tm, dị văn từ miền Dương Việt ln tới Ty Tần, tro ni Lỗ Nhạc, đạp lối Honh Sơn, nghĩa Đại Thừa La Thập, chỉ tiu đạo của Đề B, người đều biết r, rộng nắm sự su sắc. Chỗ thấy mỗi lc mỗi cao. Nn đ hiểu rằng, hnh tượng l chỗ nương của l lẽ, m chặt hnh tượng, lẽ tất phải m, lời dạy l nhn c gio ho, giữ chặt lời dạy gio ho phải ngu. Do thế trưng danh trch vật th tất phải lm sai ở việc hư đản, tm tm ứng th tất phải m muội trước lời cch nghĩa.

Nhưng đ l l do khiến Đạo Sanh bị người đương thời ganh ght v vi dập:
Những vật sợ sng lạ, người ght cao trinh, giận nhm đồng phục, ưa b kết lũ. Chng bn dang cnh co chn, dẹp ảnh người vo nơi hang huyệt, theo che chỉ đạo, quăng dấu người tới chốn ng Ngu. Vết chn ln thuyền, c đi khng lại, mạng bỏ ni non, buồn khắp đ thị. h buồn thay!

Đạo Sanh ra đi được một thng th Php Cương cũng ra đi theo. Huệ Lm một lần nữa cũng đứng ra viết bi truy điệu. Xin trch đoạn cuối:
h buồn thay! Đm đng lạnh lẽo, tiu điều ven sng, gi se mn toạc, tuyết rt vo trng mạng người ngắn dứt, đường về ngi mong, xt xa kẻ mất, lặng lẽ khc rng, một mnh c lữ, trời đất chẳng trng. h buồn thay! Mong đến sống đất Khổ Kh, thương mắt mờ nơi Lĩnh, nghĩ hi lộc tại Hoa Kinh, nhớ dắt tay ngoi Phin Cảnh, tnh phiu diu ở nơi sườn, tr triền min miền Lương Tĩnh, sao rng buộc hề khng dứt, lng nhớ nhung hề dằn vặt, gi đng hề đ mất, nắng h rực rỡ hề vừa mất, bốn ma thay đổi rối rt, tnh cng su để dấu lu nếu lai duyn quả chẳng mất, xin gi trọn sanh nin để xt xa. h buồn thay!.
Nếu ta đ đọc Qun Thiện Luận của Huệ Lm th ta sẽ nhận ra rằng ng chẳng bao giờ bận tm đến chuyện kiếp sau hoặc kiếp trước g hết. Thế nhưng khi đứng trước ci chết của Php Cương, một người bạn thn thiết th Huệ Lm lại băn khoăn tự hỏi: Nếu lai duyn quả chẳng mất, xin gi trọn sanh nin để xt xa! Như vậy c nghĩa l sao? L tự mu thuẫn với chnh l luận của mnh chăng?

Về điều mu thuẫn ny tc giả LSPGVN đ viết những cu m kh c thể ai viết hay hơn được:
L luận rằng khng c đời sau l một chuyện v tin rằng c đời sau lại l chuyện khc.
V đy l một sự mu thuẫn đau lng nữa, cũng vẫn của tc giả LSPGVN:
Bn về một quan niệm, người ta rất c thể sống với n một cch tr c. Nhưng khi đối diện với con tim, n sụp đổ một cch đau thương.
V L Mạnh Tht kết luận rằng: V đ chnh l thức bi đt của Huệ Lm.
V ta c thể ni thm rằng, nếu khng c ci thức bi đt ấy th họ khng thể no trở thnh những con người xuất chng được.

V nếu như vo thế kỷ thứ 5 khi Huệ Lm đ sống những ngy cuối cng tại một ngi cha hiu quạnh no đ ở miền Bắc nước ta hiện nay, trong cảnh lặng lẽ khc rng, một mnh c lữ, trời đất chẳng trng.

Th 15 thế kỷ sau, ta c quyền tin chắc rằng ng đ chẳng cn c độc nữa, v nỗi c độc m ng m ấp đ c người c thể gọi l tri kỷ chia xẻ vậy.

Nhưng ngoi những vấn đề sử học, Phật học, văn học, thi ca học, triết học, tư tưởng v.v ra th ta c thể rt ra được bi học g từ 3 tập LSPGVN của gio sư L Mạnh Tht cho Phật gio Việt Nam khng chỉ ở hiện tại m cn cả mai sau nữa?
Trong cơn lốc chnh trị, kinh tế, văn ho đ, việc chọn đứng về pha những người ngho, người bất hạnh, khổ đau nhất định sẽ đem lại cho Phật gio một vị thế c được những tiếng ni quyền uy giữa đại đa số quần chng. Đy cũng l l do tại sao Phật gio đ trở thnh nơi gửi gắm những tinh hoa đạo l của dn tộc, những truyền thống ngn đời của người Việt như đ thấy trong Lục Độ Tập Kinh.

C lẽ đ cũng chnh l những điều m tc giả đ muốn gửi gắm trong ton bộ những tc phẩm sử học về Phật gio Việt Nam của mnh chăng?

By giờ xin được trở lại với Ton Nhật, vị Thiền sư đ bị lng qun từ nửa thế kỷ 18 đến nay. (phần 2, 3)


T.P.A.