(tiếp theo số trước)Bhartṛhari tiếp cận vấn đề từ hai cch khc nhau.
Trước tin, ng tự hỏi một từ biểu trưng cho ci g. V cu trả lời tức
khắc l n biểu trưng một vật. Như vậy, từ ngựa đang biểu trưng một con
vật no đ bn ngoi c tn l ngựa. Hoặc từ tai biểu trưng ci g đ
c tn l tai ở trn đầu của con ngựa, v.v. Cch trả lời ny cho đến by
giờ r rng đ tỏ ra rất hiệu quả. Tuy nhin, khi c người ni đy l
tai-ngựa th cu trả lời gy đổ hon ton, bởi v từ tai-ngựa khng
lin quan g đến từ ngựa hay tai, nếu ta chủ trương rằng cc từ ngựa
v tai phải biểu trưng cc vật m chng được cho l biểu trưng. Tương
tự, từ lừa-trắng trong tiếng Phạn khng c nghĩa biểu trưng một mu c
tn l trắng v một vật c tn l lừa. Từ tai-ngựa l tn một loi
cy, v lừa-trắng l tn một giống lừa hoang. V thế, mỗi từ khng nhất
thiết phải biểu trưng một sự vật. (Bhartṛhari, Vākyapadīya II, ed.
Raghunātha Stharmā, Varaṇasi: Saravastī Bhavan Granthamālā, 1968, ad
13-40, 34-92.) Dĩ nhin, chẳng c g mới trong kết luận đ, ngoại trừ đ
l pht biểu cng khai đầu tin về vấn đề ny kể từ thời của Nyāyasūtra,
một pht biểu m An Huệ đ lập lại như đ thấy. V thế, cch tiếp cận thứ
nhất của Bhartṛhari t ra đ khng mang lại cho ng bất kỳ kết quả li
cuốn no.
Tuy nhin, cch tiếp cận thứ hai lại cho ng kết quả mỹ mn nhất, t
nhất qua sự pht triển trong tư duy của ng về vấn đề tnh thể của ngn
ngữ. ng khởi đầu phương cch ny bằng cc cu hỏi như thế ny Pht biểu
mầm mộng nh ln muốn ni ci g? ng lập luận như sau. Nếu từ mầm
mộng biểu trưng ci g đ thật sự hiện hữu ở bn ngoi th c ch g để
ni l n nh ln, bởi v ni rằng ci g đ nh ln c nghĩa l ci đ
chưa hon ton l n, tức n chưa hon ton hiện hữu. Thật vậy, nếu từ
mầm mộng thật sự biểu trưng ci g đ thật sự đang hiện hữu th thật mu
thuẫn khi ni rằng n nh ln. Hơn nữa, chỉ c hai khả năng để chọn trong
trường hợp của mầm mộng: hoặc l n hiện hữu, hoặc khng hiện hữu. Trong
cả hai trường hợp, đều phi l để ni l mầm mộng nh ln. Bởi v nếu n
hiện hữu, tại sao lại ni l n nh ln, vốn chỉ cho ci g đ hiện hữu từ
chỗ khng hiện hữu; v nếu n khng hiện hữu, tại sao ni n nh ln?
Tương tự như thế, pht biểu khng c mầm mộng muốn ni ln ci g? Nếu
từ mầm mộng biểu trưng ci g đ thật sự hiện hữu ở ngoi đ th lm sao
ta c thể ni khng c mầm mộng? Bởi v trong trường hợp ny, chỉ cần
ni từ mầm mộng l người ta đ mặc nhin thừa nhận c hiện hữu ci g đ
ở ngoi được gọi tn l mầm mộng. Thật vậy, chỉ nghĩ rằng mỗi từ phải
biểu trưng một sự vật th ta sẽ gặp ngay mọi thứ kh khăn m cu hỏi pht
biểu mầm mộng nh ln muốn ni g? mới chỉ l kh khăn đầu tin. Bởi v
nếu bất cứ ai cố gắng thiết lập một hệ thống luận l dựa vo cch nghĩ đ,
ta c thể chứng minh hệ thống đ sẽ bị bẻ gy một cch dễ dng. Thật vậy,
ton bộ Trung Luận của Long Thọ l để dnh cho việc bẻ gy ny, v l luận
trn của Bhartṛhari c thể truy nguồn từ chnh luận thư ny. (Bhartṛhari,
Vākyapadīya II, ed. K. A. Subramania Iyer, Poona: Deccan College
Postgraduate and Research Institute, 1963, ad 39-51: 150-158.)
Trong chương đầu của tc phẩm ny, Long Thọ khảo st vấn đề lin hệ giữa
nhn v quả. ng chỉ ra rằng từ nhn thường được định nghĩa l mang ci
g đ vo sự hiện hữu. Thế nhưng, nếu chủ trương rằng mỗi từ phải biểu
trưng một vật đang thật sự hiện hữu ngoi đ, th ngay cả định nghĩa ny
cũng phi l. Bởi v từ ngữ ci g đ trong định nghĩa đ cũng nhất định
phải biểu trưng ci g đ m n đang hiện hữu, vậy th mang n vo sự
hiện hữu để lm g? Hơn nữa, nếu khng hiện hữu ci g đ như thế th lại
cng phi l hơn khi ni l mang n vo sự hiện hữu. Bởi v, rốt cng c
ci g ở đ để mang vo sự hiện hữu? V thế, bằng l luận đ, Long Thọ
tiếp tục ph hủy một cch c hệ thống ton bộ cấu trc học thuyết tiu
chuẩn về nhn quả của Tỳ B Sa v những thứ tương tự của họ. (Nāgārjuna,
Madhyamakakārikā I. 3-16. cf. L Mạnh Tht, Đưa Vo Việc Nghin Cứu Luận
L Học Trung Qun Của Nāgārjuna, Tư Tưởng I (1967): 53-83.) Như khi Long
Thọ ni một đối tượng hiện hữu hoặc một đối tượng khng hiện hữu đều
khng thể c nhn về mặt luận l, bởi v nếu đối tượng đ đang hiện hữu
th c nhn để lm g? V nếu n khng hiện hữu th n l nhn của ci
g?, th ta c thể nhận ra ngay m hưởng của n trong pht biểu của
Bhartṛhari cho rằng sinh được định nghĩa l trạng thi của một hiện hữu
đang sở đắc ci c thể sở đắc sự sở đắc của chnh n; vậy th nếu ci hiện
hữu đ hiện hữu, tại sao n lại được sinh ra? Nếu n khng hiện hữu, th
lm sao n c thể được sinh ra? (Nāgārjuna, Madhyamakakārikā I. 8:
naivāsato naiva sataḥ pratyayorthasya yujyate/ asataḥ pratyayaḥ kasya
sataśca pratyayena kim//. Cf. Madhyamakakārikā IV. 4: rūpe satyeva rūpasya
kāraṇaṃ nopapadyate/ rūpe satyeva rūpasya kāraṇaṃ nopapadyate//.
Bhartṛhari, Vākyapadīya III. 43.)
V chnh ở đy m đng gp của Bhartṛhari đ trở nn rất gi trị đối
với hiểu biết của chng ta về vị tr lịch sử của tư tưởng Thế Thn. N cho
chng ta thấy được l do tại sao cc thuật ngữ Long Thọ đ sử dụng để
trnh by triết học của ng lại dẫn Thế Thn đến việc đề ra giải php theo
cch của ng. Thật vậy, ta c thể ni một cch chắc chắc rằng tư tưởng của
Thế Thn l sự kiện ton triết học của Long Thọ, một sự kiện ton được tm
lược thật hm sc trong quan điểm của Bhartṛhari về yếu tnh của ngn ngữ.
Tm lại, khi đọc Bhartṛhari, ta nhận ra tại sao Long Thọ đ khảo st vấn
đề nhn quả v cc chủ đề tương tự theo cch của ng, v tại sao Thế Thn
cảm thấy cần phải lập luận rằng sự chuyển biến của thức l một cấu trc
ngn ngữ v sự chuyển biến đ phải đặt nền tảng trn m tả về ng v php.
Ni cch khc, khi Bhartṛhari hối thc rằng ta phải xem từ ngữ chỉ l
những m tả để trnh mọi kh khăn do khi niệm từ ngữ phải biểu trưng sự
vật gy ra đối với những pht biểu như mầm mộng nh ln, th ng thật sự
đ tm tắt ton bộ kết quả tuyệt vời m những tm ti triết học đ sinh
khởi kể từ thời của Long Thọ cho đến Thế Thn.
Vậy th chẳng c g ngạc nhin khi Aśvabhāva đ thoải mi trch dẫn
Bhartṛhari trong sớ giải của mnh về Tam Thập Tụng, v tại sao Nghĩa Tịnh
lại ghi rằng ng (Bhartṛhari) đ bảy lần nỗ lực trở thnh một vị tỳ kheo
m đều thất bại. Thật vậy, ta cn c thể xem ng l đồ đệ ưu t nhất m
Thế Thn từng c. V tư tưởng của ng khng thể bị đnh gi một cch nng
cạn để rồi xem đ l b la mn hay chống Phật gio như một số tc giả
đ lm. (Biardeau, Thorie de la connaissance et philosophie de la parole
dans le brahmanisme classique, La Haye: Mouton & C0, 1964; Nakamura,
Vedanta tetsu gaku no hatten, Tokyo: Iwanami shoten, 1957; Subramania
Iyer, Bhartṛhari: A Study of the Vākyapadīya in the Light of the Ancient
Commentaries, Poona: Deccan College Postgraduate and Research Institute,
1969; Nakamura, Kotoba no keijijōgaku, Tokyo: Iwanami shoten, 1957, pp
55-140.) Dĩ nhin, ta khng thể bn đến vấn đề ny ở đy, v n khng
thuộc phạm vi chương ny v Bhartṛhari l một tư tưởng gia c tầm cỡ xứng
đng cho chng ta bn đến một cch chu đo hơn l những g c thể lm
trong khun khổ những trang giấy ny. Tuy nhin, chừng ny cũng đủ để ni
rằng với kiến trn của chng ta, một điều chắc chắn khng thể no phủ
nhận được l những nghin cứu theo hướng ny trong tương lai sẽ củng cố
được cho pht biểu của chng ta hm nay.
V thế, thuyết m tả được trnh by trong Tam Thập Tụng khng những cho
thấy trả lời của Thế Thn đối với mối quan tm triết học tin khởi của ng
m cn cả giải php của ring ng đối với vấn đề lu đời m Long Thọ đ
khng thể đưa ra cu trả lời cho d đ c những ph phn sng gi về n.
V thế, ta c thể ni rằng n biểu trưng cho đỉnh cao của qu trnh nghin
cứu triết học lu di v thường rất cng phu của Thế Thn. C lẽ chnh do
sự nối kết lịch sử ny giữa ng v cc nh tư tưởng qu khứ m ng cảm
thấy khng cần thiết phải ni r từ ngữ m tả c nghĩa l g trong tc
phẩm của ng. V sự khảo st của chng ta về cc tư liệu gốc ở trn c thể
xc chứng l từ ngữ đ đ được thời đại ng định nghĩa r rng. Thật vậy,
nếu chng ta p dụng định nghĩa của Nyāyasūtra vo một số trường hợp m
Thế Thn đ sử dụng n trong cc tc phẩm của ng, ta sẽ thấy rằng định
nghĩa ny ph hợp một cch chnh xc như chng ta mong muốn. Một trong
những lần hiếm hoi m Cu X Luận đ sử dụng đến từ m tả, chng ta đọc
được như thế ny:
Nếu tự ng khng hiện hữu th nghĩa của tạo nghiệp l g? Đ l v
để ti c thể hạnh phc v để ti khng phải đau khổ. Đối tượng của ci
gọi l ti m ng ni đến l g? Đối tượng của n l cc uẩn. Lm sao
biết? Bởi v sự chấp trước của ti' đối với chng, c nghĩa l v n c
chung chỗ với những tưởng như trắng, v.v. Th dụ, người ta ni Ti
trắng, Ti đen, Ti bo, Ti ốm, Ti gi, Ti trẻ, v.v. tưởng
về Ti nn được xem như c cng chỗ với những tưởng như trắng, v.v. V
cc loại tưởng ny khng nn được xem như thuộc về tự ng. V thế đương
nhin l ng cũng chấp trước cc uẩn. Ngay cả khi thn thể ny được phục
vụ bởi [từ] ng, để c được những m tả về ng như đ l những g ti
l, đ chnh l những g m một vị quan l, ngay cả trong việc phục vụ
như thế, th [từ] ng cũng chỉ l một m tả m khng c tưởng về một
ci ng [đch thực].
Nay nếu [từ ng] c thn lm đối tượng, vậy tại sao khng phải thn của
một người khc được dng cho khả năng đ? Bởi v khng c quan hệ no
cả, tức v tưởng về Ti sinh khởi bất cứ nơi no n c một quan hệ với
một thn no đ hay một tm no đ, m khng phải một nơi no khc. . .
Nhưng nếu tự ng khng hiện hữu, th tưởng về Ti thuộc về ai?
Cu hỏi ny đ được chng ti trả lời trong khi bn về niệm, trong đ đ
chỉ r rằng người chủ của niệm chnh l nhn của niệm.
Nhưng nhn l ci g? N c khc biệt khng? Nhn l loại thức cấu
nhiễm bị tc động ton bộ bởi cc tưởng về Ti trước đ v lấy dng
thức của chnh n lm đối tượng.
Thế nhưng, nếu tự ng khng hiện hữu, th ci cảm nhận hạnh phc hay đau
khổ l ai? Hạnh phc hay đau khổ sinh khởi từ một nền tảng no đ, giống
hệt như người ta ni, cy c hoa, rừng c tri. (Abhidharmakośa IX p 476:
ātmany asati kim arthaḥ karmārambhaḥ/ aham sukho syām aham duḥkho na syām
ity evam arthaḥ/ kosāv ahaṃ nāna yad viṣayoyam ahaṃkāraḥ/
skandhaviṣayaḥ/ kathaṃ jāyate/ teṣu snehāt/ gaurādibuddhibhiḥ
sāmānādhikaraṇyāt tu/ gauroham ahaṃ śyāmaḥ sthūloham ahaṃ kṛṣaḥ
jīrṇoham aham yuveti gaurādibuddhibhiḥ samānādhikaraṇoyam ahaṃkakāro
dṛśyate/ na cātmana ete prakārā dṛśyante/ tasmād api skandheṣv ayam iti
gamyate/ ātmana upakārakepi śarīra ātmopacāro yathā ya evāyaṃ sa evāhaṃ
sa evāyaṃ me bhṛtya iti bhavaty upakārakepi ātmopācāro na tv ahaṃkāraḥ/
sati śarīrālambanatve paraśarīrālambanopi kasmān na bhavati/ asambandhāt/
yenaniva hi sahāsya sambandhaḥ kāyen ittena vā tatraivāyam ahaṃkāra
utpadyate nānyatra/ anādau saṃsāra evam abhyāsāt/ kaś ca sambandhaḥ/
kāryakāraṇabhāvaḥ/ yady ātmā nāsti kasyāyam ahaṃkāraḥ/ idaṃ punas tad
evāyātaṃ kim arthaiṣā ṣaṣṭhīti/ yāvady evāsya hetus tasyaivāyam iti/ kaś
cānyo hetuḥ/ pūrvāhaṃkāraparibhāvitaṃ svasamtativiṣayaṃ sāvadyaṃ cittam/
asaty ātmani ka eṣa sukhito duḥkhito vā/ yasminn āśraye sukham utpannaṃ
duḥkhaṃ vā/ yathā puṣpito vṛkṣaḥ phalitaṃ vanam iti//. Cf. Abhidharmakośa
IX p 472-3.)
Khng cần ni r m tả l g, th đoạn văn trn cũng cho chng ta những
trnh by chi tiết nhất, c lẽ l trnh by chi tiết duy nhất về những g
Thế Thn c trong đầu khi sử dụng từ ny trong tc phẩm của ng. V vậy,
thật đng cho chng ta xem xt định nghĩa của Nyāyasūtra c thể được p
dụng ở đy khng. Trong đoạn trn, Thế Thn lập luận rằng từ ng l chỉ
cho cc uẩn, ci tạo thnh một con người v, theo Tỳ B Sa, c thể được
phn tch thnh năm nhm, đ l nhm vật l, nhm cảm thọ, nhm khi niệm
ha, nhm ch v nhm tri nhận. Như vậy, r rng từ ng đang được p
dụng cho những g khng phải l n v nơi khng thuộc về n. Bởi v, theo
Tỳ B Sa, mỗi một trong cc nhm ny đều c cơ cấu vận hnh ring của n
v khng cần đến bất cứ can thiệp no nữa ngoi cơ cấu đ. V vậy, giống
như c người ni ci bục tht ln v điều anh ta muốn ni l những người
trn bục tht ln, th khi c người ni ti thấy, anh ta cũng muốn ni
l một cơ cấu phức tạp của khối lượng thn thể no đ nhn thấy chứ khng
phải ci g khc hơn. Như vậy, từ ti trong cu ni ti thấy đng vai
tr của từ ci bục trong cu ni ci bục tht ln. V lẽ đ, tất nhin
từ đ phải l một m tả, như đ được Nyāyasūtra định nghĩa. Tm lại, từ
ng m tả tnh chất một sự vật no đ, chứ n khng biểu trưng một sự
vật đang thật sự hiện hữu c tn l ng. Khng c một sự vật như ng
m n cảm nhận vui hay buồn, giống hệt như trường hợp khng c một sự vật
như khu rừng c hoa. Chnh cy cối v cy bụi c hoa chứ khng phải khu
rừng. Nhưng trong ngn ngữ hng ngy người ta hon ton c thể hiểu được
khi ni khu rừng c hoa v điều ny lại khiến cho từ rừng trở thnh
một m tả. N được dng để m tả một số cc sự vật m những sự vật ny, v
tnh chất ngắn gọn trong giao tiếp, khng cần phải liệt k tất cả. Vậy th
điều hiển nhin l Thế Thn hẳn phải biết r Nyāyasūtra v định nghĩa của
n về m tả, v điều ny đ tự biểu lộ r rng ngay từ đầu trong Cu X
Luận.
Ở điểm ny, khi đ được trang bị một hiểu biết chnh xc về những g từ
m tả m chỉ, nay ta c thể trở lại vấn đề tại sao sự m tả về ng v
php lại đặt nền tảng trn sự chuyển biến của thức, một sự chuyển biến
được định nghĩa l cấu trc ngn ngữ v đ dẫn đến luận đề nổi tiếng bất
kỳ ci g được cấu trc qua ngn ngữ đều khng thực hữu. Ta đ thấy rằng
m tả được định nghĩa l ci khng phải n v nơi khng c n. Ngoi ra,
từ những ph phn của Long Thọ v Bhartṛhari, ta cn biết rằng mọi từ ngữ
đều chỉ l những m tả, nếu chng c m chỉ ci g đ. Từ những quan niệm
ny điều tất yếu l những g được cấu trc bằng ngn ngữ qua cc m tả đ
khng nhất thiết phải hiện hữu. Bởi v lm sao n c thể hiện hữu khi n
được tạo thnh bởi những m tả m theo định nghĩa đều ở vo tnh trạng
khng phải chnh n hoặc l ci được p dụng cho những g khng phải
chng v nơi chng khng thuộc về? V lẽ đ, n chỉ l ci khiến ta
biết, như Thế Thn đ pht biểu. Thật vậy, giống như từ ci bục được
dng cho ci g đ khc hơn chnh n, mọi cấu trc ngn ngữ phải chỉ cho
ci g đ khc hơn chnh n theo cch tương tự. V giống hệt như ci bục
trong cu ni ci bục tht ln khng hề hiện hữu, bởi v trong đ từ ngữ
ny đang chỉ cho con người chứ khng phải ci bục, th mọi cấu trc ngn
ngữ cũng đều phi hữu như thế, bởi v tự thn chng chỉ bao gồm cc m tả.
Một khi cấu trc ngn ngữ khng hiện hữu, tất nhin những g được cấu
trc bằng ngn ngữ cũng khng cần phải hiện hữu. N khng hiện hữu theo
nghĩa n khng biểu trưng một sự vật m n được gọi tn hay được cấu trc
ngn ngữ theo sự vật đ. C nghĩa l sự khng hiện hữu của n dự tưởng một
hiện hữu của ci g đ khc với chnh n v l ci m n chỉ l một m tả
về. Thật vậy, trong Trisvabhāvanirdeśa, Thế Thn đ nhấn mạnh rằng thức
khng tuyệt đối hiện hữu theo cch n dựng thnh chnh n qua ngn ngữ v
theo cch n dựng thnh đối tượng qua ngn ngữ. (Trisvabhāvanirdeśa ad 5,
ed. de La Valle Poussin, MCB II (1932-1933) 147-161.) Những ai c khuynh
hướng lun lun muốn khẳng định rằng đối với Thế Thn thức l thực tại
duy nhất hy nn nhớ lấy pht biểu vừa dẫn. Điều n muốn ni rất đơn
giản. Thức khng hiện hữu, bởi v lm sao n c thể hiện hữu khi mọi thứ
tạo thnh n đều ở tnh trạng khng phải chnh n, được dng cho ci
khng phải n v nơi khng thuộc về n?
Ni cch khc, thức khng hiện hữu bởi v n l những g khng phải l
n v n khng phải l những g n l. Cng lc hy lưu rằng từ ci
bục trong cu ni ci bục tht ln cũng c thể được định nghĩa như thế:
n l ci khng phải l n v khng phải l ci n l. V một điều trở
thnh hiển nhin ở đy l l do tại sao thức trong tnh trạng chuyển biến
lin tục của n lại được đồng nhất với tiến trnh của cấu trc ngn ngữ,
v tại sao sự m tả về ng v php lại căn cứ vo thức đ, nếu khng phải
l đồng nhất với n. Tm lại, khi quan niệm m tả ni trn đi hỏi từ ngữ
phải chỉ cho cc sự vật khc hơn chnh chng v khi thức hon ton bị qui
định bởi từ ngữ, th khng kh khăn để nhận ra rằng tại sao thức khng
hiện hữu tuyệt đối theo cch n dựng thnh chnh n bằng ngn ngữ v theo
cch n dựng thnh đối tượng qua ngn ngữ. Nhưng nếu thức khng hiện hữu
v n l ci khng phải l n v khng phải l ci n l, thế th ci g
hiện hữu?
Trả lời cu hỏi ny, Thế Thn đề ra thuyết gọi l ba tnh của ng.
Trong Tam Thập Tụng, ng m tả như sau:
Bất cứ ci g được cấu trc bằng ngn ngữ bởi bất cứ cấu trc ngn ngữ
g cũng đều c một tự tnh ngn ngữ [m tự tnh ny] khng thể được tm
thấy. Nhưng c tự tnh tương đối sinh khởi từ cc yếu tố qui định [dng
lm nền tảng cho] cấu trc ngn ngữ v tự tnh ny cũng thuộc loại tự tnh
tuyệt đối bất cứ khi no n được tch rời thường xuyn với cấu trc ngn
ngữ. Như vậy, tự tnh tuyệt đối khng phải l khc cũng khng phải khng
khc tự tnh tương đối. Cần phải xem như l v thường, v.v., khi ci ny
đ khng được tri nhận, ci kia khng được tri nhận. [Tuy nhin,] chnh do
tnh trạng khng c ba tự tnh của ba tự tnh m tnh trạng khng c ba tự
tnh của mọi sự vật được mật thuyết. Tự tnh thứ nhất l khng c tự tnh
bằng chnh đặc tnh của n. Tự tnh thứ hai l như thế v n khng hiện
hữu tự n. Tự tnh thứ ba l khng c tự tnh v n l trạng thi sơ khởi
nhất của mọi sự vật v [l] ci như thế của chng, v v n mi mi như
thế. Chỉ n l ci khiến ta biết. (Triṃśikā ad 20-25: yena yena
vikalpena yad yad vastu vikalpyate/ parikalpita evāsau svabhāvo na sa
vidyate// paratantrasvabhāvas tu vikalpaḥ pratyayodbhavaḥ/ niṣpannas tasya
pūrvena sadā rahitatā tu yā// ata eva sa naivānyo nānanya paratantrataḥ/
anityatādivad vācyo nādṛṣṭesmin sa dṛśyate// trividhasya svabhāvasya
trividhāṃ niḥsvabhāvatām/ saṃdhāya sarvadharmānāṃ deśitā niḥsvabhāvatā//
prathamo lakṣaṇenaiva niḥsvabhāvoparaḥ punaḥ/ na svayambhāva etasyety
aparā niḥsvabhāvatā// dharmānāṃ paramārthaś ca sa yatas tathatāpi saḥ/
sarvakālaṃ tathābhāvāt saiva vijaptimātratā//)
Những g đoạn văn trn diễn tả thật hon ton hiển nhin. Mặc d ta c
thể phn biệt sự vật t nhất thnh ba loại, tức (1) những sự vật như ta
cấu thnh chng qua ngn ngữ, (2) những sự vật như chng hiện hữu phụ
thuộc vo những sự vật khc, kể cả cấu trc ngn ngữ, (3) v những sự vật
như chng l, tuy nhin vẫn c một sự kiện l cc sự vật chỉ hiện hữu như
chng l, bất kể c hay khng c một thức hay một cấu trc ngn ngữ.
V vậy, trạng thi chng l như thế chnh l sự kiện duy nhất đng để
ta biết, v chỉ c n mới c thể lm ci khiến ta biết. Ni cch khc,
nguyn thủy chỉ c cc sự vật, tức tnh trạng nguyn sơ nhất của cc sự
vật. Rồi từ trạng thi đ cc sự vật khc sinh khởi nhờ phụ thuộc vo
chng. V cuối cng, c cc cấu trc ngn ngữ về chng. Cấu trc ngn ngữ
hiển nhiển l chỉ cho chng, v thế, đối với cc sự vật, chắc chắn n
khng hiện hữu bằng tự tnh của n, bằng chnh đặc tnh của ring n. Cn
lại l cc sự vật v trạng thi uyn nguyn nhất của chng. Chng đồng
nhất, v trạng thi uyn nguyn nhất ny chỉ c thể hiện hnh qua sự xuất
hiện của n trong cc sự vật, v cc sự vật chỉ c thể xuất hiện qua sự
phụ thuộc vo trạng thi đ. Tm lại, chng giống như trạng thi v thường
của một sự vật. Chng ta khng thể nhận ra sự v thường của một đa hoa
nếu khng nhn thấy đa hoa, v cũng như thế, chng ta khng thể nhn thấy
đa hoa m khng nhận ra vẻ tươi đẹp của n phai tn nhanh như thế. V
thế, d ta c thể ni về ba tự tnh nhưng cũng chỉ c một tự tnh, v tự
tnh ny tự n th khng c tự tnh bởi v n l trạng thi uyn nguyn
nhất của mọi vật v l ci như thế của chng v v n mi mi như thế.
Thật ra, điều Thế Thn muốn ni qua định nghĩa ny l mọi vật hiện hữu như
chng l trong trạng thi nguyn sơ nhất ny của chng, bất kể chng c
thể thay đổi thnh ci g v thay đổi như thế no. V thế, để trả lời cu
hỏi Vậy ci g thực sự hiện hữu? ở trn, c lẽ Thế Thn đ ni rất r
rằng, đ l sự vật.
Lời đp ny cn r rng hơn trong Trisvabhāvanirdeśa, một luận thư nhằm
trnh by một ci nhn bao qut về thuyết ba tnh. Trong đ, Thế Thn cho
chng ta biết thuyết đ cần được hiểu như thế no như sau:
Tự tnh tuyệt đối khng khc với tự tnh ngn ngữ, v ci sau c tự
tnh của n l tnh chất nhị nguyn m khng hiện hữu trong khi ci trước
c tự tnh của n l sự khng c tnh chất nhị nguyn đ. Ngược lại, tự
tnh ngn ngữ được biết l khng khc với tự tnh tuyệt đối v ci sau c
tự tnh của n l tnh chất nhị nguyn m khng hiện hữu.
Tự tnh tuyệt đối cũng nn được xem khng khc tự tnh tương đối, v
ci sau khng hiện hữu theo cch n xuất hiện trong khi ci trước c tự
tnh của n l sự khng hiện hữu của cch xuất hiện đ. Ngược lại, tự tnh
tương đối nn được biết l khng khc tự tnh tuyệt đối, v ci sau c tự
tnh của n l một tnh chất nhị nguyn khng hiện hữu trong khi ci trước
c tự tnh của n l một cch xuất hiện khng hiện hữu. . .
Như vậy ba tự tnh ny nn c tnh chất bất nhị v bất khả tri, v tnh
thứ nhất khng hiện hữu, tnh thứ hai khng hiện hữu theo cch n hiện
hữu, v tnh thứ ba c tự tnh của n l sự khng hiện hữu của tnh thứ
nhất. N giống hệt như hnh ảnh ảo về sự xuất hiện của một con voi do năng
lực của cu thần ch, nhưng thật ra khng hiện hữu một con voi no cả m
chỉ l một hnh bng. Ở đy, con voi l tự tnh ngn ngữ, hnh bng trn
đ con voi xuất hiện l tự tnh tương đối; v tự tnh tuyệt đối l sự
khng hiện hữu của con voi đang xuất hiện trn hnh bng đ. Từ thức căn
bản, cấu trc ngn ngữ vốn khng hiện hữu lại xuất hiện như một tự ng
đi. Tự ng đi ny khng hiện hữu. V thế chỉ hiện hữu hnh dng trn đ
tự ng ny xuất hiện. Ta c thể v thức căn bản với cu thần ch, ci như
thế với phiến gỗ [trn đ con voi xuất hiện], cấu trc ngn ngữ với hnh
thể trn đ [con voi xuất hiện], v tự ng đối với con voi.
(Trisvabhāvanirdeśa ad 18-30: asaddvayasvabhāvatvāt tadabhāvasva-bhāvataḥ/
svabhāvāt kalpitāj jeyo niṃpannobhinnalakṣaṇaḥ// advayatvasvabhāvatvād
dvayābhāvasvabhāvataḥ/ niṣpannāt kalpitaś caiva vijareyobhinnalakṣaṇaḥ//
yathākhyānam asadbhāvāt tathāsattvasva-bhāvataḥ/ svabhāvāt paratantrākhyān
niṣpannobhinnalakṣaṇaḥ// asaddvaya-svabhāvatvād yathākhyānāsvabhāvataḥ/
niṣpannāt paratantropi vijeyobhinnalakṣaṇaḥ// kramabhedaḥ svabhāvānāṃ
vyavahārādhikārataḥ/ tatpraveśādhikārāc ca vyutpattyarthaṃ vidhīyate//
kalpito vyavaharātmakoparaḥ/ vyavahāra-samucchedaḥ svabhāvaś cānya
iṣyate// dvayābhāvātmakaḥ pūrvaṃ paratantraḥ praviśyate/ tataḥ praviṣyate
tatra kalpamātram asaddvayam// tat dvayābhāvabhāvo niṣpannotra
praviṣyate/ tathā hy asāv eva tadā asti nāstīti cocyate// trayopy ete
svabhāvā hi advayālabhyalakṣaṇāḥ/ abhāvād atathābhāvāt
tadabhāvasvabhāvataḥ// māyākṛtaṃ mantravaśāt khyāti hastyātmanā yathā/
ākāramātraṃ tatrāsti hastī nāsti tu sarvathā// svabhāvaḥ kalpito hastī
paratantras tadākṛtiḥ/ yas tatra hastyabhāvosau pariniṣpanna iṣyate//
asatkalpas tathā khyāti mūlacittād dvayātmanā/ dvayam atyantato nāsti
tatrāsty ākṛtimātrakam// mantravan mūlavijānaṃ kāṣṭhavat tathatā matā/
hastyākāravad eṣṭavyo vikalpo hastivad dvayam//.)
Trnh by ny khng để lại cht nghi ngờ no về quan điểm của Thế Thn
đối với vấn đề ci g hiện hữu. ng nhấn mạnh rằng tự tnh tuyệt đối khng
khc với tự tnh ngn ngữ hay tự tnh tương đối của một sự vật. Như vậy,
một vật hiện hữu khng chỉ nhờ phụ thuộc trạng thi của những g n l m
cn phụ thuộc vo những sự vật khc. Hơn nữa, n hon ton c thể được cấu
thnh bằng ngn ngữ, bởi v tự tnh tuyệt đối khng khc với tự tnh ngn
ngữ. V đy l những g thu ht chng ta. Bởi v n chỉ r rằng đối với
Thế Thn, mặc d ci được cấu thnh bằng ngn ngữ khng hiện hữu, nhưng n
chỉ khng hiện hữu khi no n được quan niệm l biểu trưng cho một vật
thật nhất định no đ ở nơi no đ thuộc ngoại cảnh. Thật ra n vẫn hiện
hữu khi n được xem như l một sự m tả nhằm m tả ci g đ bn ngoi,
bởi v những g được cấu thnh qua ngn ngữ cũng phải chỉ cho ci g đ
khc hơn chnh n. V thế, để đồng nhất tự tnh tuyệt đối của một sự vật
với tự tnh ngn ngữ của n, Thế Thn chứng minh r rằng ngn ngữ khng
phải khng c nghĩa của n, bởi v nếu khng th lm thế no một sự đồng
nhất như thế c thể thực hiện được? Dĩ nhin, điều ny chẳng c g mới lạ
phải ngạc nhin. Ci mới lạ l suy luận rằng, đối với Thế Thn, ngn ngữ
đặt nền tảng trn sự kiện chứ khng phải trn sự vật. Căn cứ trn sự kiện
c nghĩa l m tả trạng thi của một sự vật vo một thời điểm nhất định
no đ v một nơi chốn nhất định no đ. Khi ngn ngữ được quan niệm như
thế, th tự nhin mọi từ ngữ phải được xem như những m tả. V ci gọi l
cấu trc ngn ngữ chnh l cấu trc cc m tả.
V thế, Thế Thn đ xem sự chuyển biến của thức l một cấu trc ngn
ngữ. Cấu trc ngn ngữ l một cấu trc cc m tả. Vậy th, nay chng ta đ
c thể bn về l do tại sao chuyển biến của thức l một cấu trc ngn ngữ
v tại sao thức tự chuyển biến trước tin, một l do cho đến lc ny vẫn
chưa được bn đến kể từ khi chng ta đụng đến khi niệm m tả. Nyāyasūtra
định nghĩa m tả l ci ở trạng thi khng phải l chnh n, v hơn nữa
sự chuyển biến của thức cn được nghĩ l cấu trc của cc m tả. Ngoi ra,
người ta cn lập luận rằng bất cứ ci g được cấu trc qua ngn ngữ bởi
cấu trc của cc m tả th khng khc với sự vật m cấu trc ngn ngữ chỉ
đến. C nghĩa l kết quả của cấu trc ngn ngữ thật sự l sự vật ở nơi no
đ bn ngoi. Như vậy, nếu chuyển biến của thức l một cấu trc ngn ngữ
v kết quả của cấu trc ngn ngữ khng khc với sự vật ngoại giới, th
điều tất nhin l chuyển biến của thức m chỉ ci g đ khc hơn chnh n
v được duy tr bới chnh sự vật đ, một sự vật khng thể bị tch ly.
Nhưng nếu thức m chỉ ci g đ khc hơn chnh n trong suốt tiến trnh
chuyển biến th chnh sự hiện diện của ci g đ khc hơn chnh n ny
đ bắt đầu trước tin trong tiến trnh chuyển biến của n, v sự chuyển
biến ny, đến lượt n, lại l l do tồn tại của thức. Tại sao? Bởi v n
m chỉ ci g đ khc hơn chnh n th n phải dnh chỗ cho ci đ theo
cch no đ để cho sự m chỉ ny c thể thực hiện được. V điều đ nhất
thiết đi hỏi phải c sự thay đổi no đ trong chnh n. Tm lại, n phải
chuyển biến như thế no đ. Đ l l do tại sao trước tin thức tự chuyển
biến. N tự chuyển v tự thn n m chỉ một ci g đ khc hơn chnh n v
điều ny đi hỏi n phải tự chuyển để sự vật đ hiện khởi. V vậy, nếu ti
tri nhận một cuốn sch, th tri nhận đ chỉ c thể c nếu thức của ti đ
tự chuyển biến từ bất kỳ trạng thi no m n đ l sang trạng thi của
một thức về cuốn sch. Tương tự, từ một thức về cuốn sch, n lại tự
chuyển biến thnh một thức mới để ti c thể đọc được nhan đề cuốn sch
đ, chẳng hạn. Như vậy, thức ở trong tnh trạng chuyển biến v thay đổi
thường xuyn. Hy nhớ rằng, mọi thức về ci g đ đồng thời cũng l
thức về chnh n.
Nhưng nếu thức lun lun ở trạng thi thay đổi v chuyển biến thường
xuyn th n lun lun thuộc ci g đ khc hơn chnh n, bởi v chnh sự
hiện diện của ci g đ khc hơn chnh n ny đ bắt đầu trước tin
trong hoạt động chuyển biến của n. V vậy, thức phải lun lun l thức về
ci g đ, bởi v nếu khng c ci g đ th trước tin n sẽ khng hiện
hữu. Ni cch khc, khng c ci gọi l thức thuần ty. Thức cần phải v
nhất định l thức về ci g đ. Nhưng nếu thức cần phải v nhất định l
thức về ci g đ th đ l v n lun lun bị qui định bởi ngn ngữ. Nếu
ti thấy một bng cc dại th bng cc đ phải nằm trong bụi trong vườn
ti. N khng thể di chuyển vo thức của ti, v cũng khng hiện hữu trong
đ. Vậy những cu ni như ti thấy một bng cc c nghĩa l g? N c
nghĩa l khi ti thấy một bng cc, th một thng tin no đ được cung cấp
cho một quan năng thuộc thị gic, rồi quan năng ny khởi động một loạt
chuyển biến khiến cho quan năng ny khng chỉ nhận biết chnh n m cn
nhận biết ci g đ khc hơn chnh n, ci m trong trường hợp ny được
diễn tả l bng cc nhờ vo một ngn ngữ được cho.
Như vậy, những g bng cc thực hiện th rất đơn giản. Khi c điều kiện
đng, n tc động, nhờ một tiến trnh vật l-ha học no đ, ln một quan
năng thị gic ring biệt, v, để trnh rườm r, quan năng ny được gọi tn
l ti, v từ đ chnh những vận hnh của quan năng ny sinh khởi những
cu ni như ti thấy một bng cc. Tuy nhin, nếu bng cc tc động nhờ
vo một tiến trnh vật l-ha học no đ th n chỉ tc động như vậy chừng
no n l một nguồn thng tin, bởi v n ở đ, n khng di chuyển vo thức
của ti hay lm bất cứ điều g thuộc loại đ. Kết quả, tri nhận của ti về
bng cc sẽ chỉ xảy ra chừng no ngn ngữ của ti, d ngn ngữ ni hay
dạng no khc, cho php ti diễn đạt được điều đ. Bởi v khng phải bng
cc chuyển vo thức ti. Tri lại, chnh thng tin về n đ khởi đầu tri
nhận của ti trước tin, v thng tin đ chỉ c thể hiện hữu đối với tri
nhận ở dạng ny hay dạng khc của một ngn ngữ đ cho. nghĩa về vai tr
của ngn ngữ trong sự pht triển của một thức như vậy rất hiển nhin. Thật
vậy, kh c thể quan niệm sự hiện hữu của một thức m khng c ngn ngữ,
như Thế Thn đ sớm nhận ra vo những năm ng viết Cu X Luận, trong đ
ng ni r rằng tất cả cc thức thn đều lun lun km theo ci gọi l
ngn ngữ của .
Như vậy, đ l thức th bắt buộc phải lun lun l thức về ci g đ v
phải l cấu trc ngn ngữ về ci đ. V thế khng c ci gọi l thức tự
n. Chnh sản phẩm của cc điều kiện pht khởi n. Tm lại, như Thế Thn
đ ni, thức khng hiện hữu tuyệt đối theo cch n tự cấu thnh bằng ngn
ngữ v theo cch n cấu thnh đối tượng bằng ngn ngữ. Thức khng hiện
hữu, khng phải v khng c thức, bởi v lun lun c một thức về ci g
đ. N khng hiện hữu v khng c một thức như thế. N buộc phải lun lun
l thức về ci g v lun lun l một cấu trc ngn ngữ về ci đ. V thế,
sự chuyển biến của thức khng l g cả m chỉ l một cấu trc ngn ngữ
thuộc loại ny hay loại khc.
Từ kết luận đ, cu hỏi sự m tả về ng v php c phải l sự chuyển
biến của thức hay chỉ dựa vo chuyển biến đ đ trở nn hầu như lỗi thời.
Nếu chuyển biến của thức l một cấu trc ngn ngữ như vừa được định nghĩa,
th sự m tả về ng v php vừa l sự chuyển biến đ vừa dựa vo sự chuyển
biến đ. C nghĩa l sự chuyển biến c thể xảy ra chnh l do sự m tả, v
sự m tả l một m tả do chnh sự chuyển biến. Dĩ nhin, điều ny khng c
dng lm một giải php chiết trung cho vấn đề ngữ ngn học thuần ty về
dạng nguyn thủy của luận đề trong Tam Thập Tụng của Thế Thn l g, tức
c phải n được diễn đạt l sự m tả về ng v php... l sự chuyển biến
của thức hay sự m tả về ng v php... l dựa vo sự chuyển biến của
thức. Về vấn đề ny, chng ti đ đưa ra kiến ring của mnh ở chương
trước, pht biểu phần no về việc nn chọn dạng đầu th hay hơn. Vấn đề
ngữ ngn học đ, mặc d c những ẩn nghĩa rất th vị của n, nhưng trn
thực tế, th vẫn c thể xem như đ được giải quyết.
Khi ni rằng sự chuyển biến của thức l một cấu trc ngn ngữ, Thế Thn
đ khng để lại nghi hoặc no về vị tr của m tả trong sự chuyển biến đ.
V thế, vấn đề mang tnh ngn ngữ học đ, dường như vốn nhất định vượt ra
ngoi bất kỳ bn luận ngn ngữ học thuần ty no, đ được cung cấp cc dữ
liệu gi trị vo lc ny. Cc dữ liệu ny c khuynh hướng lập luận vừa ủng
hộ vừa chống lại pht biểu cho rằng sự m tả về ng v php l sự chuyển
biến của thức hoặc pht biểu cho rằng n đặt nền tảng trn sự chuyển biến
đ. Cc dữ liệu ni trn hiển nhin xuất pht từ cc nh luận giải v
phin dịch Thế Thn trong nhiều ngn ngữ khc nhau. Trong trường hợp no
đi nữa, chng ti nghĩ rằng hướng lập luận của ring ng trong Tam Thập
Tụng r rng ủng hộ cho cch hiểu sự m tả về ng v php l sự chuyển
biến của thức, bởi v kết luận cuối cng của ng l chuyển biến đ l một
cấu trc ngn ngữ; v cấu trc ngn ngữ đ khng g khc hơn cấu trc của
cc m tả, như đ thấy. Hơn nữa, sự m tả khng hiện hữu như thế, v cả
thức cũng vậy, bởi v những g được cấu trc qua ngn ngữ bằng chnh cấu
trc ngn ngữ th khng hiện hữu. N khng hiện hữu v n khng khc với
sự vật n nhắm đến. V thế, giống như thức khng hiện hữu v n buộc phải
lun lun l thức về một ci g đ, th m tả cũng khng hiện hữu như thế,
bởi v đ l m tả th n buộc phải ở vo trạng thi khng phải lun lun
l chnh n.
Một trong số vi th dụ hiếm hoi m ng đưa ra để minh họa điều ng
muốn ni, Thế Thn đ cho th dụ sau, một th dụ c nghĩa rất đặc biệt
để hiểu được tư tưởng ng trong khoảng thời gian cn lại của đời ng. ng
ni: Giống hệt như do năng lực của một cu thần ch m một hnh ảnh ảo
hiện ra như một con voi, nhưng chỉ hiện hữu một hnh dạng m khng c con
voi no cả. Ở đy, voi l tự tnh ngn ngữ, hnh dạng trn đ voi xuất
hiện l tự tnh tương đối, v tự tnh tuyệt đối l sự khng hiện hữu của
con voi xuất hiện trn hnh dạng đ. V ng ni thm: Ta c thể v thức
căn bản với cu thần ch, ci như thế với phiến gỗ trn đ con voi xuất
hiện, cấu trc ngn ngữ với hnh dạng trn đ con voi xuất hiện, v tự ng
đối với con voi. Những g hai pht biểu trn diễn đạt thật qu hiển
nhin. Khng c thức xuất hiện như một tự ng đi, v thức đ đ bị dng
vo việc tạo ra tự ng đi đ trước tin. Hơn nữa, trong sự dnh lu ny,
n đnh mất chnh n trong tiến trnh cấu trc ngn ngữ, tiến trnh sinh
khởi hnh dạng trn đ tự ng đi c thể chấp trước. V hnh dạng đ xảy
ra chỉ v c một ci như thế, tức l phiến gỗ trong trường hợp của con
voi huyễn thuật, v n c thể đồng nhất với ci đ. Ni cch khc, giống
hệt như cu thần ch v con voi ảo hiện hữu v c sự hiện hữu của phiến
gỗ, th thức v cấu trc ngn ngữ của n cũng hiện hữu như thế, bởi v c
ci như thế, tức những sự vật như chng l. Ci như thế ny được Thế
Thn gọi l chỉ l ci khiến ta biết, v đ l điều ng thc giục chng
ta hy tm hiểu để c thể đạt được sự hiểu biết no đ về n.
Như vậy, thng điệp Thế Thn muốn chuyển tải trong Tam Thập Tụng v
trong Trisvabhāvanirdeśa rất r rng v đơn giản. ng muốn ni rằng d
thức của chng ta hon ton ty thuộc vo ngn ngữ để hoạt động, nhưng
chnh những sự vật như thế đ sinh khởi thức đ trước tin v chng ta
phải trở lại những sự vật đ để c được bất cứ hiểu biết chnh xc no.
Nếu pht biểu ny c vẻ hiển nhin một cch bnh dung, nếu khng phải l
v tch sự, th trước hết chng ta khng được qun rằng ngay cả thời nay
một phần lớn cc hnh vi v cư xử của con người trong hầu hết cc trường
hợp đều được quyết định bởi một loại cấu trc ngn ngữ no đ m n khng
c nền tảng no cả, d qua sự kiện hay sự vật. V tnh trạng ny phải l
phổ biến v lan trn nhiều hơn vo thời của Thế Thn. V thế, cho d n c
hiển nhin một cch rất bnh thường như thế no đi nữa th điều may mắn l
Thế Thn đ giải thch cho chng ta tại sao cần phải ni ln điều đ một
cch mạnh mẽ v ng đ thật sự lm thế như đ hứa. V chng ta phải tri n
su sắc về điều đ.
(số trước)
dịch Việt: Đạo Sinh
|