|
Từ những g đ ni, r rng Thế Thn
đ quan niệm chuyển biến của thức l một cấu trc ngn ngữ, qua đ bất cứ
ci g được cấu trc bằng ngn ngữ đều khng tồn tại v chỉ c tc dụng
của ci khiến ta biết. Một cu hỏi lập tức được nu ln về l do tại sao
chuyển biến đ c thể được quan niệm như thế v n đ cấu trc ci g bằng
ngn ngữ để n c thể được m tả như thế. Để trả lời cu hỏi ny, ta khng
cần phải tm đu xa ngoi Tam Thập Tụng, bởi v một giải đp đ được đề ra
trong đ. Giải đp ny khng chỉ gip giải quyết cu hỏi trực tiếp vừa
nu, m cn cho ta một ci nhn r rng về cu trả lời của Thế Thn đối
với mối quan tm triết học ban đầu của ng. Hy lưu rằng ng đ khởi đầu
với một vấn đề rất đơn giản, đ l, c phải đối tượng của thức chỉ l tn
gọi, một vấn đề xuất pht từ nghin cứu c ph phn của ng về hệ tư tưởng
Tỳ B Sa. Trong hệ tư tưởng ny, sau khi loại bỏ một số danh tự giả tưởng
được biết như thần, ng, v.v., ra khỏi thế giới biện giải của họ, Tỳ
B Sa đ chủ trương mọi danh tự khc cn lại phải c khả năng chỉ thị một
vật thật nằm đu đ ở thế giới bn ngoi. Như vậy, theo Tỳ B Sa, phải c
tồn tại cc thực thể như sinh, hoại, qu khứ, vị lai, v.v., bởi v đ tồn
tại cc từ ngữ tương ứng với chng trong thế giới biện luận của họ. Khi
Thế Thn tiếp cận hệ thống ny, ng lập tức tự hỏi c thể đối tượng của
thức chỉ l một danh tự m khng cần phải giả định sự tồn tại của bất cứ
thực thể no khng, v điều ny đ dẫn dắt ng một cch hứng th đến
thuyết m tả. ng chỉ ra rằng nếu Tỳ B Sa chủ trương cần phải mặc định sự
tồn tại của mt thực thể như sinh, chẳng hạn, để c thể xc chứng nghĩa
của những cu ni như Ti biết sự sinh ra của con trai ti qua điện
thoại, trong đ chữ sinh l đối tượng của hnh động biết, th người
ta c thể vạch ra một cch qua đ chữ sinh c thể được loại bỏ dễ dng
m khng đnh mất bất cứ đơn vị c nghĩa no của cu ni. Th dụ, ta c
thể ni Ti biết con trai ti đ ra đời qua điện thoại, hoặc cn r rng
hơn, Qua điện thoại ti biết ci g đ đang hiện hữu đ chưa từng hiện
hữu trước đy v ci đ l con trai ti, v.v. V thế, r rng chữ sinh
c thể được loại bỏ m khng đnh mất những g cu ni trn c ni ra.
Vậy th, điều tất nhin l ngay cả đối với những tn gọi được chấp nhận
trong thế giới biện luận của Tỳ B Sa, ta vẫn c thể chứng minh rằng khng
cần phải giả định cho chng bất kỳ loại thực thể no cả, bởi v chng cũng
c thể được thay thế bằng cc cch diễn tả khc m những cch ny khng
đặt tn v cũng khng đi hỏi bất kỳ sự vật no tương ứng với chng. Ni
cch khc, những chữ như sinh, hoại, qu khứ, vị lai, v.v., chỉ l những
biểu tượng bất ton. Chng chỉ l những m tả, v v chỉ l những biểu
tượng bất ton cho nn c thể dễ dng thay thế chng khi tnh huống cần
đến. V thế, ta c thể ni Ti biết sự sinh ra của con ti m khng sợ
phạm phải về mặt bản thể luận một giả định về sự tồn tại của bất cứ thực
thể no c tn l sinh; bởi v, với cng cụ m tả mới ny, ta cũng c
thể ni Ti biết con trai ti đ ra đời, trong đ khng c một từ như
sinh xảy ra hay cần đến.
Từ thuyết m tả đ, Thế Thn tiếp tục tm hiểu thm về thể tnh của ngn
ngữ v kết quả l cc thuyết luận l mới đ được khm ph, đặt nền tảng
cho sự pht triển của luận l học Ấn độ của rất nhiều người nối tiếp ng.
Trong số cc thuyết mới ny, c lẽ thuyết c gi trị trường cửu nhất l
quan niệm cho rằng gi trị của một chứng cứ chỉ c thể được xc định trn
cơ sở của chnh n chứ khng phải của bất cứ ci g khc. Khi niệm ny đ
thc đẩy ng ti khảo st vấn đề tri nhận, bởi v nếu gi trị của một
chứng cứ c thể được xc định trn cơ sở của chnh n, th ci g l chứng
cứ của việc tri nhận cc sự vật, một điều m cho đến thời ng vẫn được cho
l thẩm quyền phn xt độc nhất của bất kỳ lập luận no. Việc ti khảo st
vấn đề ny đ gip ng biết được rằng tri nhận phải được định nghĩa bằng
ngn ngữ m n được diễn tả nếu muốn thot khỏi những cạm bẫy m rất nhiều
thuyết được đề ra vo thời ng về vấn đề ny đ mắc phải. Thế nhưng, một
khi tri nhận được định nghĩa như vậy, điều hiển nhin l phải tm ra một
cơ cấu để c thể giải thch điều ny. V ở đy, Thế Thn buộc phải tm
hiểu khng chỉ tri nhận m cn cả ton bộ đời sống phức tạp của thức sinh
khởi một tri nhận ring biệt, v kết quả l một quan niệm về sự tự tri
phải được giả định để c thể l giải mọi tri nhận nhất thiết phải l một
sự tự tri. C nghĩa l khi thấy ci g đ, ti khng chỉ thấy n m cn
phải biết được sự kiện ti thấy n.
Khi giả định một khi niệm như thế, điều tất nhin l phải khảo st để
quyết định xem n bắt nguồn từ đu v hoạt động như thế no. V điều ny
đ mang lại nhận thức rằng khng chỉ tri nhận phải được định nghĩa qua
ngn ngữ n được diễn tả, m ngay cả thức cũng phải được định nghĩa như
vậy, bởi v tự thn của thức chỉ l một sự chuyển biến, v sự chuyển biến
ny lại l một cấu trc ngn ngữ. Một lần nữa, nếu thật sự chuyển biến của
thức l một cấu trc ngn ngữ, th ta phải đưa ra một giải thch tại sao
n lại như thế. Giải thch đ sẽ khng những gip trả lời cu hỏi vừa nu
m đồng thời cn cho chng ta một giải đp trọn vẹn về quan tm triết học
tin khởi của Thế Thn. Tại sao? Bởi v, mặc d một điều hiển nhin l mọi
vấn đề triết học đ nối nhau thu ht sự ch của ng c thể được truy
nguyn từ chnh thuyết m tả, vốn l cu trả lời đầu tin của ng về quan
tm triết học tin khởi của ng, nhưng vẫn khng c l do r rng no được
đưa ra để giải thch tại sao thuyết m tả ny nhất định đng v hon ton
ph hợp, c nghĩa l tại sao luật thay thế cơ bản c thể c gi trị.
Trở lại th dụ trn, ta c thể hỏi: Tại sao c thể thay pht biểu Ti
biết sự sinh ra của con trai ti bằng Ti biết con trai ti đ ra đời
m khng đnh mất đơn vị c nghĩa của n? Những cu trả lời cho cu hỏi
ny cũng như những cu tương tự cho đến nay đ khng tm thấy mặc d chng
rất quan trọng cho việc hiểu đng thuyết m tả. V thế, để giải đp vấn đề
tại sao chuyển biến của thức l một cấu trc ngn ngữ, Thế Thn đ đề ra
một số cu trả lời thuộc loại trn, như sẽ thấy. Vậy, tại sao chuyển biến
của thức l một cấu trc ngn ngữ?
Chng ta đ ni rằng pht biểu sự chuyển biến của thức l một cấu trc
ngn ngữ l một kết luận được rt ra từ luận đề được trnh by trong Tam
Thập Tụng. V lẽ đ, bất kỳ xc chứng no c được về n th xc chứng đ
phải được tm thấy trong luận thư ny. Luận đề pht biểu sự m tả về ng
v php, vốn c tc dụng theo nhiều cch, đều dựa vo sự chuyển biến của
thức.
(Triṃśikā ad I: ātmadharmopacāro hi vividho yaḥ/
vijānaparināmesau parināmaḥ sa ca tridhā//.
Cf. Sum cu paḥi tshig leḥur byas pa, TT 5556 p 231b3-4: bdag daṅ chos su
er ḥdogs pa/ sna tshogs dag ni gaṅ byuṅ ba/ de ni rnam par śes par gyur/
gyur pa de yaṅ rnam gsum ste//
V Duy Thức Tam Thập Luận Tụng, Taishō 1586 p 60a27-28:
由 假 説 我 法 有 種 種 相 轉
彼 依 識 所 變 此 能 變 唯 三 .
Như vậy, từ thế kỷ thứ bảy trở lại đy t nhất đ c hai cch đọc khc
nhau cu tụng thứ ba: (1) vijānaparināmosau m chứng cứ của n cn tm
thấy trong bản dịch Ty Tạng de ni rnam par śes par gyur trong đ khng
thấy dng vị tr cch; hoặc (2) vijānaparināmesau, đ được dịch st ra
Hn văn. Cũng nn lưu , mặc d người ta cho rằng c cc quan điểm dị biệt
giữa An Huệ v Php Hộ nhưng một sự vụ thật đng ngạc nhin l cả hai đều
đọc theo cch sau.)
Về mặt lịch sử, pht biểu ny c thể hiểu theo hai cch. Thứ nhất, n c
khẳng định m tả về ng v php l chuyển biến của thức. Thứ hai, n hm
chuyển biến của thức l nền tảng hoạt động của m tả về ng v php. Cch
no trong hai cch trn l đng sẽ khng phải l chủ đề thảo luận của
chng ta hm nay; bởi v d cch no đng, sự thật vẫn l sự m tả về ng
v php được quan niệm l nối kết bất khả phn với chuyển biến của thức,
bất luận n đang được nối kết bất khả phn bằng cch no. Ni cch khc,
d m tả về ng v php c đồng nhất với, hay đặt cơ sở trn, sự chuyển
biến của thức, th sự thật vẫn l sự m tả được nối kết bất khả phn với
chuyển biến của thức. V thế, chừng no ta chưa biết được từ ngữ m tả
c nghĩa chnh xc l g, ta vẫn chưa thể quyết định cch hiểu no trong
hai cch trn phản nh r hơn nghĩa m Thế Thn muốn ni. Vậy, m tả c
nghĩa l g?
Để trả lời cu hỏi ny, một lần nữa chng ta lại khng c một giải đp cho
sẵn của chnh Thế Thn. V đy l một điều kỳ lạ bởi v từ ngữ ny vốn c
một vai tr quan trọng trong luận đề trn. Thật vậy, n xuất hiện rất sớm
trong cc tc phẩm của ng. Chẳng hạn, chng ta c thể tm thấy trong Cu
X Luận, nhưng dĩ nhin l khng c định nghĩa no về n.(Abhidharmakośa
IX p 476.)
Kết quả, chng ta phải giả thiết một lần nữa l từ m tả đ được dng
rất phổ biến vo thời ng v những người sử dụng đ hiểu chnh xc từ ny
m khng cần phải ni g thm về nghĩa của n. Độ chnh xc của giả
thiết ny c thể dễ dng chứng minh qua việc thăm d cc ti liệu gốc
chng ta c được ngy nay về từ ngữ ny. Như vậy, n đ xuất hiện với một
nghĩa rất r rng v xc định trong một số văn bản thuộc những g thường
được gọi l Upaniṣad Tiểu Bản (Bhāvanopaniṣad 3, ed. A. Mahādeva Śastri,
in The Śākta Upaniṣads, Adyar.). Tuy nhin điều đng tiếc l ta khng thể
xc định thỏa đng ngy thng xuất hiện của cc bản ny. C người cho rằng
chng thuộc về đời sau ny, trong khi c người lại rộng lượng hơn khi giả
thuyết một tnh chất cổ xưa no đ cho chng (Xem J. A. B. van Buitenen,
The Maitrāyanīya Upaniṣad
with the Commentary of Śrī Upaniṣad - Brahma-Yogin, Adhyar:
The Adhyar Library, 1950: 101.).
Chng ta khng thể bn về vấn đề ny ngay ở đy, v n khng thật sự ph
hợp với chủ đề của chng ta. Trong bất cứ trường hợp no, cho d chng ta
c bn đến th nhiều lắm chng ta chỉ đạt được một giả thuyết mới khng
chắc chắn no đ, một giả thuyết c lẽ khng khả quan hơn bất cứ giả
thuyết no đ cho. V thế, chng ta sẵn sng chấp nhận những g Upaniṣad
Tiểu Bản đ ni về từ m tả, v quay sang cc nguồn tư liệu khc m ta
thừa nhận đ xc định đng nin đại của chng v, trong vi trường hợp, c
thể cho những thng tin tốt hơn về cch dng m từ ngữ ny c thể đ c.
Nguồn tư liệu đầu tin khng g khc hơn Mahābhāṣya của Patajali.
Khi bn về Pānini I.1.1, Kātyāyana đ đặt ra cu hỏi lm thế no ta biết
được vṛddhi l chỉ cho ā, āi, v āu, m khng phải trường hợp ngược lại,
v rồi ng trả lời bằng pht biểu rằng ta c thể biết được sự khc nhau
từ cch dng của Sư, như đ tm thấy trong những g c lin quan đến ngn
ngữ Vệ đ v ngn ngữ phổ thng. Bn về cu trả lời ny, Patajali hỏi:
Nhm từ từ cch dng của Sư c nghĩa g? V đy l trả lời của ng:
Từ sự m tả của Sư, th n giống như những g được thực hiện trn thế gian
v trong cc bộ Vệ đ. Trn thế gian, khi một đứa b sinh ra, cha mẹ ở
phng bn đặt tn cho n l Devadatta, Yajadatta. Từ sự m tả về những
tn gọi ny, người khc biết rằng n chỉ cho đứa b. Tương tự, trong Vệ đ
khi một vị tế quan đặt tn cc dụng cụ tế lễ của ng ta như sphya, yūpa,
casāla, v.v., th từ sự m tả của cc tn gọi đ bởi những vị tn knh đ,
người khc biết rằng chng chỉ cho cc dụng cụ đ. Đ cũng [l trường hợp]
ở đy. Ngay cả ở đy c người ni rằng chữ vṛddhi l ci chỉ thị, v ā, āi
v āu l những ci được chỉ thị (Patajali, The Vyākaraṇa-Mahābhāṣya of
Patajali I, ed. F. Kielhorn, Poona: The Bhandarkar Oriental research
Institute, 1962 (3rd edition): 38: saṃjāsaṃjyasamdehaś ca// kriyamānepi
saṃjādhikāre saṃjāsaṃjinor asamdeho vaktavyaḥ/ kuto hy etad
vṛddhiśabdaḥ saṃjādaicag saṃjina iti na punar ādaicaḥ saṃjā
vṛddhiśabdaḥ saṃjīti// yat tāvad ucyate saṃjāraḥ kartavyaḥ
saṃjāsampratyayārtha iti na kartavyaḥ/ ācāryācārāt saṃjāsiddhiḥ
ācāryācārāt saṃjāsiddhir bhaviṣyati/ kim idam ācāryācārād iti/ ācāryānām
upacārāt/ yathā laukikavaidikeṣu// tadyathā laukikeṣu vaidikeṣu ca
kṛtānteṣu/ loke tāvan mātapitarau putrasya jātasya samvṛtevakāse nāma
kurvāte devadatto yajadatta iti/ tayor upacārād anyepi jānatīyam asya
saṃjeti/ vede yājnikāḥ saṃjāṃ kurvanti sphyo yupaś casāla iti/ tatra
bhavatām upacārād anyepi jānantīyam asya saṃjeti/ evam ihāpi/ ihaiva
tāvat ecid vyācakṣāṇā āhaḥ/ vṛddhisabhaḥ saṃjādaicaḥ saṃjina iti/ apare
punaḥ sici vṛddhiḥ ity uktvākāraikārānudāharanti/ te manyāmahe yayā
pratyāyyante sā saṃjā ye pratīyante te saṃjina iti//.), trong khi những
người khc đọc sūtra suci vṛddhiḥ [Pānini VII.2.1] v minh họa n bằng ā,
āi v āu. V vậy, chng ta hiểu rằng, ci m cng với n một ci khc được
đề cập đến l một ci chỉ thị v những ci m chng được đề cập đến l
những ci được chỉ thị.
Qua đoạn văn trn, r rng đối với Patajali m tả l một cch dng được
chấp nhận của một tn gọi no đ. Khi ti gọi một bng hoa l cc, th
những người khc chỉ biết n l bng cc nhờ sự m tả ny, tức cch dng
của ci tn cc đ. Tnh chất đồng nghĩa của hai từ m tả v cch
dng được chấp nhận rộng ri thật lu sau thời của Patajali v vẫn cn
được dng ngay cả sau thời của Thế Thn. Trong luận giải của mnh về
Nyāyasūtra, Vātsyāyana t nhất đ một lần xem như đồng nhất hai từ m tả
v cch dng một cch đặc biệt (Nyāyasūtra II. 2. 61.), cho d chnh
Nyāyasūtra đ định nghĩa từ m tả theo cch khc.
Trong đ, từ ny xuất hiện đến chn lần, tức Nyāyasūtra I.2.11, 14, 15;
II.2.14, 30, 61, 62, 64; v IV.1.54, trong số đ chỉ c một lần l khng
được hiểu theo cch Nyāyasūtra định nghĩa chng. Đ l trường hợp ngoại lệ
chng ta vừa chỉ ra, lin quan đến Nyāyasūtra II.2. 62, trong đ
Vātsyāyasūtra diễn giải m tả c nghĩa l cch dng. Vậy, Nyāyasūtra
định nghĩa, v Vātsyāyana hiểu, cc trường hợp cn lại như thế no? Chuỗi
xuất hiện đầu tin của từ ny chủ yếu ni về cc loại bẫy luận l khc
nhau do cch dng mơ hồ của ngn ngữ. Nyāyasūtra định nghĩa cc bẫy ny
như sau:
Bẫy luận l l sự phản bc về một pht biểu bằng cch đưa ra một cấu trc
ngn ngữ về một đối tượng, v n c ba loại: bẫy từ ngữ, bẫy tương tự v
bẫy m tả. Bẫy luận l từ ngữ l cấu trc ngn ngữ về một đối tượng khc
với ci được dự định của người ni khi đối tượng đ được anh ta ni đến
một cch mơ hồ. Bẫy luận l tương tự l cấu trc ngn ngữ về một đối tượng
khng thật bằng cch nối kết nhiều sự tương tự với đối tượng đ hơn l ci
n thật sự c. Bẫy luận l m tả l phủ nhận hiện hữu thật sự của một đối
tượng trong khi đưa ra một cấu trc ngn ngữ về một vật [thay chỗ n].
Nay, c phải bẫy luận l m tả chỉ l một bẫy luận l từ ngữ do chng
khng khc nhau? Khng, khng phải, bởi v chng c cc loại đối tượng
khc nhau. Hơn nữa, nếu chng khng khc nhau, vậy tất yếu l chỉ c một
bẫy luận l, bởi v cả ba loại trn cng chia sẻ một loại thuộc tnh chung
no đ.(Nyāyasūtra I. 2. 10-17: vacanavighātorthavikalpopapatyā chalam//
tat trividhaṃ vākchalaṃ sāmānyachalam upacārachalaṃ ceti//
aviśeṣābhihiterthe vaktur abhiprāyād arthāntarakalpanā vākchalam//
sambhavatorthasyāti-sāmānyayogād asambhūtārthakalpanā sāmānyachalam//
dharmavikalpanirdeśe rthasadbhāvaprtiṣedha upacārachalam// vakchalam
evopacārachalaṃ tadaviśeṣāt// na tad arthāntarabhāvāt// aviśeṣe vā kicit
sādharmyād ekachalaprasaṃgaḥ//.)
Đ l lời bn đầy đủ về vấn đề cc bẫy luận l m Nyāyasūtra đưa ra. N
được dịch trọn ở đy, khng chỉ v n bn đến từ m tả đang l chủ đề
khảo cứu của chng ta, m cn v sự tương tự giữa ngn ngữ n đ sử dụng
để bn đến vấn đề đang được n ni đến v ngn ngữ chnh Thế Thn đ dng
trong cc tc phẩm của ng, đặc biệt l Tam Thập Tụng. Như vậy, khi
Nyāyasūtra định nghĩa bẫy luận l m tả l sự phủ nhận hiện hữu thật sự
của một đối tượng trong khi đưa ra một cấu trc ngn ngữ về một vật thay
chỗ n, ta khng thể khng nghĩ ngay đến pht biểu của Thế Thn chuyển
biến của thức l một cấu trc ngn ngữ v chuyển biến đ l sự m tả về
ng v php. Dĩ nhin sự qu giống nhau về ngn ngữ khng tạo thm điều
g cả, ngoi việc n bảo đảm cho chng ta sự chnh xc của cch tiếp cận
của chng ta với vấn đề định nghĩa những g m tự thn Thế Thn đ bỏ lững
khng định nghĩa. C nghĩa, nếu Thế Thn khng để đến hoặc khng bỏ cng
định nghĩa bất kỳ từ ngữ no c nghĩa rất quan trọng đối với chng ta
ngy nay để hiểu được tư tưởng ng, th chng ta c thể giả định một cch
an ton l v ng nghĩ rằng đ c người khc lm việc đ v khng cần phải
lập lại.
Lời bn được Nyāyasūtra đưa ra ở trn hiển nhin khng phải l một định
nghĩa r rng về m tả l g. Điều muốn ni l n cho chng ta một ci
nhn sơ bộ về vị tr m định nghĩa đ chiếm lĩnh trong thế giới biện giải
của con người. Chẳng hạn, n chỉ ra rằng c người chủ trương cạm bẫy luận
l m tả hon ton khng khc với cạm bẫy từ ngữ. Chng thuộc cng loại
bẫy luận l như nhau. Mặc d qua nhiều thế kỷ, Nyāyasūtra cng với cc nh
bnh giải n đ khng chỉ ra chnh xc ai l người chủ trương như thế,
nhưng chng ta ngy nay biết rằng t nhất cũng c một trong cc tc giả
của Carakasaṃhitā đ chủ trương như thế (Carakasaṃhitā, Vimānasthānam
VIII. 56.). V vậy, ở kha cạnh ny chng ta c thể chắc chắn rằng m tả
l một dạng, nếu khng phải l dạng độc nhất, của ngn ngữ c thể được xem
như đồng nhất với chnh ngn ngữ, bất luận m tả c thể được định nghĩa
như thế no. Kết quả l ngay cả khi khng c cố gắng no nhằm định nghĩa
m tả một cch minh nhin th Nyāyasūtra, qua việc trnh by nhiều quan
điểm khc nhau về tương quan giữa bẫy luận l từ ngữ v bẫy luận l m tả,
r rng đ định đặt giới hạn cho cc m tả v định vị chng một cch dứt
khot trong cc bin giới của ngn ngữ. V lẽ đ, khng c cht mơ hồ no
về vị tr chng phải c, chừng no chng vẫn cn được nối kết với từ cấu
trc ngn ngữ, v khi m chng được dng với từ đ.
Ngoi ra, qua việc định vị cc m tả như thế, Nyāyasūtra r rng đ cố
gắng minh định chnh xc những g chng bao gồm. Ở đy, để đnh gi đng
cố gắng ny, ta phải biết bẫy luận l từ ngữ v m tả l g. Vātsyāyana
cho chng ta biết bẫy luận l từ ngữ thuộc kiểu sau đy. Khi c người ni
navakambalo yaṃ mānavakaḥ, một cu ni tiếng Phạn c thể được hiểu theo
hai nghĩa: thằng b ny c một ci mền mới hoặc thằng b ny c chn
ci mền v từ nava trong đ c nghĩa l mới hoặc chn, th người đ đ
dựng ln một ci bẫy luận l từ ngữ cho chnh anh ta, một ci bẫy m đối
thủ của anh ta c thể dẫn anh ta vo cuộc tranh luận bằng cch chỉ ra rằng
nếu thằng b chỉ c một ci mền, tại sao anh ta ni n c chn ci. Mặt
khc, nếu thằng b c chn ci mền, tại sao anh ta lại ni n c một ci
mền mới. V thế, khi một cu ni c khả năng tạo ra nhiều cu hỏi khc
nhau thuộc loại ny, n sẽ thuộc nhm cc bẫy luận l từ ngữ
(Nyāyasūtrabhāṣya I. 2. 12.).
Về bẫy luận l m tả, Vātsyāyana đưa ra cc th dụ kiểu sau. Khi c người
ni ci bục tht ln th anh ta đ mắc phải bẫy luận l m tả, bởi v
đối thủ của anh ta c thể phản ứng, những người trn bục tht ln chứ ci
bục khng tht ln. Trong trường hợp ny, những g đối thủ của anh ta lm
l phủ nhận hiện hữu thật của đối tượng, đối tượng m cu ni của anh ta
nhắm đến v ở đy c nghĩa l những người ở trn bục, trong khi đặt vo
chỗ của n một cấu trc ngn ngữ về một vật, một cấu trc c thể khiến
cho cu ni ci bục tht ln c nghĩa chnh xc như những g m mỗi một
từ cấu thnh n ni ra, tức ci bục tht ln chứ khng phải g khc hơn
(Nyāyasūtrabhāṣya I. 2. 14.).
Vậy, r rng l cả hai loại bẫy luận l đều được thực hiện bằng cch bp
nắn từ ngữ (Nyāyasūtrabhāṣya I. 2. 15.). Mặc d Nyāyasūtra phn biệt sự
khc biệt vi tế giữa bẫy luận l từ ngữ v bẫy luận l m tả bằng cch chỉ
ra rằng trong khi loại đầu chỉ lin quan đến sự bp nắn nghĩa chnh của
một từ, th loại sau lại chỉ ni đến nghĩa phụ của n (Nyāyasūtrabhāṣya I.
2. 16.), nhưng chừng đ cũng đ đủ cho mục đch của chng ta ở đy để thấy
rằng cả hai loại ny đều xảy ra thng qua một loại bp nắn từ ngữ no đ,
khng kể l n lin quan đến nghĩa chnh hay phụ. Như vậy, m tả bao gồm
cc từ ngữ thuộc một kiểu no đ. V thế, chng khng những được định vị
trong lnh vực ngn ngữ m cn được biểu trưng bởi một loại từ ngữ của
ring chng. Cc thnh phần của m tả v thế được chỉ định r rng. V từ
đy trở đi, sẽ khng cn cu hỏi về m tả c nghĩa l g, v chng ta
khng chờ đợi lu mới c một trả lời về n.
Ở chương kế tiếp, khi bn đến vấn đề đối tượng của từ ngữ l một vật ring
rẽ hay một nhm cc vật, Nyāyasūtra thấy rằng cần phải ni r, theo quan
điểm của n, m tả l g. nghĩa của việc chọn thời điểm đ để đưa vo
quan điểm của n về m tả sẽ khng bị bỏ qua, như sẽ thấy; v l do tại
sao n quyết định lm thế ở giai đoạn đ cũng sẽ rất r rng sau đ. Điều
li cuốn chng ta ở điểm ny l n đ định nghĩa từ m tả như thế no.
N ni: m tả l ci ở tnh trạng khng phải chnh n do sự kết hợp của
n, vị tr của n, nghĩa của n, hnh động của n, sự ước tnh của n,
sự trực thuộc của n, mi trường của n, sự nối kết của n, sự cho quả của
n v năng lực của n, như trong trường hợp cc từ b la mn, ci bục,
ci mền, nh vua, bữa ăn la mạch, đn hương, sng Hằng, vải,
đồ ăn v con người. (Nyāyasūtrabhāṣya II. 2. 64:
sahacaraṇasthānatādarthyavṛttamānadhāraṇasamīpyayogasādhanādhipatyebhyo
brahmanamacakatarājasaktucandana gaṅgāśāṭakānnapuruṣeṣv atadbhāve pi tad
upacāraḥ//.)
Những g định nghĩa ny ni về từ m tả th rất r rng. Theo đ, m
tả l bất cứ từ no khng chỉ cho chnh n, m cho một ci khc. Cc th
dụ trn được Vātsyāyana giải thch thm như sau:
Ni m tả l ci ở tnh trạng khng phải l chnh n tức ni rằng việc đặt
tn của một từ khng p dụng cho chnh n bởi chnh từ đ. Điều ny v (1)
sự kết hợp của n, như khi c người ni, ai đ bẻ cong cy gậy th anh
ta c chỉ cho vị b la mn lm điều đ, [v] b la mn lun lun được
kết hợp với cy gậy. Hoặc v (2) vị tr của n, như khi c người ni, ci
bục tht ln tức anh ta c chỉ cho những người trn bục lm thế. Hoặc
v (3) nghĩa của n, như khi c người ni ai đ lm một tấm thảm, tức
anh c chỉ cho một tấm thảm rơm, v tấm thảm c nghĩa l một sự trải ra
của rơm. Hoặc v (4) hnh động của n, như khi c người ni ci chết l
vua, của cải l vua, tức anh ta c ni những thứ ny hnh động như
một ng vua. Hoặc v (5) sự ước tnh của n, như khi bữa ăn la mạch được
đo bằng một adhaka, người ta ni bữa cơm la mạch bằng một adhaka. Hoặc
v (6) sự trực thuộc của n, như khi gỗ đn hương được giữ trong một b
cỏ, người ta ni đn hương của b cỏ. Hoặc v (7) mi trường của n, như
khi c người ni những con b quanh quẩn trn sng Hằng, tức anh ta c
ni chng quanh quẩn ở những nơi gần sng Hằng. Hoặc v (8) sự nối kết
của n, như khi c người ni vải đen, tức anh ta c ni tấm vải được
nối kết với mu đen. Hoặc v (9) sự cho quả của n, như khi c người ni
thức ăn l cuộc sống. Hoặc v (10) năng lực của n, như cu ni người
đn ng ny l vương quốc, người đn ng ny l ging tộc. Ở điểm ny,
ta c thể ni rằng ngay cả từ loại cũng sẽ chỉ thị một vật thể ring
biệt do sự kết hợp hay sự nối kết của n.(Nyāyasūtrabhāṣya II. 2. 64:
atadbhāvepi tad upacāra ity atacchabdasya tena śabdenābhidhānam iti/
sahacaraṇāt yaṣṭikāṃ bhojaya iti yaṣṭikāsahacarito brāhmanobhidhāyata
iti/ sthānāt macāḥ krosantīti macasthāḥ puruṣā abhidhīyante/ tādarthyāt
katārtheṣu vīraṇeṣu vyūhyamāneṣu kataṃ karotīti bhavati/ vṛttād yamo rājā
kubero rājeti tadvad varttate iti/ mānād ādakena mitāḥ saktavaḥ
ādakasaktava iti/ dhāraṇāt tulāyāṃ dhṛtaṃ candanaṃ tulācandanam iti/
sāmīpyād gaṅgāyāṃ gāvaś caratīti deśobhidhīyate sannikṛṣṭaḥ/ yogāt
kṛṣṇena rāgena yuktaḥ sātakaḥ kṛṣṇa ity abhidhīyate/ sādhanāt annaṃ
prāynāḥ iti/ ādhipatyāt ayaṃ puruṣaḥ kulam ayaṃ gotram iti/ tatrāyaṃ
sahacaraṇād yagād vā jātiśabdo vyaktau prayujyata iti//.)
Với giải thch của Vātsyāyana, nghĩa của cu ni m tả l ci ở tnh
trạng khng phải l chnh n do sự kết hợp của n, vị tr của n, v.v.,
thật qu r rng. Một từ l một m tả khi n khng chỉ cho chnh n m cho
ci khc. Như vậy, khi c người ni ci bục tht ln, từ bục l một m
tả v n khng chỉ thị một vật thể c tn l bục, m chỉ cho ci khc,
trong trường hợp ny l những người đứng trn bục. Tương tự, cu ni
những con b quanh quẩn trn sng Hằng khng c nghĩa l những con b
đang đi đi lại lại trn mặt nước sng Hằng, m l chng đi lại ở những nơi
ở gần hoặc dọc theo sng Hằng. V thế, cụm từ trn sng Hằng l một m
tả, v n khng chỉ cho ci m lẽ ra n phải chỉ, tức nước sng Hằng,
nhưng thay v thế n lại chỉ một ci khc, tức những nơi gần n. nghĩa
của từ m tả v thế hon ton được xc định v định nghĩa r rng.
Ta c thể ni, m tả l bất cứ từ ngữ no khng chỉ cho vật thể mang từ
đ, m thay v thế lại chỉ cho một vật thể khc no đ khng mang từ ngữ
ny. Một khi được định nghĩa như thế, ta c thể thấy ngay tại sao định
nghĩa về m tả lại được đưa vo việc bn luận rằng đối tượng của một từ c
phải l một vật ring rẽ hay một nhm sự vật; v từ đ, ta c thể đnh gi
sự chnh xc trong hiểu biết của Vātsyāyana về Nyāyasūtra khi ng giải
nghĩa từ m tả l cch dng, như đ chỉ ra ở trn.
Ta đ thấy rằng Nyāyasūtra dng từ m tả một vi lần trước khi cố gắng
ni r nghĩa của n vo thời điểm m sự thảo luận về đối tượng của một
từ l g đ đạt đến điểm cao của n với luận đề cho rằng một sự vật ring
lẻ thật sự l đối tượng của một từ. Biện luận đ như sau:
Vẫn cn nghi ngờ về lin hệ giữa [từ ngữ] v cc sự vật ring lẻ, hnh
dạng v chủng loại, bởi v [sự c mặt] của cc m tả. [C người cho rằng
đối tượng của một từ l một] sự vật ring lẻ do c cc m tả, nơi m chữ
đ, nhm, sự cho, sự sở hữu, số lượng, sự tch tập, sự suy giảm, mu
sắc, tổ hợp v huyết thống đều được p dụng cho mỗi sự vật ring lẻ.
[Chng ti trả lời], khng phải như vậy bởi v điều đ sẽ l một diễn tiến
v cng (progressus ad infinitum). M tả l ci ở trạng thi khng phải
chnh n do sự kết hợp của n, vị tr của n, nghĩa của n, hnh động
của n, sự ước lượng của n, sự thuộc về của n, mi trường của n, sự nối
kết của n, sự cho quả của n v năng lực của n như trường hợp cc từ b
la mn, ci bục, tấm thảm, nh vua, bữa ăn la mạch, đn hương,
sng Hằng, tấm vải, thức ăn, v con người. [Vậy th], hnh dạng
phải l [đối tượng của một từ], v ta c thể dựa vo n để thiết lập sự
xc định của mỗi hữu thể. [Chng ti trả lời rằng khng phải như vậy] v
n khng dng được cho việc hiến cng, v.v., như trong trường hợp của con
b bằng đất st, nơi ngay cả [những yu cầu của] sự vật ring lẻ v của
hnh dạng được thực hiện chnh xc. [Vậy th, đối tượng của một từ l]
chủng loại của một vật. [Chng ti trả lời rằng] khng phải như vậy, v sự
hiển by của chủng loại l nhờ sự phụ thuộc của n vo hnh dạng v sự vật
ring lẻ. V vậy, đối tượng của một từ đồng thời cũng l một vật ring lẻ,
một hnh dạng v một chủng loại.(Nyāyasūtrabhāṣya II. 2. 61-68:
vyaktyākṛtijātisannidhāv upacārāt saṃśayaḥ//
yāśabdasamūhatyāgaparigraha-sankhyāvṛddhyapacayavarṇ-asamāsānubandhānā
vyaktāv upacārād vyaktiḥ// na tadanavasthānāt//
sahacaranasthānatādarthya-vṛttamānadhāranasāpīpya-yogasādhānā-dhipatyebhyo
brāhmaṇamacakatarāja-saktucandanagaṅgāśāṭakānnapuruṣeṣv atadbhāvepi tad
upacāraḥ// ākṛtiḥ tadapekṣatvt sattvavyavasthānasiddheḥ//
vyaktyākṛtiyuktepy aprasamgāt prokṣaṇādīnāṃ mṛdgavak jātiḥ// na
ākṛtivyaktyapekṣatvāj jātyabhivyakteḥ/ vyaktyākṛtijātayas tu padārthaḥ//.)
Đọc hết đoạn ny, ta c thể thấy r chnh do cc m tả m đ xuất hiện
những nghi ngờ về đối tượng của một từ l g. V lẽ đ cần phải minh định
m tả l g để c thể khiến cho những người tham dự thảo luận ny nhận
thức r rng cc nghĩa được hm chứa trong quan niệm m tả đối với vấn
đề đối tượng của một từ l g. Nếu chủ trương rằng đối tượng của một từ l
mỗi sự vật ring lẻ, th ta c thể ni g về những từ như ci bục trong
cu ni ci bục tht ln, trong đ đối tượng của pht biểu khng phải l
một ci bục như ta tưởng m l những người trn ci bục đ? Cuối cng, nếu
ni rằng đối tượng của một từ l chủng loại của một sự vật th cũng gặp
phải kh khăn trn, bởi v lm thế no ta c thể sắp xếp những người trn
bục v ci bục vo cng một loại? Với những kh khăn ny, thật khng ngạc
nhin cht no nếu ta c thể kết luận rằng từ ngữ chỉ l những m tả v
đối tượng chỉ l ci được từ ngữ m tả chứ khng phải biểu trưng. Chng ta
khng ngạc nhin, bởi v đ l một kết luận độc nhất, chnh xc v c thể
c. Thế nhưng, điều kỳ dị l Nyāyasūtra chỉ bằng lng lập lại những g đ
rất phổ biến từ thời của Pānini. Một điều tệ hơn l trong khi Pānini đ
thnh cng đưa ra một giải đp chnh thức cho vấn đề ny, v v thế thot
khỏi mọi nghi vấn km theo c thể sinh khởi từ đ, th Nyāyasūtra lại thất
bại trong cố gắng ny. Như vậy, theo Patajali, để giải đp thắc mắc Đối
tượng của một từ l hnh dạng hay sự vật?, Pānini đ đề nghị cu trả lời
sau đy:
ng ta ni cả hai. Lm sao biết được điều đ? Bởi v cc kinh điển đều
thừa nhận hai quan điểm trn đ được viết ra. Như Kinh I. 2. 58 ni rằng
số nhiều c thể đồng thời xem như số t khi n biểu thị một chủng loại, c
nghĩa hnh dạng l đối tượng của một từ; trong khi Kinh I. 2. 64 ni rằng
khi cc từ c cng dạng v c cng phần đui th một trong số chng vẫn
giữ nguyn, c nghĩa, v dựa vo khi niệm về ci giữ nguyn nn đối tượng
của một từ l một sự vật.(Patajali, The Vyākaraṇamahābhāṣya of Patajali
I, p 6: kiṃ punar ākṛtiḥ padārtha āhosvid dravyam/ ubhayam ity āha/ kathaṃ
jāyate/ ubhayathā hy ācāryena sūtrāni paṭhitāni/ ākṛtiṃ padārthaṃ matvā
jātyākhyāyām ekasmin bahuvacanam anyatarasyām ity ucyate/ dravyaṃ
padārthaṃ matvā sarūpānām ity ekaśeṣa ārabhyate//.
cf. I, p 246. The Vyākaraṇamahābhāṣya of Patajali, ed. F. Kielhorn,
Poona: The Bhandarkar Oriental Research Institute, 1956 (3rd Ed.): 255.
)
Vậy th, với Pānini, vấn đề xc định đối tượng một từ l g hnh như rất
đơn giản, nếu khng muốn ni l qu đỗi bnh thường. ng đề ra một số quy
tắc chnh thức để ta c thể dễ dng chứng minh đối tượng của một từ c
phải l một sự vật hay một chủng loại sự vật. V lẽ đ bất cứ khi no p
dụng quy tắc I.2.58 của ng th từ ngữ được ni đến c đối tượng của n l
một chủng loại. V bất cứ khi no quy tắc I.2.64 được dng th từ đ lại
biểu trưng cho một sự vật. Ta c thể thấy Pānini đ khn kho n trnh vấn
đề m n c thể nhận chm ng một cch hiển nhin vo mọi loại cu hỏi kh
chịu bằng cch nương vo một giải php hon ton chnh thức, giải php m
ta phải thừa nhận l rất thỏa đng đối với chủ đề của ng.
Tuy nhin, khi vay mượn thuyết của Pānini, hnh như Nyāyasūtra khng biết
rằng n khng c được điểm thượng thặng m Pānini c. V thế, n khng đưa
ra được bất kỳ chỉ dẫn r rng no về vấn đề lm thế no c thể xc định
khi no đối tượng của một từ l một sự vật, một hnh dạng hay một chủng
loại, hay cả ba cng một lc, một vấn đề m như đ ni c thể được giải
quyết khng cht kh khăn bằng sự thử nghiệm chnh thức do Pānini cung
cấp. V đy c lẽ l thất bại đng kể nhất của Nyāyasūtra trong thuyết
minh th vị của n về vấn đề đối tượng của từ ngữ. Trong bất kỳ trường hợp
no, khi đưa vấn đề m tả vo sự thảo luận về vấn đề đ, chắc chắn
Nyāyasūtra đ cho thấy rằng vo thời của n khi niệm m tả đ đặt ra một
thch thức mạnh mẽ cho mọi giải php c thể c về đối tượng của từ ngữ l
g. Thật vậy, như đ chỉ ra trước đy, qua việc định nghĩa m tả l ci ở
vo trạng thi khng phải chnh n, th khi niệm đ c thể thch thức
nghim trọng tất cả cc giải php truyền thống, kể cả giải php của Pānini
cũng như rất nhiều giải php khc. V thế, t ra ở điểm ny, ta phải xem
đ l một trong những đng gp nổi bật nhất của Nyāyasūtra cho sự hiểu
biết của chng ta về lịch sử tổng qut của khi niệm m tả. N nhận ra
nghĩa của khi niệm đ ngay cả khi những người luận giải về n qua bao thế
kỷ đều thất bại khng nắm bắt được một cch đng đắn.
Vo lc Vātsyāyana viết luận thư tiu chuẩn của ng về Nyāyasūtra, mặc d
ng đ dnh một chỗ đng kể để bn về đối tượng của một từ l g với một
m tả ton bộ cc quan điểm truyền thống ng biết đến, nhưng hầu như ng
đ khng ni g về từ m tả. Hơn nữa, ng lại giải nghĩa n l cch sử
dụng hay sự sử dụng, một giải thch cho thấy ng khng đnh gi đầy đủ
nghĩa quan trọng của từ ny, bởi v, như chng ta thấy, chnh do cc m
tả m sự nghi ngờ về mối lin hệ giữa từ ngữ v sự vật, hnh dạng v chủng
loại đ sinh khởi. Chnh do chng m ton bộ thảo luận về chủ đề được ni
đến đ xảy ra. Ngoi ra, ngay cả việc giải nghĩa n l cch sử dụng hay
sự sử dụng hnh như cũng khng được thực hiện trọn vẹn. Vātsyāyana đ
bnh giải như sau về pht biểu của Nyāyasūtra ni rằng c người chủ
trương đối tượng của một từ l một sự vật ring lẻ bởi lẽ c những m tả
m trong đ từ ngữ ci đ, nhm, sự cho, sự sở hữu, số lượng, sự gia
tăng, sự suy giảm, mu sắc, tổ hợp v huyết thống, tất cả đều được dng
cho mỗi sự vật ring lẻ:
Đối tượng của một từ l một sự vật ring lẻ. Tại sao? V c cc m tả như
từ ngữ ci đ được p dụng cho một sự vật ring lẻ. Ở đy, m tả c
nghĩa l cch sử dụng. Một cu ni như con b đ đứng, con b đ đang
nằm, khng phải l một chỉ thị về một chủng loại bởi v khng c phức
tnh trong đ. Nhưng nếu c phức tnh, th n lại l một biểu thị về một
vật. Nếu c phức tnh, th một diễn tả như một nhm cc con b l tn
của một sự vật chứ khng phải của một chủng loại, bởi v khng c phức
tnh đối với chủng loại. Cu ni ng ta trao con b cho người thầy thuốc
c nghĩa rằng thật sự c việc từ bỏ một sự vật chứ khng phải từ bỏ một
chủng loại bởi v chủng loại khng phải l vật chất v khng thể được trao
đổi bằng cch ny hay cch khc. Tnh sở hữu c nghĩa l c một quan hệ sở
hữu như trong cc cu ni con b của Kaundinya, con b của người b la
mn. V thế đương nhin l ta c thể c quan hệ phức tnh với cc sự vật
được gọi tn nếu c nhiều sự vật. Nhưng người ta ni rằng chủng loại khng
c phức tnh, c nghĩa l khng thể phn chia. Số c nghĩa l mười con b,
hai mươi con b, v.v. Như vậy, chnh nhiều sự vật được đếm chứ khng phải
chủng loại, bởi v khng c phức tnh đối với chủng loại. Gia tăng c
nghĩa l sự tch tập cc phần của một sự vật được tạo ra, như trong cu
ni con b lớn ln. Nhưng người ta ni chủng loại khng c thnh phần.
Suy giảm cũng như thế, được giải thch tương tự. Mu sắc th như trong cc
cu ni con b mu trắng, con b mu nu, ..., v thế tnh chất được
gắn vo một sự vật m khng phải vo một đặc tnh chung chung. Tổ hợp th
như trong cch ni tốt cho con b, thoải mi cho con b,..., nơi m
cc từ tốt, v.v., được nối kết với một sự vật chứ khng phải với chủng
loại. Huyết thống c nghĩa l một chuỗi sinh đẻ lin tục của cng một loại
như con b sinh ra một con b, v sự sinh đẻ ny khng dnh cho một chủng
loại. V thế, đối tượng của một từ khng g khc hơn một vật thật, một vật
thật ring lẻ.(Nyāyasūtrabhāṣya II. 2. 61: vyaktiḥ padārthaḥ/ kasmāt
yāśabdaprabhṛtīnāṃ vyaktāv upacārāt/ upacāraḥ prayogaḥ/ yā gaus tiṣṭhati
yā gaur nisanneti nedaṃ vākyaṃ jāter abhidhāyaktam abhedāt/ bhedāt tu
dravyābhidhyāktam/ gavāṃ samūha iti bhedād dravyābhidhānaṃ na jāter
bhedāt/ vaidyāya gāṃ dadātiti dravyasya tyāgo na jāter amūrtatvāt
pratikramānukramānupapatteś ca/ parigrahaḥ svatvenābhi-sambandhaḥ/
kauṇdinyasya gaur brāhmaṇasya gaur iti dravyābhidhāne dravyabhedāt
sambandhabheda ity upapannam/ abhinnā tu jātir iti/ sankhyā iti/ vṛddhiḥ
kāraṇavato dravyasyāvayavo-pacāyovardhata gaur iti/ niravayavā tu jātir
iti/ etenāpacayo vyākhyātaḥ/ varṇaḥ suklā gauḥ kapilā gaur iti dravyasya
guṇayogo na sāmānyasya/ samāso gohitaṃ gosukham iti dravyasya sukhādiyogo
na jāter iti/ anubandhaḥ sarūpaprajana nasantāno gaur gāṃ janayatīti/ tad
utpattidharmakatvād dravye yuktaṃ na jātau viparyayād iti/ dravyaṃ vyaktir
iti hi nārthāntaram//.)
Bnh giải trn của Vātsyāyana r rng cho thấy ng khng phải dựa vo khi
niệm m tả như Nyāyasūtra định nghĩa n, c nghĩa m tả l ci ở trạng
thi khng phải chnh n do sự kết hợp, v.v. Thay v thế, ng chỉ diễn
giải n l cch sử dụng như truyền thống của Patajali đ lm, theo đ
vấn đề đối tượng của một từ l g chỉ c thể được quyết định theo cch
dng của n. V thế, ở đy hnh như Vātsyāyana t ra cũng tin rằng
Nyāyasūtra đ vay mượn khng chỉ cu trả lời của Pānini về vấn đề đối
tượng của một từ m cn vay mượn cả cch thử nghiệm chnh thức của ng để
xem cu trả lời ny c ph hợp hay khng. Đy c phải l l do Nyāyasūtra
chỉ bằng lng lập lại điều Pānini đ ni về đề ti đ? D sao đi nữa,
chng ta biết chắc rằng Nyāyasūtra đ cng nhin định nghĩa chnh xc m
tả l g, v định nghĩa đ vẫn thịnh hnh vo thời của Vātsyāyana, như đ
được chứng thực trong trch dẫn của ng về n.(Nyāyasūtrabhāṣya I. 2. 14.)
Như vậy, vấn đề họ đ rt ra từ đ một kết luận sai hay đng l điều khng
quan trọng, mặc d về mặt luận l ta vẫn nghĩ l họ đ lm như thế. V với
điều ny, họ đ lm chng ta qu thất vọng. Ngoi ra, khi đưa khi niệm m
tả vo thảo luận về đối tượng của từ ngữ, Nyāyasūtra đ chứng thực rằng n
biết r tnh chất bất khả thi của nhiều giải php lin quan đến vấn đề
ny. V thế, sự thất bại đ khng rt ra được một kết luận chnh xc cng
trở nn đng tiếc hơn. Thật vậy, trước thời Thế Thn, khi niệm m tả đ
nhận được rất t sự ch đến độ n bị xem như chẳng c gi trị no trong
việc gip giải quyết nhiều vấn đề khc nhau m khoa ngữ học cao cấp của Ấn
độ đặt ra. V sau thời Thế Thn, cũng chỉ c Bhartṛhari v An Huệ để đến
khi niệm ny trong tư duy triết học của họ, mặc d vẫn khng rt ra được
nhiều điều từ đ do sự khc biệt về quan điểm triết học của họ. Thế nhưng,
nhờ quan tm đến khi niệm ny m họ đ đưa ra nhiều thuyết minh hiếm thấy
v gi trị khng những về chnh triết học Thế Thn m cả những người trước
ng; v nhờ thế, chng ta c thể thấy được tư tưởng của ng đ pht triển
như thế no về mặt lịch sử. Đồng thời, chng ta cũng phải thừa nhận đ l
đng gp qu bu nhất của họ trong việc lm sng tỏ triết học phong ph
của Thế Thn, c lẽ l trong nỗ lực hon trả mn nợ m họ đ vay của Thế
Thn.
V thế, sau khi lập lại định nghĩa tiu chuẩn về m tả l g qua pht biểu
m tả l ci được p dụng cho những g khng phải l n v ở những nơi
khng c n, An Huệ đ thuyết minh vấn đề m tả, qua định nghĩa đối tượng
của từ ngữ l g, như sau:
Nhưng c người khc ni rằng nếu khng c ng v php dng lm nghĩa đầu
tin của một từ, th khng hợp l để ni đến m tả. V một m tả chỉ c
gi trị khi c đủ ba điều kiện: nếu thiếu một trong số đ sẽ khng c m
tả. Ba điều kiện l: (1) một đối tượng dng lm nghĩa đầu tin của một
từ, (2) một đối tượng khc tương tự như đối tượng đ v (3) sự tương tự
giữa chng. Chẳng hạn, lửa l đối tượng đầu tin dng lm nghĩa ban đầu
của từ đ. Rồi, đứa con trai l một đối tượng khc tương tự với lửa. V
cuối cng c một đặc tnh chung giữa chng, đ l trạng thi chng đều đỏ
hay ấm. V thế, ta c thể tạo ra một m tả đứa con trai lửa.
Về điểm ny chng ti hỏi: lời m tả đứa con trai lửa m tả một chủng
loại hay một sự vật? Trong cả hai trường hợp đều khng c sự m tả. V ở
đy đặc tnh chung chng đều đỏ hoặc ấm khng thuộc một chủng loại; v khi
khng tồn tại một đặc tnh chung, th khng đng để ni về sự m tả một
chủng loại qua đứa con trai đ, do sự vượt qu nghĩa của n. Nếu [người
ta lập luận rằng] cho d một chủng loại khng hiện hữu trong một đặc tnh
chung, th trạng thi c mu đỏ v ấm vẫn được nối kết bất khả phn nhờ
vo một chủng loại; v thế, vẫn c thể ni về m tả một chủng loại qua đứa
con trai đ; lc đ ta c thể đp rằng một khi [đ thừa nhận] một chủng
loại khng hiện hữu trong một đặc tnh chung, th khng đng để chủ trương
rằng trạng thi c mu đỏ v ấm được nối kết bất khả phn như những g
được nhn thấy ở đứa con trai. Hơn nữa, trong trường hợp chng được nối
kết bất khả phn, sẽ khng c m tả v một chủng loại thật sự hiện hữu ở
đứa con trai v lửa. V thế, một m tả chủng loại đối với đứa con trai th
khng thể được.
Một m tả về php cũng khng thể được bởi lẽ khng c đặc điểm chung. Bởi
v tnh chất c mu đỏ hay hơi ấm của lửa khng giống như ci được tm
thấy ở đứa con trai. Thật vậy, chng hon ton khc nhau, v sự đặc trưng
ha ny gắn liền với cc thực thể ring của chng. V nếu khng c tnh
chất của lửa th khng hợp l để p dụng một m tả về lửa cho đứa con
trai. Nếu lập luận rằng vẫn hợp l bởi v sự tương tự giữa tnh chất của
lửa v tnh chất của đứa con trai, th vẫn hon ton hợp l để p dụng
tnh chất đỏ v ấm của lửa cho tnh chất đỏ v ấm của đứa con trai, thế
nhưng khng hợp l để p dụng một m tả về lửa cho đứa con trai v sự
tương tự về tnh chất khng đi hỏi một quan hệ cần thiết giữa chng. V
thế, một m tả về vật cũng khng hợp l.
Ngoi ra, khng c tồn tại đối tượng của một từ c thể dng lm nghĩa
đầu tin của từ đ, bởi v hnh thể ring của n nằm ngoi lnh vực của
mọi hiểu biết v diễn đạt. Thật vậy, sự hiểu biết v diễn đạt chỉ c tc
dụng đối với nghĩa đầu tin của một từ nhờ vo hnh thể tnh chất của
n, v chng khng c bất cứ tiếp xc no với chnh hnh thể của đối tượng
được ni đến. Ni cch khc, điều tất yếu l tnh chất chẳng c cng dụng
g cả. Thật vậy, khng c phương tiện no khc hơn sự hiểu biết v diễn
đạt để định nghĩa hnh thể ring của đối tượng của một từ. V v hnh thể
ring của đối tượng dng lm nghĩa đầu tin của một từ th nằm ngoi sự
hiểu biết v diễn đạt, cho nn tất yếu l khng c đối tượng của một từ
dng lm nghĩa đầu tin của từ đ. Như vậy, đối với từ ngữ, khng c tồn
tại sự hiểu biết cũng như sự diễn đạt bởi lẽ khng c tồn tại một quan hệ
cần thiết. V vậy, do khng tồn tại tn gọi v ci được gọi tn, cho nn
cũng khng c đối tượng của một từ dng lm nghĩa đầu tin của từ đ. V
lẽ đ, mọi sự vật đều được gọi tn theo tnh chất của chng; khng đối
tượng no dng lm nghĩa đầu tin của một từ. Bởi v tn gọi chỉ tnh
chất c tc dụng ở nơi m hnh thể ring của một đối tượng khng được tm
thấy, v mọi từ ngữ đều c tc dụng trn đối tượng m n chỉ c thể dng
lm nghĩa đầu tin của một từ nhờ vo hnh thể tnh chất khng được tm
thấy ở đ. Kết quả, khng c bất kỳ đối tượng no c thể dng lm nghĩa
đầu tin cho một từ.
Về điểm ny, thật khng đng để ni rằng nếu khng c ng v php dng lm
nghĩa đầu tin của một từ th khng hợp l để ni về m tả.(Sthimarati,
Triṃśikāvijaptibhāṣya, ed. Lvi, ad Ic: 16-18. Cần lưu rằng nỗ lực của
An Huệ nhằm giản lược tất cả cc danh từ vo nhm chỉ tnh chất l để đp
lại yu cầu chung của quan niệm triết học của ng về tnh chất v thường
của mọi vật. V trong việc lm ny chắc hẳn ng đ rt tỉa sức mạnh từ
Patajali, The Vyākaraṇa-Mahābhāṣya of Patajali I, p 246.)
Những g An Huệ ni ở trn nay giải thch cho chng ta tại sao Nyāyasūtra
lại ni về điều vẫn cn nghi ngờ về quan hệ giữa từ ngữ v sự vật, hnh
thể v chủng loại do cc m tả. Người ta nghĩ rằng mỗi từ phải biểu trưng
một sự vật hoặc hnh thể hoặc một chủng loại cc sự vật. Tuy nhin, khi ta
dng cc từ như đứa con trai-lửa th từ lửa c lin quan g với từ
đứa con trai? Cả hai đều khng c quan hệ no với nhau, bất kể ta nghĩ
đối tượng của một từ phải l g. Nếu nghĩ rằng đối tượng của n l một sự
vật ring rẽ th lửa l một vật v đứa con trai l một vật khc. Cả hai
kh c thể c ci g chung. Thật vậy, nếu thằng b khng cẩn thận, n c
thể bị lửa đốt chết. Tương tự, thằng b cũng c thể dập tắt lửa. Một mặt,
nếu ta nghĩ rằng chnh hnh thể, tức cấu trc của một vật lm đối tượng
của từ th lại khng c g chung giữa hnh thể của lửa v hnh thể của
thằng b. Như vậy, thật phi l để ni về một thằng b-lửa về mặt ny.
Mặt khc, nếu viện lẽ đối tượng của một từ l chủng loại của n th chủng
loại của lửa c lin quan g đến chủng loại thằng b. Chắc chắn chng
khng thuộc cng loại. Từ phn tch như thế, ta chỉ c thể rt ra một kết
luận duy nhất, đ l, những từ như lửa, thằng b, v.v., phải l những
m tả, bởi v l m tả th chng mới c thể được dng cho những g khng
phải chng v cho những nơi khng thuộc về chng, v v thế khng cần phải
đp ứng bất kỳ điều kiện no m phn tch dẫn trn nu ra. Ni cch khc,
đối tượng của từ khng phải l một sự vật, một hnh thể, cũng khng phải
chủng loại; n khng c đối tượng no cả. N chỉ l một m tả c thể m tả
một tnh chất no đ, một kha cạnh no đ của đối tượng ty theo cch n
được sử dụng, v như thế c thể gip nhận ra đối tượng đ. Vậy, r rng
mọi từ ngữ đều l những m tả do cch chng được sử dụng. C lẽ, do l
luận ny m Vātsyāyana v người trước ng l Patajali đ diễn giải sự m
tả l sự sử dụng hay cch sử dụng.
Đối với An Huệ, trong trường hợp no đi nữa th từ ngữ khng biểu trưng
một đối tượng, m được dng để m chỉ n qua một số cc tnh chất của n.
M tả v thế c nghĩa l m tả tnh chất một đối tượng v khng cn g
khc. V vậy, bn luận trn của An Huệ cho ta một khi niệm chnh xc tại
sao Nyāyasūtra lại đưa định nghĩa của n về m tả vo phần trnh by đối
tượng của một từ l g, đồng thời cho thấy từ m tả chnh xc c nghĩa
g đối với những ai tiếp tục ủng hộ truyền thống tư tưởng của Thế Thn. V
lẽ đ, trong một phạm vi đng kể n rất hữu ch, nhất l trong việc xc
định rằng định nghĩa của Nyāyasūtra về từ đ được chấp nhận một cch thoải
mi v được sử dụng ngay trong phạm vi triết học của chnh Thế Thn. Tuy
nhin, cần lưu rằng khi thuyết minh như thế về vấn đề trn, An Huệ đ
khng vo được phần trọng tm của n. Cần chấp nhận một sự thật l khi
những diễn tả như đứa con trai-lửa được dng đến, giống như trong ngn
ngữ hng ngy m ai cũng c thể hiểu được, th ta khng thể khng kết luận
rằng một tn gọi chỉ l một m tả v chỉ c thế. Nhưng kết luận đ cũng
chỉ l sự khi qut ha c gi trị đng ngờ, bởi v c thể vẫn cn một từ
no đ khng chịu sự phn tch đ được p dụng cho những loại diễn tả như
đứa con trai-lửa, v.v V ở đy, tm hiểu của Bhartṛhari về vấn đề m tả
đ đưa ra những kết quả th vị nhất. (tiếp
theo)
dịch Việt: Đạo Sinh
|