|
NH THƠ CỦA AM MY TRẮNG Ở THẾ KỶ XVI C BI BC PHẬT GIO HAY KHNG?
Thch Phước An
Tiểu sử cho biết rằng, vo năm 1542 sau khi dng sớ
ln vương triều Mạc đi chm 18 kẻ lộng thần, nhưng khng được vua Mạc bấy
giờ l Mạc Phc Hải chấp thuận. Nguyễn Bỉnh Khim liền co quan về lại qu
qun ở lng Trung Am. Nay l huyện Vĩnh Bảo thnh phố Hải Phng.
D thất bại ở triều đnh khng thực hiện được hoi bo như dự tnh lc
ban đầu:
Dn giai thức mục quan tn chnh
Thy vị qun vương tr thi bnh
Dn chng đều dụi mắt ngước xem nền chnh sự mới
Ai đy sẽ l kẻ v nh vua đem lại cảnh thi bnh
Nhưng dường như Nguyễn Bỉnh Khim khng thất vọng, v ng thừa biết
rằng, tại những nơi o mũ cn đai đ, người ta chỉ biết mải m với lợi
danh với quyền hnh, hưởng thụ trn sự đau khổ của người khc, chứ c ai
biết lo g cho dn cho nước đu? Như một lần ng đ đau đớn tm sự:
Lo lai vị ngải tin ưu ch
Đắc, tng, cng, thng, khởi ng ưu
Tấm lng tin ưu đến gi chưa thi
Cng, thng, đắc, tng ta c lo chi cho ring mnh đu.
(Tự thuật)
V Nguyễn Bỉnh Khim đ v những kẻ đang nắm giữ triều chnh đ giống
như một lũ chuột. Chng chui rc, cắn ph, gặm nhắm m khng một cht xt
thương đối với sinh mệnh của người dn:
Thạc thử hồ bất nhn
Thảo thiết tứ m độc.
Nguyn d hữu cảo miu
Lẫm dữu v dư tc.
Lao ph nng phu thn
Cơ ch điền d khấp
()
Dn mệnh vi ch trọng
Tn hại h thi khc
Con chuột lớn kia sao my bất nhn
Vụng trộm thm nhiều m mưu độc hại
Đồng nội c mạ kh
Kho đụn khng thc thừa.
Vất vả ngho khổ, người nng phu than vn
Đi v gầy, trn ruộng đồng ku khc
()
Sinh mệnh của dn rất l trọng
Tn hại sao m qu thảm khốc
Nhưng v sao loi chuột dơ dy ấy vẫn sống m khng bị tiu diệt? Nguyễn
Bỉnh Khim cho rằng v chng c chỗ ẩn nấp an ton:
Thnh x ỷ vi gian
Thần nhn on mn phc
Chốn thnh, x dựa vo m lm điều gian
Cả thần v người đều on chứa đầy bụng.
Một nh nghin cứu văn học hiện đại đ giải thch hai cu thơ ấy như
sau:
Loi chuột v loi co lm tổ ở tường thnh v dưới đn x, đn tắc,
thường khng bị người ta bắt v khng ai dm đo ph tường thnh l nơi
cần phải củng cố hoặc đn x, đn tắc l nơi thờ cng uy nghim. Bọn quan
lại bc lột tn tệ m nhn dn khng chống lại được v chng dựa vo uy
thế v sự bao che của nh nước cũng như loi chuột, loi co dựa vo tnh
bất khả xm phạm của tường thnh hoặc đn x, đn tắc.
Trong một lc đau đớn cng cực, Nguyễn Bỉnh Khim đ phải ni ln lng
căm tức muốn được bo th:
K thất thin hạ tm
Tất thụ thin hạ lục
Triều thị tứ nhĩ thi
din khiết nhĩ nhục
Mi đ lm mất lng thin hạ
Tất sẽ bị thin hạ giết chết
Phơi xc mi ở chốn triều thị
Quạ v diều rỉa thịt mi
(Tăng thử)
Ta c quyền tin chắc như vậy, chỉ trong một lc no đ thi, v một kẻ
sĩ chn chnh như Nguyễn Bỉnh Khim th ng đủ sng suốt để tin rằng, ci
cn mi trn đời ny l lng nhn chứ khng phải sự hận th:
Cổ lai nhn giả tư v địch
H tất khu khu sự chiến tranh
Từ xưa đến nay người c nhn l khng ai địch nổi
Việc g phải khư khư theo đuổi sự giết chc lẫn nhau (chiến tranh)
V trong một bi thơ khc Nguyễn Bỉnh Khim cũng khẳng định lại lập
trường ấy:
Dĩ nhn phạt bất nhn
Cứu thử điu si tm
Lấy nhn m đnh kẻ bất nhn
Cứu cho dn đang bị điu tn ốm yếu
(Thương loạn)
Nhưng ci lng nhn ấy, Nguyễn Bỉnh Khim biết trao truyền cho ai? Chắc
chắn khng phải l những người đang ở trn giai cấp thống trị, đang say
sưa với quyền lực ở triều đnh. Vậy th ng chỉ cn hy vọng nơi những
người trẻ tuổi, chỉ những người chưa bị lợi danh lm mờ mắt như vậy mới c
hoi bo lớn, ch kh lớn cho dn cho nước m thi.
Bởi vậy nn khi vừa về đến qu nh, Nguyễn Bỉnh Khim đ lập tức cng
với cc b lo trong lng Trung Am lập một ci qun để trao truyền lng
nhn ấy. Nguyễn Bỉnh Khim đặt qun ấy l Trung Tn Qun. Trong số những
người trẻ tuổi đến học với Nguyễn Bỉnh Khim ở Trung Tn Qun ny c
Nguyễn Dữ, tc giả Truyền Kỳ Mạn Lục v Phng Khắc Khoan, người m Phạm
Đnh Hổ trong Vũ Trung Ty Bt đ ni l: L học như Nguyễn Bỉnh Khim v
Phng Khắc Khoan đều l tinh anh của non sng đc lại.
V sao ng đặt ci tn như vậy. Hy nghe Nguyễn Bỉnh Khim giải thch:
Trung l ở chnh giữa, giữ được tnh thiện l Trung, khng giữ được tnh
thiện th khng phải l Trung vậy; Tn c nghĩa l bến, biết chỗ đậu l
bến, khng biết chỗ đng đậu l lầm bến vậy. Nghĩa của tn qun l như
vậy.
Đoạn dưới Nguyễn Bỉnh Khim viết:
Thấy của m khng tham, thấy lợi m khng tranh, vui điều nghĩa m rộng
lượng với người, đem lng thnh m đối đi với vật, đ l Trung. Trung ở
chỗ no th sự ch thiện ở chỗ ấy.
Nguyễn Bỉnh Khim cho rằng, ci tnh Thiện ấy vốn c sẵn trong mỗi người,
nhưng rồi con người lại tự đnh mất n, ng vạch r l do v sao:
Do tự rng buộc ở bẩm kh, bị che lấp v vật dục, c kẻ khng giữ được
trọn vẹn như thuở đầu mới sinh ra, trở nn kiu sa, biển lận, gian t,
thin lệch, khng c điều g khng lm. Ở triều đnh th tranh nhau ci
danh, ở chợ ba th ginh nhau ci lợi. Khoe l sang th xe mt qun ấm,
khoe l giu th nh ma lầu ht. Thấy người chết đi dọc đường khng dm
bỏ một đồng tiền ra cứu gip. Thấy nơi trống trải khng c g che mưa,
khng dm bỏ một b tranh để che đậy. Điều thiện khng được tu dưỡng đ
lu vậy.
Nguyễn Bỉnh Khim chỉ mới thất vọng chứ chưa tuyệt vọng, v ci Thiện, ci
lng nhn ấy, vẫn cn ở đy, vẫn bng bạc nơi tấm lng của những người
nng dn hiền lnh chơn chất ny, những người chưa hề biết lợi danh l g.
Trong bi k ta thấy Nguyễn Bỉnh Khim vui biết bao khi được cng với
người dn lng khởi sự lm những điều thiện tưởng chừng khng mấy quan
trọng ny. Nhưng nếu khng c những điều Thiện tưởng chừng khng quan
trọng ny, th những hoi bo c tnh cch to lớn đều chỉ l ảo tưởng:
May m trong lng người hướng về điều Thiện chưa hề mất hết. Cc cụ gi
cng ta khuyn nhau lm điều thiện: bắt cầu, lm cha, lm qun, chốn chốn
đều được tu sửa. Ta cũng lấy lm vui mừng về điều ấy, trong lng thường
khen ngợi.
Bn cạnh Trung Tn Qun, Nguyễn Bỉnh Khim cho xy một ci am m ng đặt
tn l Bạch Vn Am.
D bề ngoi Nguyễn Bỉnh Khim vẫn thường tự nhận rằng, mnh l kẻ sĩ an
nhn nhất, một ng tin an nhn:
Cao khiết thy vi thin hạ sĩ?
An nhn ng thị địa trung tin
Cao khiết ai l kẻ sĩ trong thin hạ
An nhn ta l tin trong đời
Nhưng khi đọc bi Trung Tn ngụ hứng bằng chữ Hn, d ng cố giấu nhưng
ta vẫn nhận ra nỗi ưu tư dằn vặt của Nguyễn Bỉnh Khim đối với cuộc đời:
Pha Ty Nam qun ấy c lng xm
Pha Ty Bắc qun ấy c sng ngi
Ở giữa c nửa mẫu vườn.
Vườn ở bn Am Bạch Vn.
Bụi xe ngựa khng bm vo được ci am ấy.
Hoa v trc trong vườn chnh ta trồng lấy.
Khi chống gậy, l dp ra vườn hoa
Chơi th hương thơm của hoa bm vo gậy, dp
Khi nng chn rượu để thưởng thức
Th sắc hoa nh vo chn rượu
Khi đun nước pha tr th loi chim lnh khoi
Khi rửa nghin mực, nước mực chảy xuống th loi c nuốt lấy
Khi thch th ngm thơ vịnh trăng để tiu khiển.
Lại nhờ c chn rượu nhấp cho hăng hi để đỡ sức gi yếu.
Người ta kho lo m mnh th vụng về,
Biết đu vụng về ấy chẳng l một đức tốt.
Ta khờ dại m người th xảo quyệt,
Biết đu lng xảo quyệt ấy chẳng l ci hại lớn.
Khi tỉnh, suy lẽ tạo ha
Lc nhn, ngẫm việc xưa nay.
Khng g hiểm bằng đường đời,
Nếu khng biết cch bỏ đi th ton l chng gai cả.
Khng g nguy bằng lng người
Nếu khng biết giữ gn m bung lỏng ra th ha thnh quỷ qui cả.
V vậy người qun tử phải tm nơi đứng cho vững
Lấy điều ch thiện lm tiu chuẩn tuyệt đối
Sau ny mỗi khi bị triệu ln triều đnh để bn việc quốc gia đại sự,
Nguyễn Bỉnh Khim vẫn cứ muốn quay về lại ci nơi chốn đầy my trắng ấy.
V chỉ tại nơi chốn u tịch vắng vẻ, nơi chốn m ng cho l bụi xe ngựa
khng bm vo được ấy th Nguyễn Bỉnh Khim mới tm lại được con người tự
do đch thực của chnh mnh:
Hội khang chỉnh đốn cn khn phủ
Tn qun vn am mịch cựu du
Chờ xem trời đất c được chỉnh đốn hay khng
Về tm lại chốn cũ ở qun Trung Tn v am my trắng.
By giờ chng ta thử xem một tm hồn như vậy, c thể no bi bc Phật
Gio được khng? V nếu c, chắc phải c một l do no đ để một tm hồn
như Nguyễn Bỉnh Khim bị bắt buộc phải ln tiếng những điều m lng ng
chẳng muốn cht no?
Mỗi lần ni đến việc Nguyễn Bỉnh Khim khng thch Phật Gio th giới
nghin cứu văn học đều nghĩ ngay đến bi thơ Nm của ng c nhan đề l
Giới sng Phật v ch, trong đ r rng nhất l hai cu:
Hiền lnh hy giữ bề tu kỷ
Dối tr đừng nghe đứa xuất gia.
Trước khi c thể đưa ra được một kết luận về bi thơ ny th ta thử xem
xt lại bối cảnh x hội m Nguyễn Bỉnh Khim đ được sanh ra v lớn ln.
Nguyễn Bỉnh Khim sinh năm Tn Hợi (1491) tức vo năm Hồng Đức thứ 22.
Như vậy l những năm thng tuổi ấu thời của ng được xem l giai đoạn
thịnh trị nhất của nh L. Nhưng giai đoạn ấy qu ngắn ngủi, năm Nguyễn
Bỉnh Khim ln 13 tuổi th L Hiến Tng (1497 - 1503) qua đời, thời kỳ
thịnh trị nhất của nh L được xem như chấm dứt. Tiếp sau đ l L Tc
Tng rồi đến L Duệ (Uy Mục Đế) được dn gọi l Vua quỷ. Năm 1509 th Uy
Mục Đế bị giết. L Oanh ln ngi (Tương Dực Đế) nhưng chẳng kh g hơn Uy
Mục Đế, cũng hoang dm v độ, cũng huynh đệ tương tn nn cũng được người
dn gọi l Vua lợn.
Sử gia Trần Quốc Vượng đ ph phn gay gắt nh L như sau:
Nh L ban đầu c lm được một số việc tốt: ti giảm binh bị, qun cấp
cng điền, xy dựng bộ luật c ch đến phong ha dn tộc. Song cũng ngay
từ buổi đầu, triều L đ tự lm hoen ố bởi việc vấy mu cc cng thần khai
quốc, bởi cc cuộc thanh trừng nội bộ (Nghi Dn giết Nhn Tng rồi triều
thần giết Nghi Dn v Thnh Tng bức tử Khắc Xương), bởi xu hướng chuyn
quyền của quan v của vua, nh L thiếu tinh thần cảnh gic với Tống Nho
v văn minh Trung Hoa, đặt Tống Nho ln vị tr độc tn, xy dựng nh nước,
triều đnh theo m hnh qun chủ Tống Nho, vọng ngoại v c xu hướng Hoa
ha cung đnh, quay lưng lại với bản sắc dn gian. Tnh trạng như phn
ha giữa cung đnh v nhn gian ny cng r rệt (triều L bi xch Phật
Gio v Đạo Gio, xua đuổi cho, ght bỏ dn ca, m phỏng lễ nhạc, kiến
trc v điu khắc Trung Hoa) v chnh quyền L Sơ đ sớm phi nhn dn
(Impopulaire). Cn đối với người được xem l đưa nh L đến cực điểm của
thịnh trị, th gio sư Trần Quốc Vượng viết:
Thời trước cho đến rất gần đy, người ta thường đề cao thời L Thnh Tng
(Hồng Đức) như một thời thịnh trị nhất của một thời đại Vua Thnh ti
hiền, thời đại của Tao Đn, của Quỳnh Uyển Cửu Ca, của Thin Nam Dư Hạ
Tập. Ci nhn ấy bắt nguồn từ tầng lớp sĩ phu theo v đề cao nho học.
Nhưng cũng ng vua L Thnh Tng ấy đ giết hại anh ruột người từ chối
ngi vua cho ng ta được hưởng, đ giam cầm hong hậu Trường Lạc. Ngay sử
gia chnh thống triều L phải ch Thnh Tng l cng việc thổ mộc qu chế
độ xưa, tnh nghĩa anh em thiếu lng nhn i. Nhiều phi tần qu nn mắc
phải bệnh nặng. Thọ c 56 tuổi. Trạng Lường Lương Thế Vinh ti hoa danh
vọng vượt bực (L Qu Đn) nn khng thch nghi nổi với triều Hồng Đức,
ng thch khi hi, quay về với ton học, Phật học v h trường. Hy xem
xt một tc phẩm đch thực của Thnh Tng l hong thi tử Tranh tức L
Hiến Tng: chiếu chỉ no của ng vua ny cũng dẫn la liệt những Kinh Thư,
Kinh Thi, Kinh Lễ của thời cổ đại Trung Hoa v coi đ l khun vng thước
ngọc của thế ứng xử Đại Việt ở đầu thế kỷ 16. Tư cch ng khng xấu m tư
tưởng ng th đ lỗi thời V con chu ng th đ l Vua lợn, Vua quỷ.
Lịch sử truyền b của Đạo Phật trn thế giới cũng như tại Việt Nam xưa nay
vẫn được cc sử gia ca tụng như l tn gio duy nhất chưa hề lm đổ bất cứ
một giọt mu no, v đặc biệt l khi đến với dn tộc no th Đạo Phật cũng
chia xẻ bao nỗi thăng trầm cng với dn tộc đ, nhất l những lc dn tộc
đ bị giới thống trị đn p.
Trường hợp Phật Gio ở đời L c lẽ cũng như vậy. Khi m cả dn tộc
đang chm ngập trong bng tối, ci c đang honh hnh khắp nơi, th những
bậc chn tu phải tạm lnh xa trong những am cốc hẻo lnh ở ni rừng hoặc
nơi thn d m thầm giữ gn giới hạnh của chnh mnh.
Bởi vậy, nếu bi Giới sng Phật v ch, đng l của Nguyễn Bỉnh Khim
th nhất định sự chỉ trch của Nguyễn Bỉnh Khim chỉ nhắm vo những kẻ đi
tu v thời thế, v lợi danh đang a dua xu nịnh với giới thống trị chứ nhất
định khng phải Nguyễn Bỉnh Khim chỉ trch đạo Phật.
Sở dĩ ta đặt nghi vấn như vậy v bi thơ theo gio sư Nguyễn Huệ Chi
chưa hẳn l của Nguyễn Bỉnh Khim: Bi thơ khng thuộc một 100 bi thơ
Nm v đề m cc bản sao thơ Nm Nguyễn Bỉnh Khim đều sao chp thống
nhất. C thể về mặt văn bản học c vấn đề phải bn lại.
Cũng trong bi viết ấy, bi Phc họa diện mạo tư tưởng Nguyễn Bỉnh
Khim th hai tc giả Nguyễn Huệ Chi v Tạ Ngọc Liễn cho rằng:Nguyễn Bỉnh
Khim sống vo một thời đại m vai tr của Phật Gio trong đời sống tư
tưởng đ t nhiều lu mờ. Sự dung ha giữa cc hệ tư tưởng Phật, Đạo v Nho
trong vng 5 thế kỷ đầu tin người Việt ginh lại v củng cố nền tự chủ,
đ tạo nn bộ mặt phng khong, khởi sắc v ci hương vị đa nguyn dễ
thở trn nhiều phương diện sinh hoạt tinh thần; song rốt cuộc sự cn bằng
đ đ bị ph vỡ ở thế kỷ 15, khi Nho gio ginh lấy cy gậy độc tn, nhảy
ln chỉ huy sn khấu chnh trị. V hai tc giả cũng đồng l chưa hẳn
Nguyễn Bỉnh Khim đ bi bc đạo Phật nhưng hy bnh tm m xem xt hnh
như bi thơ trn chưa đến nỗi đi tới một thi độ cực đoan. Cu thơ mở đầu
cho thấy Nguyễn Bỉnh Khim nắm rất vững gio l cơ bản của nh Phật suy
l cho cng Phật ấy ta. Phật ấy ta l một cch diễn đạt khc đi mệnh đề
tm tức Phật, Phật tức tm. Nguyễn Bỉnh Khim rất tm đắc với mệnh đề
ny v dng n để chống lại thi tệ mượn nh cha để lẩn trnh việc đời,
chắc cũng kh trn lan thưở ấy; vậy bi thơ chưa hẳn đ phản ảnh tinh thần
bi Phật của ng.
Nhn đy, chng ta cũng xem thử Phật Gio c chủ trương che đậy những
thi hư tật xấu của những c nhn đ lợi dụng Gio hội thanh tịnh với mục
đch m hoặc quần chng hay khng? Chắc chắn l khng, bởi v đạo Phật
lấy con người lm trung tm điểm, đ l con người th phải c tốt c xấu
l một chuyện tất nhin. Điều quan trọng l, Phật Gio lun lun khuyến
khch sự nỗ lực tu tập của mỗi người để loại bỏ ci xấu v từ đ mỗi người
phải tự hon thiện nhn cch của chnh mnh vậy.
Cu chuyện sau đy trong kinh Na Tin vấn đp (Milindapnha) sẽ cho
chng ta thấy đạo Phật hon ton minh bạch trong việc đnh gi về tập thể
tăng đon của chnh mnh:
Sau buổi cng dường trọng thể, đức vua thỉnh tất cả tỳ kheo tăng về cha
an nghỉ, chỉ xin lưu lại 10 vị. Cng với đại đức Na Tin dự buổi Php đm.
Đức vua thỉnh đại đức Na Tin cng 10 vị tỳ kheo ngồi cao pha trn, Ngi
ngồi bn dưới cng với quần thần, rồi bạch:
Thưa, Trẫm đ sẵn sng rồi.
Tu, bần Tăng đ sẵn sng rồi, Đại Vương hy ty nghi.
Thế th Trẫm xin hỏi:
Sống đời xuất gia c g l lợi ch? C g l cao thượng?
Tu Đại Vương! Người sống đời xuất gia thnh tựu được 4 lợi ch lớn:
Thứ nhất l khng cn sầu khổ, khi ngũ uẩn sanh, hay gọi l khổ sanh.
Thứ hai, khng cn sầu khổ khi ngũ uẩn ho mn tiều tụy, hay gọi l khổ
gi.
Thứ ba, khng cn sầu khổ khi ngũ uẩn đau đớn, nhức nhối, kh chịu, hay
gọi l khổ bệnh.
Thứ tư, khng cn sầu khổ, khi ngũ uẩn tn hoại, diệt mất, hay cn gọi l
khổ chết.
Sự thay đổi, biến hoại, tiu diệt của ngũ uẩn từ sanh, lo, bệnh đến tử
người xuất gia hằng suy niệm, hằng qun tưởng nn sẽ thot khỏi sầu bi,
khổ, ưu, no chi phối l những lợi ch th thắng đấy, tu Đại Vương.
Đng thế! Quả thật l lợi ch to lớn giữa ci nhn sinh ny. Cn c ci g
gọi l cao thượng, thật sự cao thượng của người xuất gia nữa, thưa Đại
Đức?
Thưa, khi người xuất gia khng bị sanh, lo, bệnh, tử của ngũ uẩn ma vương
ấy chi phối nữa, vị ấy thn chứng một trạng thi qun bnh tuyệt hảo, hạnh
phc tuyệt hảo, vượt cao, vượt trn tất cả hạnh phc của trần thế, siu
việt niệm, ngn ngữ; ci ấy giả danh l Niết Bn; nơi khng cn sanh tử,
khổ đau v phiền no nữa! Đấy l sự cao thượng trn tất cả mọi sự cao
thượng, tu Đại Vương!
Đức vua rất hoan hỉ hỏi tiếp:
Tất cả Sa Mn đều c nguyện vọng như thế sao?
Tu Đại Vương! Cứu cnh Sa Mn hạnh th như thế, nhưng trong Tăng Lữ hiện
nay c 7 hạng người xuất gia v l do khc nhau:
1 C người xuất gia v muốn trốn luật Vua, php nước.
2 C người xuất gia l để được thn cận với giới quyền qu cao sang.
3 C người xuất gia l mong được quyền hnh trong một ngi cha hay lnh
đạo Tăng lữ, đồ chng.
4 C người xuất gia v thất nghiệp, muốn kiếm miếng cơm manh o.
5 C người xuất gia v c thế, c thn, trốn kẻ th nghịch.
6 C người xuất gia v mang cng mắc nợ.
7 C người xuất gia v sự sanh tử lun hồi, muốn chấm dứt khổ đau phiền
no.
Thấy Đại Đức Na Tin trả lời đu đ r rng, minh bạch, lại tự nhin như
ht thở kh trời; Đức Vua phục lắm, thử ướm hỏi:
Vậy chắc Đại Đức v mục đch cao thượng của hạng người thứ 7 m xuất gia
lm Sa Mn?
Đại Đức Na Tin mỉm cười gật đầu:
Thưa, khng phải thế! Bần Tăng rời khỏi gia đnh lc 7 tuổi, cn rất nhỏ
th no biết được g! Sau dần lớn ln, nhờ Thầy Tổ, nhờ cc vị trưởng lo
dy cng gio ha, tr c mới khai mở được cht t. Hiện giờ c thể ni
rằng, Bần Tăng xuất gia l cốt để diệt khổ, đấy khng cn l lời ni dối
nữa!
Đức Vua Mi-lan-đ nghe cch trả lời, cch ni đầy khim tốn của Đại Đức Na
Tin, ngi knh trọng qu, quỳ xuống vập đầu ni lớn:
i! Lnh thay! Cao qu thay! (*)
Triều đại Mi-lan-đ chỉ cch xa thời Đức Phật chỉ khoảng 500 năm, chắc
chắn cn rất nhiều cc bậc Thnh Tăng chứng đạo, người cai trị đất nước
lại anh minh, thng thi nhất l biết tn trọng những gi trị tm linh
siu việt. Vậy m vẫn cn c người vo cha lợi dụng hnh thức tu sĩ để
được thn cận với giới quyền thế huống chi một triều đại được cai trị
bởi những ng Vua lợn, Vua quỷ, một triều đại m Nguyễn Bỉnh Khim đ
than l:
Phong vũ thời hối minh
Cương thường nhật điu thỉ
Lễ nghĩa thn quải trương
Quan ci ty đảo tr
Sự qun, thần bất thần
Sự phụ, tử bất tử
Gi mưa gặp lc u m tối tăm
Cương thường ngy một suy sụp lỏng lẻo
Lễ nghĩa, than i ngang tri
Mũ lộng theo đ đảo ngược
Thờ vua, ti chẳng ra ti
Thờ cha, con chẳng ra con
(Cảm hứng)
Một chế độ như vậy th hậu quả l thượng bất chnh th hạ tắc loạn
l một chuyện tất nhin.
Cha chiền cũng như giới tăng sĩ cũng khng ra khỏi thng lệ đ. Nghĩa l
cũng bị những kẻ bất lương vo cha để phỉnh gạt những Phật tử mộ đạo hiền
lnh. Nếu quả thật đy l hai cu thơ nữa của Nguyễn Bỉnh Khim:
Cơm o bỗng xui người ha quỷ
Oản xi dễ khiến Bụt nn ma
Th cũng l điều chẳng c g đng ngạc nhin.
Nhưng những điều Nguyễn Bỉnh Khim chỉ trch về nh cha v Tăng lữ trn
d sao cũng chỉ l những hiện tượng bn ngoi, những thi hư tật xấu mun
thửa của con người d l con người đang ở trong chốn Thiền mn.
Cn tận trong su thẳm của tm hồn th Nguyễn Bỉnh Khim nghĩ sao về ngi
cha?
Nguyễn Bỉnh Khim c hai cu thơ Nm than thở về nỗi c độc của đời mnh:
C ai biết được lng tri kỷ
Vời vợi non cao nguyệt một vần
V Nguyễn Bỉnh Khim đ tự trả lời bằng hai cu thơ chữ Hn:
Ưu thời thốn niệm bằng thy tả
Duy hữu hn sơn bn dạ chung
Nỗi lng lo cho đời biết ni cng ai
Chỉ c tiếng chung cha trn ni lạnh lc nửa đm
(Tn qun ngụ hứng)
Vậy l trong những giờ pht c độc nhất của đời mnh th Nguyễn Bỉnh
Khim cuối cng cũng phải thừa nhận l ng chỉ biết đem nỗi buồn đ tm sự
với tiếng chung cha trn ni cao kia!
Nguyễn Bỉnh Khim cn c một bi thơ nữa cũng được xem như l bi bc Phật
Gio. Đ l bi ng thắc mắc về lng từ bi của ngy lễ Vu Lan hay x tội
vong nhn theo cch gọi truyền thống c từ ngn đời của dn tộc Việt.
Nguyễn Bỉnh Khim ghi lại thắc mắc ấy qua bi thơ ng viết theo thể thất
ngn tứ tuyệt:
Thin địa na dung tội c nhn
Thị h x tội hữu lương thần
Ng kim dục trượng từ bi lực
Cứu đắc v c đồ thn nhn
Trời đất no dung tha kẻ c
Cớ sao cn c lễ Vu Lan
Từ bi ta muốn nhờ cng sức
Cứu được bao người chịu khổ oan
(Ngộ trung nguyn x tội)
Nhưng bi thơ ny theo kiến của gio sư Nguyễn Huệ Chi th c thể
thấy trong Nguyễn Bỉnh Khim lun lun c một nh Nho kinh bang tế thế
cứ muốn đối thoại với những hệ thống gio l đi chệch khỏi knh hnh tư
tưởng của mnh.
Đng l Nguyễn Bỉnh Khim chỉ muốn ni ln thắc mắc của mnh một cch
nghim chỉnh (v chắc chắn cn nhiều người nữa). Thắc mắc tất nhin phải
khc với bi bc.
Trong một văn bia viết cho cha Cao Dương theo lời yu cầu của nh sư
trụ tr c tn l Huệ Hiền v cc b lo thuộc x Cao Dương tỉnh Thi
Bnh, nhn việc cha cho tạo tượng Tam Gio (Phật, Lo, Khổng). Văn bia
được mở đầu bằng những lời lẽ hết sức tn knh đối với ngi cha:
Cha cổ Cao Dương ở Thụy Anh linh ứng từ lu. Điện Phật trang nghim
khiến người ngửa trng thnh knh. Gc chung cao ngất, tiếng vang được
nghe thấy từ xa. Đ cầu khẩn, khng c g khng được bo ứng. Đ l đất
ban phc, đệ nhất của Thi Bnh.
Tiếp theo Nguyễn Bỉnh Khim xc nhận ảnh hưởng tinh thần của ngi cha
đối với lng x điều ấy được thể hiện qua việc tạo tượng Tam Bảo v Diệu
Thiện cng cha:
Trong x c những cụ ng hiền hiểu su đạo l, cụ b nhn từ, vo những
năm nin hiệu Thuận Thin đ cng 7 mẫu ruộng lm của Tam Bảo. Tấm lng
vui lm điều thiện người người ngợi khen. Nay lại c cc vị thiện sĩ như
() v cc sải vi cng nhau quyn gp ti sản, thu thợ tạo tc tượng Tam
Gio v Diệu Thiện. Cng việc xong xui, xin bi Minh để ghi lại sự việc
c thực ny.
Nguyễn Bỉnh Khim cũng ni rằng v mnh l một nh Nho, nn kiến thức
về Phật học cũng như Đạo học rất c giới hạn:
Ti cũng c lng thch điều thiện khng dm từ chối. Nhưng ti l nh
Nho. Tuy chưa được nghe thấu đo về Đạo Phật, Đạo Lo; song đọc rộng, suy
nghĩ nhiều những điều nghi hoặc cũng nắm được một hai về luận thuyết ny.
V đy l đoạn m Nguyễn Bỉnh Khim đ đứng trn quan điểm Nho gio để
giải thch Phật gio v Đạo gio:
Đại loại Đạo Phật gốc ở chỗ lm sng sắc v tm, phn biệt r nhn v
quả. Đạo Lo ch trọng vo kh để tới chỗ mềm dẻo. Nắm ci l duy nhất giữ
bản chất chn thực của mnh. Đạo l đức Khổng, gốc ở đạo đức nhn nghĩa.
Văn hạnh, trung tn, tất cả đều l gio l tun theo tnh tự nhin con
người m tu dưỡng đạo đức; cng với vị Diệu Thiện do lng thiện m được
nổi tiếng chẳng phải l khng xuất pht từ tm tnh con người. Cc vị
Thiện Sĩ v như c thể mở mang con đường Thiện, tun theo v giữ gn gio
l lm điều tốt lnh. Vững gốc ở bản thn mnh để biểu lộ đối xử với người
th hạnh phc tỏa rộng khng cng. Cng đức ấy vượt ngoi sự tưởng tượng
v luận bằng. Nhn ghi vo đ cứng để truyền di lu.
Bi Minh rằng:
Trời ban cho l tnh
Tun theo tnh l Đạo
Gốc vốn ở trong lng
Gởi vo lời huấn gio.
Tượng cn lại trang nghim
Trời mnh mng bất lo
Ta thấy trong lời kết trn Nguyễn Bỉnh Khim đ lấy sch Trung Dung,
kinh điển chnh của Nho học để quy kết Tam Gio lại thnh một, v cột trụ
vẫn l Nho gio.
Thật ra, sự quy kết cả ba lại thnh một m Nho gio l cột trụ chnh
ny đ bị Thiền sư Cửu Chỉ ở đời L bc bỏ: Khổng Mặc chấp hữu, Trang
Lo nhược v, thế tục chi điển, phỉ giải thot php. Di hữu Phật Gio
bất hữu, v, khả liễu sanh tử. Khổng học v Mặc học chấp vo thế gian
l c thật.
Trang học v Lo học chủ trương khng c thật. Kinh sch thế tục chẳng
phải php học giải thot cho con người. Chỉ c Phật Gio mới khng chấp
vo c, khng, nn c thể hiểu r sự sống v sự chết.
Nhưng phải đọc hết đoạn văn bia ta mới thấy được tấm lng của Nguyễn Bỉnh
Khim, một tấm lng m Phan Huy Ch ở thế kỷ 19 đ ca tụng l: Ưu thời tư
thập nin, kỳ tm vị thường nhất nhật vong thế, ưu thời thế tục. Sống
cuộc đời thong thả nhn nh m trong lng chưa từng một ngy qun đời, lo
cho thế tục.
Nhưng chng ta phải giải thch thế no đy đối với sự thắc mắc của
Nguyễn Bỉnh Khim về ngy lễ Vu Lan hay ngy x tội vong nhn Rằm thng 7?
Trước hết, ta phải xt đến tm trạng của Nguyễn Bỉnh Khim đối với thời
thế. Như ta đ biết đ l những ngy c thể gọi l cực kỳ bi thảm, ci c
honh hnh khắp nơi, ng căm phẫn muốn được bo th, giết chết chng (như
giết một lũ chuột đang chui rc ph hoại) rồi đem phơi xc chng giữa phố
chợ cho đ giận. Từ sự phẫn nộ c tnh thời thế ny nn Nguyễn Bỉnh Khim
mới đặt vấn đề về nghĩa của ngy x tội vong nhn? Tại sao khng đem
lng từ bi đến với người dn hiền lnh v tội đang bị ch đạp, bị p bức
m lại đem lng từ bi đ để x tội cho những kẻ đ lm c? V kẻ c th
theo Nguyễn Bỉnh Khim trời đất cũng khng cn dung tha th lm sao lại
tha tội bằng sức ch nguyện được?
Sở dĩ ta kết luận rằng sự căm phẫn của Nguyễn Bỉnh Khim chỉ mang tnh
thời thế (nghĩa l chỉ xảy ra trong nhất thời) v như trn ta đ biết rằng
Nguyễn Bỉnh Khim từng khẳng định:
Dĩ nhn phạt bất nhn
Cứu thử điu si tm
V nhn m đnh kẻ bất nhn
Cứu dn đang bị điu tn ốm yếu
(Thương loạn)
V Nguyễn Bỉnh Khim cũng xc nhận rằng chỉ c lng nhn mới tồn tại ở
trn đời ny, chứ khng phải lng th hận muốn được trả th:
Cổ lai nhn giả tư v địch
H tất khu khu sự chiến tranh
Từ xưa đến nay chỉ c người c lng nhn l khng ai địch nổi
Việc g phải khư khư m lấy hận th giết chc.
Nếu đ lấy lng nhn để đnh kẻ bất nhn th Nguyễn Bỉnh Khim đ chấp
nhận quan điểm của Phật Gio rồi, v Phật Gio cũng chủ trương: khng phải
sự on th cừu địch được chấm dứt bằng sự on th cừu địch, sự on th cừu
địch chỉ được chấm dứt bằng tnh thương huynh đệ.
Vậy l do g Nguyễn Bỉnh Khim lại ln tiếng đặt nghi vấn về tinh thần
ngy lễ Vu Lan của Phật Gio? Hay ngy x tội vong nhn theo truyền thống
của dn tộc?
Ta c thể xt đến một l do nữa, trn quan điểm của một nh Nho thực
tế, Nguyễn Bỉnh Khim cho rằng, kẻ no đ lm c th kẻ ấy phải nhận lấy
hậu quả m chnh mnh đ gy ra, cn cầu nguyện để cứu vớt cho kẻ đ lm
c l điều khng thực tế, l viễn vng chăng?
Giả sử Nguyễn Bỉnh Khim đ thắc mắc như vậy th Phật Gio phải giải
thch thế no?
C người đến hỏi Phật về nghĩa của sự cầu nguyện. Đức Phật trả lời, như
một hn đ nặng được thả chm xuống đy hồ, cho d với sức cầu nguyện của
số người đng đảo, hn đ khng v vậy m nổi ln mặt nước. Sự thăng trầm
hay đọa lạc của một chng sinh ty theo hnh vi m n đ lm, chứ khng
phải v bất cứ lời cầu nguyện no.
Tuy vậy, trong kinh điển cũng cho thấy sự tin tưởng nơi năng lực chuyển
ha của tm đối với mi trường chung quanh; v ảnh hưởng ấy lại được
chuyển tải bởi ngn ngữ.
Khi c nhiều Tỳ Kheo sống trong rừng su bị rắn độc cắn chết, Phật ni
nếu cc Tỳ Kheo ấy m đ rải tm từ đến cc loi rắn độc, nhất định đ
khng bị hại bởi chng. Rồi Phật dạy bi kệ. Nội dung bi kệ khng phải l
những cu thần ch b hiểm, m chỉ l những ước nguyện mong cho tm từ của
hnh giả lan đến cha tể cc loi rắn độc, cc sinh vật khng chn, hai
chn v bốn chn; ước nguyện cc sinh loại đều được an lnh, khng lm hại
cc Tỳ Kheo. Ước nguyện ny được gọi l hộ ch (Parittam).
Cc Paritta ny hay hộ ch xuất hiện trong kinh điển Pa li khng phải
l t. nghĩa của n, do đu m ước nguyện chủ quan như vậy lại được tc
động mọi giới, c thể giải thch bằng điển hnh của Angulimāla. Tn giả
vốn l một tướng cướp kht tiếng, m con người thứ một nghn định giết
chnh l Đức Phật. Nhưng Angulimāla được Phật ha độ, trở thnh Tỳ Kheo,
rồi đắc quả A La Hn, nổi bật với tm từ. Một hm tn giả kể với Phật
trường hợp một sản phụ đau đớn, nguy kịch v kh sinh. Phật dạy Angulimla
đến đọc cho sản phụ ấy một Paritta, như l thần ch cứu nguy. Nội dung
thần ch l viện dẫn sự thật rằng, kể từ khi Angulimāla ti sinh trong
Thnh đạo ny chưa từng cố giết hại một sinh mạng no, bằng sự thực ấy,
ước nguyện sản phụ sinh sản an ton. Tất nhin trong qu khứ, Angulimāla
l một tướng cướp giết người khng gh tay; đ l một sự thật. Nhưng từ
khi được Phật ha độ, Angulimāla sống bằng tm từ với tất cả mọi sinh
loại, đ cũng l một sự thực. Sự thực trong Thnh đạo của Angulimāla l đ
chuyển ha tai họa của sản phụ, khiến cho được an lnh: tena saccena
sotthi ti hotu. Bằng sự thực ny, ước nguyện ny, ước nguyện chị được an
lnh.
Một bc sĩ người Php lừng danh ở những năm đầu thập nin thế kỷ 20
cũng xc nhận rằng nhờ rải tm từ m ng đ thot được nạn rắn độc. Đ
l trường hợp bc sĩ Yersin:
Năm 1894 bc sĩ Yersin đi từ cao nguyn Lang Bian đến Darlac rồi từ
Darlac đến Attopeu, một bữa nọ bc sĩ đang đi trong rừng, mắt chăm ch
nhn ln cc ngọn cy cao, th bỗng nghe sau lưng c tiếng động. Quay lại
th ng thấy một con rắn hổ mang to lớn đứng thẳng ln trn đui, phng
mang le nọc độc.
Bc sĩ Yersin đứng yn, thi độ hon ton bnh thản. Rắn lắc lư chiếc
đầu dẹp muốn nhảy đến chụp, nhưng lại tr trừ. Hồi lu hạ mnh xuống vụt
phng vo bụi rậm rồi đi mất.
Nghe được cu chuyện, c người đến hỏi bc sĩ c phải nhờ thuật thi
min m thot nạn chăng? Bc sĩ cười đp:
Rắn độc cũng như th dữ, cắn người chỉ để tự vệ. Chng đều c linh tnh.
Một khi nhận biết rằng mnh khng c c tm, c đối với chng th khng
bao giờ chng lm hại mnh .
Thế giới vốn đ đen tối, nhưng sẽ đen tối hơn nữa nếu con người khng
chịu dừng lại như Angulimla đ từng dừng lại trước lng th hận m từ lu
Angulimla đ m giữ, rồi sau đ cn đem lng từ rải đến những con người
đang đau khổ như trước đ Angulimla đ đau khổ.
Chẳng phải đ cũng l thng điệp m Phật Gio mang đến cho thế giới đau
khổ ny trong ngy lễ Vu Lan, ngy m Đức Phật đ khuyn dạy cc đệ tử
xuất gia cũng như tại gia của Ngi hy rải lng từ của mnh đến khng phải
chỉ với những người m mnh thương yu m cả đối với những người đ th
ght on hận mnh trước đ nữa?
V chẳng phải tổ tin của dn tộc Việt chng ta đ học được bi học về
lng Từ Bi khng phn biệt ny từ Phật Gio? V ngy x tội vong nhn
khng chỉ l ngy thuần tn ngưỡng thi m cn thể hiện tất cả sự hiếu ha
truyền thống mấy ngn năm của dn tộc Việt?
Lịch sử của nhn loại ni chung v dn tộc Việt ni ring đ từng chứng
minh một cch hng hồn rằng, bất cứ một triều đại no, một thể chế chnh
trị no cai trị dn bằng một chnh sch bao dung, cởi mở, nhất l biết
khim tốn học hỏi những tinh hoa của mọi tư tưởng thời đại, th nhất định
sẽ đem lại sức mạnh của sự đon kết, điều kiện tất yếu để đưa dn tộc mnh
đến giu mạnh v ph cường.
Cố gio sư Nguyễn Đăng Thục, một người đ dng hiến trọn đời mnh cho lịch
sử tư tưởng dn tộc, đ viết về hậu quả của chnh sch độc tn của nh
L như sau:
Triều đại nh L, kể từ L Thi Tổ, sau 20 năm chinh chiến với qun Minh,
giới lnh đạo nhất định đoạn tuyệt với tư tưởng truyền thống L Trần để
độc tn một mnh Nho học dng lm thức hệ quốc gia, bắt chước Tống Nho
tịch Thch Đạo nghĩa l bi bc Phật Gio v Đạo Gio. Sự độc tn ấy đi
đến tuyệt đỉnh của chế độ phong kiến với L Thnh Tng (1460 1497).
thức hệ Nho gio vốn bế quan nn lm cho chnh thể chuyn chế, b
phi tranh ginh, quan liu v lợi danh.
Cố gio sư cn so snh về sự khc nhau của hai ci chết của hai vị vua
được xem l lỗi lạc nhất của hai triều đại. Vua L Thnh Tng th tin vo
Nho gio, ch nh L nh Trần l m tn Phật Gio, đến lc gần chết th
thốt ra những lời đầy hoang mang v tuyệt vọng:
Ngũ thập nin lai thất xch khu
Cương trường như thiết khước thnh nhu
Phong suy song ngoại hong hoa tạ
L ấp đnh tiền lục liễu sưu
Bch hn vọng cng vn yểu yểu
Hon lương mộng tỉnh dạ du du,
Bồng lai sơn thượng m dung đoạn
Băng ngọc hương hồn nhập mộng v
Năm mươi năm, bảy thước thn trai
Dạ sắt lng gan chợt yếu rồi.
Gi thổi ngoi song vng cc rụng
Sương sa thềm trước liễu xanh gầy
Trng ln Trời biết my thăm thẳm
Mộng tỉnh k vng, năm canh chầy.
Bồng Lai đỉnh ni m thanh dứt
Lng tuyết hồn thơm mộng ho thi.
Cn Trần Nhn Tng của đời Trần th chấp nhận sống chung với cả ba tn
gio, ni theo ngn ngữ ngy nay l người chủ trương đa nguyn, khi đối
diện với ci chết lại hết sức bnh thản, nh vua đ xem ci chết l bắt
đầu bước vo một thế giới m ở đ trn ngập một mu xun:
Thế số nhất sch mạc
Thời tnh lưỡng hải ngn
Ma cung hồn quản thận
Phật quốc bất thắng xun
Số đời một hơi thở
Tnh đời hai biển trăng
Cung ma đu s kể
Ci Phật một trời xun.
Bởi vậy khi Nguyễn Bỉnh Khim một người được thời đại đnh gi l cy
đại thọ tỏa bng mt suốt thế kỷ 16 đ đến cha Phổ Minh khng phải như
mọi khch vn cảnh khc, m chắc chắn ng đ đến để tỏ lng tn knh đối
với ngi cha đ từng đng một vai tr quan trọng trong việc đưa nước Đại
Việt pht triển rực r trong suốt một thế kỷ m by giờ ngi cha cũng như
đất nước đ lm vo cảnh điu tn.
Loạn hậu trng tầm đo Phổ Minh
Vin hoa d thảo cựu nham quynh
Bỉ văn bc lạc ha yn bch,
Phật nhn th lương chiếu dạ thanh.
Php giới ưng đồng thin quảng đại,
Hương nhn do thuyết địa anh linh.
Liu liu cổ đỉnh kim h tại
Thức đắc v hnh thắng hữu hnh.
Sau loạn lại tm đến Phổ Minh
Hoa vườn cỏ nội cổng xưa quen
Bia văn tn đổ khi mờ biếc
Mắt Phật lạnh lng đm quạnh tanh.
Ci Php một vng Thiền rộng lớn
Người lng vẫn bảo đất thing linh
Xa xăm cổ đỉnh ry đu t
Mới biết v hnh thắng hữu hnh.
(Du Phổ Minh tự)
Cũng như nh Nho Nguyễn Tri ở thời L Sơ, Nguyễn Bỉnh Khim cũng cảm
thấy c độc lạ thường giữa một đm Nho thủ cựu, cố bm chặt thức hệ Nho
gio của mnh, để cuối cng đưa đất nước đến chỗ khốn cng, ng than ln
trong đau đớn:
Nho quan tự tn đa thm ngộ
Đnh thực thy năng vị quốc mưu
Tất cnh dục cầu ng lạc xứ
Tri ng hậu lạc tại tin ưu
Ci mũ nh Nho tự biết đ lm cho tấm thn mắc nhiều lầm lỡ
Ăn bằng vạc, c ai l kẻ v nước mưu toan
Rốt cục (ai) muốn tm ci chỗ vui của ta.
Th cần biết rằng ta được vui sau thin hạ
V biết lo trước thin hạ
Mỗi khi nhắc đến Nguyễn Bỉnh Khim với tư tưởng Phật Gio, th hầu hết
cc nh nghin cứu đều trch hai cu trong bi Cảm thời cổ y của ng:
Tng đầu sắc thị khng
Bản lai v nhất vật
V đều cng nhận rằng, Nguyễn Bỉnh Khim đ rất nghim chỉnh trong việc
tm hiểu chữ khng của Phật Gio Đại Thừa ci g c hnh thể, c tn
gọi, c mu sắc biểu hiện đều giả hợp m c, đều nhn duyn với nhau m
sinh, cho nn khng c vật g trong thế giới hiện tượng l tự c m chỉ l
tương đối. Cho nn khng c thực thể tuyệt đối. Thế nn mọi sự l hỗ
tương quan hệ (Pratitya samputpāda nhn duyn) th khng c vật g c
tnh độc lập, cho nn gọi l khng
Trong bi Đọc Phật kinh hữu cảm Nguyễn Bỉnh Khim khuyn nn đọc kinh Phật
bằng một tinh thần như thế ny:
Nếu trong lng bạn c mảnh ruộng bỏ hoang, th nn cắt bỏ thứ cỏ hoang đ
đi, để vun trồng lấy thứ hoa khc, đa hoa của gic ngộ.
Đọc lời khuyn trn, ta c cảm tưởng Nguyễn Bỉnh Khim khng cn l một
nh Nho nghin cứu kinh Phật để thoả mn tnh hiếu kỳ, m l một hnh giả
nhiệt tm đi tm kiếm con đường để tự giải phng ra khỏi mọi đau khổ v
triền phược của chnh mnh.
Theo lời thuật lại trong bi Đi tm lại dấu vết ng Trạng trn hai bờ
sng Vĩnh Trinh qu khứ th Nguyễn Bỉnh Khim đ cng với nhn dn gp
cng sức xy dựng cc cha như cha Sng Mai, cha Vọng Nguyệt, cha Ngn
Mai, cha Kế, cha Mt, đặc biệt l cha Trang Hoa, ngi cha m ng
thường lui tới để đm đạo v ngm vịnh với vị sư trụ tr c tn l Bi Ngu
Dn. Chnh tại ngi cha ny, Nguyễn Bỉnh Khim c viết bi k c tn l
Thạch khnh K (bi k viết về chiếc khnh đ). Trong bi k c
đoạn:Nguyn c cha Trang Hoa ở lng Đồng Địch, huyện Vĩnh Lại, thuộc
Hồng Chu, đất cổ m thanh u, cảnh đẹp m vắng vẻ, r rng l vng trời
Thiền ở ci Chấn Đan
Bi thơ sau đy sẽ cho ta thấy v sao Nguyễn Bỉnh Khim lại say m với
những ngi cha đến như vậy:
Trường tng ng uất trc m sum
Danh lợi nguy nga ỷ mục sầm
Địa khả tuyệt trần lưu nguyệt tĩnh
Mn trường lan lục tỏa vn thm
Mộ lai sơn sắc thanh tăng nhn
Dạ hướng đăng hoa chiếu Phật tm
Cảnh giới trang nghim đm bất tận
Du quan thy bất mỹ đăng lm
Thng cao vt rậm rạp, tre trc sum xu
Dựa trn ni cao nguy nga nhn lợi danh
Đất sạch hẳn bụi trần chỉ giữ lại bng trăng yn tĩnh,
Cửa ngăn cch thi tục nhờ ln my kha lại.
Chiếu đến cảnh sắc ni rừng lm trong mắt nh sư,
Đm về nh đn soi tỏ tm Phật.
Cảnh giới trang nghim đm luận khng thể tận cng
Người đến viếng ai m khng gợi ln mỹ cảm.
(Tự thi)
Cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khim gắn chặt với cha chiền đến nỗi gần hai
thế kỷ sau (18) Nguyễn Thiếp một nh Nho lỗi lạc cũng được tn l phu tử
(La sơn phu tử) như ng (Tuyết giang phu tử), từ Nghệ An ra Bắc muốn tm
lại dấu vết của ng cũng phải vo cc ngi cha ở cc vng qu Hải Dương.
Trong bi thơ nhan đề Qu trnh tuyền mục tự (Qua cha Mục của trnh
tuyền) Nguyễn Thiếp đ xem Thiền sư Vạn Hạnh ở thế kỷ thứ 10 v Nguyễn
Bỉnh Khim ở thế kỷ 16 đều l những nh tin tri vĩ đại. Chỉ c khc l,
Vạn Hạnh đ đưa được học tr của mnh l L Cng Uẩn ln ngi, mở ra triều
đại nh L, một triều đại đ khẳng định nền tự chủ v độc lập mạnh mẽ nhất
sau hơn một ngn năm Bắc thuộc. Cn Nguyễn Bỉnh Khim ở thế kỷ 16, mặc dầu
được Nguyễn Thiếp ca tụng l o cơ thm tạo ha (mưu cơ thm kn tham dự
vo việc của tạo ha) nhưng cũng chẳng lm được g trước thời loạn Bạch
vn bất khả đương (Bạch vn cũng kh đảm đương nổi):
Tch văn Mạc trnh tuyền
Kim đo Tuyết kim tn
Cổ qun dư thương kệ
Di am chỉ Bạch vn.
Bắc giang tăng Vạn Hạnh,
Nam độ Tấn Tham Qun
Thao thao trục lưu Mc
Chn tri hữu kỷ nhn
Vim vận tao dương cửu
Gian hng xuất chấn phương
Tiu sơn tăng dĩ hỉ
Bạch Vn bất khả đương.
o cơ thm tạo ha
Nhn kh miểu cng vương.
Phiến ngữ ton tam tnh
Hồn hỗn vị dị lương.
Am khng bi diệc diệt
Lưu lạc tuyết kim giang
Xưa nghe tiếng Trạng Trnh đời nh Mạc
Nay đến bn sng Tuyết Kim
Qun cổ cn lại tấm bia đ phủ ru xanh
Dấu vết am chỉ cn my trắng.
Bắc Giang c Sư Vạn Hạnh
Bến đ Nam c Tấn Tham Qun
Nước cuồn cuộn chảy xuống cuối dng
C mấy ai được l chn tri
Vận nước vng nng nực ny gặp lc rủi ro
Ở phương Đng xuất hiện kẻ gian hng,
Nh sư ở cha Tiu Sơn khng cn nữa
Bạch Vn cũng kh đảm đương nỗi.
Mưu cơ su kn tham dự vo việc của tạo ha
Phong kh nhn nh xa cch cc bậc cng vương
Chỉ cu ni ngắn m bảo ton được ba họ
Rất hồn nhin m khng dễ suy đon được
Am khng, bia cũng hỏng mất
Sng Tuyết Kim vắng vẻ đu hiu.
Bởi vậy ta c thể kết luận một cch chắc chắn rằng, Nguyễn Bỉnh Khim
khng hề bi xch Phật Gio. Nếu c, th ng cũng chỉ chỉ trch những
người đ lm hoen ố chốn Thiền Mn, một nơi m ng đ gọi l địa khả
tuyệt trần (đất sạch hẳn bụi trần).
V mặc d khng phải l một Phật tử thuần hnh như Nguyễn Tri ở thế ky
15 hay Nguyễn Du ở thế kỷ 18, nhưng Nguyễn Bỉnh Khim vẫn xem cha chiền
như nơi chốn cuối cng m ng trở về, phải từ một mảnh đất sạch hẳn bụi
trần (địa khả tuyệt trần) ấy, Nguyễn Bỉnh Khim mới hy vọng tm thấy lại
Phật tm trong chnh ng (dạ hướng đăng hoa chiếu Phật tm) giữa đm di
tăm tối của sanh tử, như chnh Nguyễn Bỉnh Khim đ xc nhận vậy.
Những nh nghin cứu văn học hiện nay mỗi lần viết về cc nh thơ cổ
điển ni chung v Nguyễn Bỉnh Khim ni ring, vẫn thường dng nhm từ như
hạn chế thời đại hoặc l sự bế tắc của chế độ phong kiến. Như vậy, mặc
nhin ai cũng phải thừa nhận rằng thời hiện đại l thời khng bế tắc v
khng hạn chế. Nhưng điều đng ngạc nhin l những thời đại m ta cho l
bế tắc v hạn chế đ lại đối đi với cc nh tr thức rất mực l văn
ha ni theo cch ni hiện nay.
Trường hợp Nguyễn Bỉnh Khim chẳng hạn, ng đ lớn tiếng mạt st giới
thống trị bấy giờ, gọi họ l một lũ chuột chui rc (tăng thử). Trong một
bi thơ khc ng cn v họ như một lũ ruồi, lũ kiến, hễ thấy nơi no c
mi tanh hi, c mật ngọt, c mỡ bo th nho tới m chẳng hề biết lim sĩ
l g:
Thớt c tanh tao ruồi đậu đến
Ang khng mật mỡ kiến b chi
Vậy m chẳng những họ (giai cấp thống trị thời bấy giờ) đ khng gy
kh dễ cho ng m cn xem ng như một bậc Thầy. Tất cả cc tập đon phong
kiến đang ginh giựt lẫn nhau (Trịnh, L, Mạc, Nguyễn) mỗi khi cần lại đến
thỉnh kiến ng. Đến khi chết, vương triều Mạc cn sai cc thi tử về lo
tang lễ cho ng v phong tặng ng nhiều tước hiệu cao qu nhất dưới chế độ
m ngy nay ta gọi l bế tắc phong kiến.
C lẽ chỉ những nghệ sĩ tự nguyện lm n lệ cho thời đại cn những nghệ
sĩ chn chnh bằng tất cả sức mạnh nội tm của mnh, ngi bt của họ c đủ
sức lay động tri tim của nhiều thế hệ sau. Nguyễn Bỉnh Khim tất nhin
đứng vo hng ngũ của những nghệ sĩ cự phch ấy.
Chẳng hạn bi thơ Nm sau đy của ng:
Một mai, một cuốc, một cần cu
Thơ thẩn dầu ai vui th no.
Ta dại, ta tm nơi vắng vẻ,
Người khn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trc, đng ăn gi
Xun tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến gốc cy ta sẽ uống
Nhn xem ph qu tựa chim bao.
Chốn lao xao l chốn no vậy? C phải l chốn của lợi danh, của cửa
quyền để rồi cuối cng đưa đến đấu tranh v st phạt lẫn nhau chăng?
C lẽ trừ Truyện Kiều của Nguyễn Du ra, th bi thơ Nm dễ đọc dễ nhớ
trn của Nguyễn Bỉnh Khim l được nhn dn truyền khẩu khng phải ở thời
đại Nguyễn Bỉnh Khim thi, m cả đến ngy hm nay nữa.
Điều ấy chứng tỏ rằng khng phải chỉ c thời phong kiến bế tắc m
người dn ở mọi thời đại (kể cả thời đại hm nay) vẫn lun lun l nạn
nhn cho lng tham ch kỷ của một thiểu số người vậy!
(Tập San Nghin Cứu Phật Học
số 14) |