|
TRIẾT HỌC THẾ THN
VỀ TỰ TRI & BN THM VỀ CƠ CẤU TỰ TRI
L Mạnh Tht
(tiếp theo)
Đọc đoạn trn, quan niệm của Php Hộ về chuyển biến của thức chắc chắn
khng khc với An Huệ mặc d ph phn minh nhin của ng về thuyết nhận
thức-một dạng của An Huệ v cch diễn giải kỳ lạ của ng về cu văn tiếng
Phạn của Thế Thn. Hai điều ny khng đng quan tm ở đy. Chừng đ cũng
đủ để ni rằng ph phn của ng về thuyết nhận thức-một dạng của An Huệ
đối
với chng ta hnh như khng được bảo đảm v hon ton khng thuyết phục,
giống hệt như trường hợp ng ph phn thuyết nhận thức-hai dạng của Trần
Na
v trường hợp quan điểm ng đề ra về nhận thức-ba dạng. Về cch diễn giải
kỳ
cục của ng đối với cu văn chữ Phạn của Thế Thn, khi xt từ quan điểm
ngữ
php thuần ty th sự diễn dịch ny thật sự khng hợp l, nếu giả như
Huyền
Trng đ chuyển ngữ bản gốc Phạn văn một cch trung thnh v chnh xc,
một
giả thiết m ta c thể nghi ngờ v khng tin tưởng khi xt đến cc bản
dịch khc
của ng, những bản dịch m cc bản gốc Phạn văn vẫn cn giữ được v cho
thấy c sự khc biệt đng kể (Để thấy được Huyền Trng chuyển ngữ cc bản
Phạn trung thực, hay đng hơn khng trung thực, như thế no, ta cần so
snh
bi tụng tiếng Phạn đầu tin của Triṃśikā với phần tương ưng trong bản
dịch
của ng:
ātmadharmopacāro hi vividho yaḥ pravartate/
vijānaparināmesau parināmaḥ sa ca tridhā//
由 假 説 我 法 有 種 種 相 轉
彼 依 識 所 變 此 能 變 唯 三
).
D sao th nghĩa bi tụng của Thế Thn cũng rất r rng, v một diễn
giải sai
về n như của Php Hộ cũng khng c hại g nghim trọng cho n. Thật vậy,
nghĩa bi tụng đ đủ mạnh để buộc ta phải chấp nhận cch phn tch cu v
giải thch của Php Hộ l khả năng duy nhất, cho d diễn giải ny khng
đng
về ngữ php. Bởi v nếu nghĩ rằng chuyển biến của thức l một cấu trc
ngn
ngữ, điều tất yếu l phải c ci g đ được cấu trc bằng ngn ngữ. Nếu
khng,
bn về cấu trc ngn ngữ để lm g? Thật ra, sẽ khng c cấu trc ngn ngữ
no cả nếu khng c cc sự vật được cấu trc bằng ngn ngữ để qua đ cấu
trc ngn ngữ c thể biểu hiện. V thế, khi Thế Thn ni chuyển biến của
thức
l một cấu trc ngn ngữ, ta mong đợi ng sẽ ni tiếp về ci được cấu
trc
bằng ngn ngữ, khng kể l lời ni ny c được tiếp nối bởi một cu ni
khc
hay khng. Kết quả, ta khng thể co buộc Php Hộ l khng hiểu Phạn văn
của
Thế Thn, một điều khng đng với bất kỳ một t tưởng tượng no; ta cũng
khng thể co buộc ng đ diễn giải một cch to tợn tư tưởng của Thế
Thn.
Mặc d ngữ php tồi, nếu ta tin tưởng Huyền Trng đ chuyển ngữ Phạn văn
của ng một cch trung thnh v đng, th qua đoạn văn dẫn trn Php Hộ
vẫn
cho chng ta một trần thuật dễ hiểu v hon ton hợp l về thuyết chuyển
biến
của thức của Thế Thn.
Khi Php Hộ ni cc thức ny c thể tự chuyển thnh phần thấy v phần bị
thấy, điều ng thật sự muốn ni l cc ấn tượng c thể tự chuyển thnh sự
tự
tri về chnh n v sự tự tri về ấn tượng. Bởi v trong trang trước, ng đ
đống
nhất chữ thức với chủng tử như đ thấy (Dharmapāla,
Vijaptimātratāsiddhi,
Taishō 1585, p.40a1-9:
由 一 切 種 識 如 是 如 是 變
以 展 轉 力 故 彼 彼 分 别 生
論 曰, 上 一 切 種 識 謂 本 識 中 能 生 自 果 功 能 差 别。 此 生 等 流 異 熟
士 用 增 上 果, 故 名 一 切 種。 除 離 繋 者 非 種 生 故。 彼 雖 可 證 而 非
種 果。 要 現 起 道 斷 結 得 故。 有 展 轉 義 非 此 所 説。 此 説 能 生 分 别
種 故。 此 識 為 體 故 立 識 名。 種 離 本 識 無 别 性 故。 種 識 簡 二 言 簡
非 種 識, 有 種 非 識 有 識 非 種 故。 又 種 識 言 顯 識 中 種。 非 持 種 識,
後 當 説 故。
).
Ngoi ra trong khi khảo st thuyết nhận thức-hai dạng được Trần Na bổ ch
thm, Php Hộ đ biểu trưng thuyết ny qua cc phần nhn thấy v được nhn
thấy (Dharmapāla, Vijaptimātratāsiddhi, Taishō 1585, p.10b2-16:
執 有 離 識 所 緣 境 者。 彼 説 外 境 是 所 緣。 相 分 名 行 相, 見 分 名 事。
是 心 心 所 自 體 相 故。 心 與 心 所 同 所 依 緣 行 相 相 似。 事 雖 數 等 而
相 各 異, 識 受 想 等 相 各 别 故。 達 無 離 識 所 緣 境 者, 則 説 相 分 是
所 緣, 見 分 名 行 相。 相 見 所 依 自 體 名 事, 即 自 證 分。 此 若 無 者 應
不 自 憶 心 心 所 法。 如 不 曾 更 境 必 不 能 憶 故。 心 與 心 所 同 所 依 根
, 所 緣 相 似, 行 相 各 别, 了 别 領 納 等 作 用 各 别 故。 事 雖 數 等 而
相 各 異。 識 受 等 體 有 差 别 故。 然 心 心 所 一 一 生 時, 以 理 推 徵 各
有。 分。 所 量 能 量 量 果 别 故。 相 見 必 有 所 依 體 故。 如 集 量 論 伽 他
中 説。
似 境 相 所 量 能 取 相 自 證
即 能 量 及 果 此 三 體 無 别
).
V thế, những g được đặt tn l phần thấy v phần được thấy trong cch
dng từ của Php Hộ chnh l sự tự tri về chnh n v sự tự tri về sự
vật của
Trần Na (Dignāga, Pramāṇasamuccaya I p 15b5-6. cf.
Pramāṇavārttikabhāṣya of Prajākaragupta, ed. Rahula Samkṛtyāyana,
Patna: K.P. Jayaswal Research Institute, 1953: 403.). nghĩa của cu ni
dẫn
trn của Php Hộ như vậy hon ton r rng. Đối với ng, n c nghĩa khi
một
ấn tượng được một đối tượng để lại, n c thể tự chuyển thnh sự tự tri về
chnh n v sự tự tri về ấn tượng. Do chnh sự chuyển biến ny m cả hai
sự tự
tri ny khng hiện hữu, v cuối cng nhất định chng phải chuyển thnh chỉ
một
tri nhận chn muồi. Kết quả, bất cứ ci g hiện hữu, hoặc hữu vi hoặc v
vi,
hoặc thật hoặc m tả, đều chỉ l ci khiến ta biết. V vậy, nếu ta so
snh quan
điểm ny của Php Hộ với quan điểm của Trần Na ở trn, th chng hon ton
đồng nhất. Nếu Php Hộ ni cc thức ny c thể tự chuyển thnh phần thấy
v
phần được thấy, An Huệ sẽ ni lại do sự xử l ton bộ cc ấn tượng thuộc
cấu
trc ngn ngữ như ng, v.v., v do sự xử l ton bộ cc ấn tượng thuộc cấu
trc
ngn ngữ như php, v.v., m cấu trc ngn ngữ hiện khởi như sự tự tri về
chnh
n v như sự tự tri về sự vật từ thức-xử-l. Vậy th r rng khng phải
sự diễn
dịch của Php Hộ về sự chuyển biến của thức như l sự chuyển biến thnh
ci
gọi l phần thấy v phần được thấy đ lm cho tư tưởng ng về vấn đề ny
trở
thnh một loại duy tm luận; cũng khng phải một diễn dịch như thế đ
đnh
mất luận giải của An Huệ vốn chuyển tải, theo quan điểm của ng, một
thuyết
về thực tại, như phần đng đ tưởng (Ueda Yoshifumi, Yuishiki shiso
nyumon,
Kyoto: Asoka shoin, 1964: 11-52; Two Main Streams of Thought in Yogācāra
Philosophy, PEW XVII (1967): 155-165.). Họ hon ton thống nhất với nhau
khi
trnh by thuyết chuyển biến của thức do Thế Thn đề ra.Sự thống nhất ny r rng khng gy nhiều ngạc nhin cho bất cứ ai đ quen
với nội dung của Nhị Thập Tụng. Trong đ, Thế Thn ni Chủng tử của ring
n, từ đ ci khiến ta biết sinh khởi như một sự tự tri về một vật, chủng
tử đ
đạt đến điểm quyết định của sự chuyển biến của n, chủng tử đ ở một pha,
v
chủng tử m n sinh khởi như một sự tự tri về chnh n, ở pha kia, những
ci
ny l hai ci m Thế Tn tuyn bố l xứ của mắt v xứ của vật. Nay
ta c
thể so snh cu ni ny với hai đoạn văn dẫn trn của An Huệ v Php Hộ.
Một
điều hiển nhin l cốt li quan niệm về sự chuyển biến của thức của hai
người
ny đều rt ra từ chnh cu ni được trch dẫn trn. Cả hai đều đặt quan
niệm
chuyển biến của mnh trn sự tiến ha của chủng tử hay ấn tượng thnh sự
tự
tri về chnh n v sự tự tri về chủng tử hay ấn tượng. Tm lại, d trong
Tam
Thập Tụng, Thế Thn đ khng đưa ra một trần thuật r rng quan điểm của
ng về sự chuyển biến của thức nhưng chng ta tin tưởng vẫn c thể c một
khi niệm chnh xc về nghĩa của n nhờ vo Nhị Thập Tụng v cc luận
thư
của hai người ủng hộ ng l Php Hộ v An Huệ.
Thuyết chuyển biến của thức như được m tả ở đy v thế hon ton mới v
khc hẳn với những g Thế Thn quan niệm trong cc tc phẩm trước của ng.
Chẳng hạn, trong Cu X Luận, sau khi hỏi Dng thức l g? Chuyển biến l
g?
Điểm quyết định l g?, ng đ trả lời như sau:
Dng thức l dng chảy lin tục của thức trước một hnh động. Sự dng khởi
của dng chảy ny v sự trở thnh khc đi của n l sự chuyển biến
(Abhidharmakośa IX p 477.). V khi do tnh chất đặc biệt của sự chuyển
biến
cuối cng m n c thể sinh khởi một quả ngay sau chuyển biến cuối cng
đ,
th đ l điểm quyết định của sự chuyển biến.
Quan niệm được Cu X Luận định nghĩa như thế r rng rất thẳng thắn v
đơn
giản. N khng lin quan g đến quan niệm sự chuyển biến của thức l sự
chuyển biến của một ấn tượng thnh sự tự tri về chnh n v sự tự tri về
ấn
tượng m Nhị Thập Tụng nhấn mạnh v được Php Hộ v An Huệ lập lại trong
cc tc phẩm của họ. Sự tương phản giữa hai luận thư ny v thế rất dễ
thấy.
Tất nhin, ta c thể hỏi tại sao một tương phản nổi bật như thế lại xảy
ra, một
tnh chất đ tch rời Nhị Thập Tụng với quan niệm đơn giản ban đầu của Cu
X Luận về thuyết chuyển biến. Thế nhưng, ta khng thể phủ nhận l tương
phản đ khng tồn tại.\
Thật vậy, ta c thể ni rằng tương phản đ khng những đnh dấu hai thời
kỳ
tư tưởng của Thế Thn, m l ton bộ tư tưởng ng đối với tư tưởng của
những
người đương thời v đi trước ng, bởi v khng c nơi no c thể tm thấy
một
quan niệm về chuyển biến của thức như được trnh by trong Nhị Thập Tụng.
Dĩ nhin, quan niệm chuyển biến của thức dưới nhiều tn gọi khc nhau đ
c
một lịch sử lu đời v phức tạp. C thể ni rằng quan niệm ny bắt nguồn
cng
với cc nh văn phạm. Với đặc điểm về biến cch của tiếng Phạn, họ đ tự
hỏi
tại sao một chữ c thể biến cch m khng đnh mất nguyn nghĩa của n.
Lc
đầu, đ chỉ l một sự thay đổi về luật phối m do những l do hi m,
chẳng
hạn
e > a hay i > y
trước một nguyn m. Khi m tả cc biến cch ngữ học, cc tc giả của
nhiều
Prātisākhya khc nhau đ ni về trường hợp một m đổi thnh một m khc.
Như Ṛgvedaprātiśākhya ghi lại quy tắc ni rằng nhm từ ci ny đến ci
kia
c nghĩa l trở thnh ci kia, lin quan đến m đứng gần n nhất
(Ṛgvedaprātiśākhya I.56, ed. M.D.Shastri, Allahabad: Indian Press, 1931:
anum iti tadbhāvam uktaṃ yathāntaram; cf. II. 15-21.). V
Taittirīyaprātiśākhya ni về việc trực bổ cch đặt tn cho một sản phẩm
của sự
chuyển biến (Taittirīyaprātiśākhya I. 28, ed. W.D.Whitney, Journal of the
American Oriental Society IX (1871): 26: aṃ vikārasya.). Tuy nhin, khi
Aṣṭādhāyā của Pānini xuất hiện, thay v bn về sự chuyển m, n đ dựa vo
thuyết thay thế một m bằng một m khc v v thế đặt ra yu cầu chữ thay
thế
phải được xem như chữ gốc trừ khi n chỉ thị cch khc (Pānini, Aṣṭadhyāyī
I.
49-56: ṣaṣṭhī sthāneyogā/ sthānentaratamaḥ/ uranraparaḥ/ alontyasya/
ādeḥ parasya/ anekālsit sarvasya/ sthānivad ādesonalvidhau/.).
Trong trường hợp c hai thuyết đổi m được sử dụng cng lc v hnh như c
tnh chất loại trừ nhau ny, Patajali đ đề nghị một giải php th vị.
ng ni
rằng sự thay thế cũng l sự chuyển biến. Tại sao? Bởi v thay thế chỉ l
một
chuyển biến của quả. Vậy, sự chuyển biến ny của quả c nghĩa g? ng cho
th
dụ rằng theo Pānini II. 4. 52 th động từ căn bhū l một thay thế cho động
từ
căn as khi chữ ny c tiếp vĩ ngữ thuộc loại ārdhadhātuka. Theo ng, những
g
xảy ra trong sự thay thế ny l với một tiếp vĩ ngữ mới th động từ căn as
cho
chng ta một tnh huống mới giống như khi người ni ni với người nghe
trước
tin về cy xoi v sau đ về những cy vả. Sự chuyển biến của quả trong
hai
trường hợp ny khng phải l những g xảy ra cho động từ căn as hay cho
cy
cối, m l xảy ra cho hiểu biết của chng ta về cả hai điều ny. V thế,
đối với
Patajali, chuyển biến của quả l chuyển biến của tm, một
buddhiviparināma
(Patajali, The Vyākaraṇamahābhāṣya of Patajali, ed. F. Kielhorn, Poona:
Bhandarkar Oriental Research Institute, 1962, p 31&137.).
Khi niệm kỳ lạ ny về sự chuyển biến của tm được đưa ra ở đy lm chng
ta
nhớ ngay đến thuyết chuyển biến của thức do Thế Thn đề ra. Tất nhin,
chng
ta khng biết chnh xc Thế Thn đ rt ra thuyết của ng từ thuyết của
Patajali ở mức độ no. Cu X Luận c ghi những trch dẫn từ Pānani v
rất
nhiều luận giải về cấu trc đng văn phạm của một từ hay một cu.
(Abhidharmakośa II ad 46c-d. cf. IX p 472-473.) Thế nhưng khng c đề cập
cng khai no đến tn của Patajali. Một điều cũng rất quan trọng l Thế
Thn
đ bắt đầu Tam Thập Tụng với một luận đề lin quan đến vấn đề m tả được
biết đến dưới tn upacāra nhưng khng định nghĩa từ ny l g. Như sẽ
thấy ở
chương kế tiếp của nghin cứu ny, nghĩa m cc nh bnh giải luận thư
trn
đ gn cho từ ny xuất pht từ chnh Patajali. Vậy điều hiển nhin l nếu
Thế
Thn đ qu quen với nghĩa của từ upacāra th ng hẳn đ dựa vo giải
thch
của Patajali v phải đồng với giải thch ny. Với những chứng cứ cụ thể
ny,
ta khng thể khng kết luận rằng Thế Thn chắc hẳn đ trnh by thuyết
chuyển
biến của thức trn cơ sở quan niệm của Patajali về chuyển biến của tm.
Thật
khng may, vấn đề sự chuyển biến của tm vận hnh như thế no đ khng hề
được Patajali bn đến.
V lẽ đ, chng ta buộc phải kết luận rằng cho d Thế Thn c rt ra
thuyết
chuyển biến thức của ng từ quan niệm chuyển biến tm của Patajali, nhưng
chnh Thế Thn l người đ hiểu đng, đnh gi đng v pht triển quan
niệm
ny thnh một l thuyết khng cn sự mơ hồ v mu thuẩn no cả. V đ l
điểm độc đo của thuyết chuyển biến thức của Thế Thn, một thuyết khng
tm
thấy ở nơi no khc v đ gip phn biệt n với tất cả cc quan niệm khc
về sự
chuyển biến m n thường được mang ra so snh.(Hacker, Vivarta, Akademie
der Wissenschaften und der Literatur in Mainz: Abhandlungen der geistes-
und
sozialwissenschaftlichen Klasse, 1953: 185-242.)
Chắc chắn khng thể đem so quan niệm của Số luận về chuyển biến cũng như
l thuyết về hiện hnh của Vedānta với thuyết của Thế Thn, v một l do
đơn
giản l thuyết của ng khng được quan niệm theo những điều kiện thuộc bản
thể học. Đng hơn, trong mọi trường hợp, n l một pht biểu về cơ cấu vận
hnh khả hữu của khả năng nhận thức của chng ta. Một lần nữa, do khng
nhận ra nt đặc trưng ny m rất nhiều tc giả đ gọi Thế Thn l nh duy
tm luận, đồng thời khăng khăng rằng theo cc nh thức học
(Vijānāvādin)
th thức (vijāna) l nguồn gốc (ālayavijāna) của tất cả, kể cả bảy thức
tc
dụng (pravṛttivijāna), m bn ngoi n khng c g thật sự hiện
hữu.(Ruegg,
On the Term Buddhiviparināma and the Problem of Illusory Change,
Indo-Iranian Journal II (1958): 279-280; cf. Contributions lhistoire de
la
philosophie linguistique indienne, Paris: E. de Boccard, 1959: 89-93.)
Thật ra, chnh nt đặc trưng ny đ thi thc chng ta xem xt v tm ra
nguồn
gốc thuyết của Thế Thn trong khi niệm về chuyển biến tm được đề cập
trong tc phẩm của Patajali. Cả hai đều đạt được kiến giải thm o của
mnh
từ việc nghin cứu cc vấn đề được đặt ra bởi cng dụng của ngn ngữ con
người. Cả hai đều đạt đến những kết luận như nhau, mặc d chủ v phương
php của họ khc nhau. Với Patajali, ng đ sử dụng khi niệm chuyển biến
tm để c thể thiết định luận đề từ ngữ th vĩnh hằng, trong khi với Thế
Thn
một luận đề như thế khng hề hiện hữu. ng hướng đến thuyết chuyển biến
của
thức bằng chnh định nghĩa của ng về tri nhận l g v đ l kết quả trực
tiếp
của việc ng nghin tầm luận l. Trong bất cứ trường hợp no th đ vẫn l
một
l thuyết độc đo của ng về mặt qui m cũng như những trnh by chi li
của
n.
N pht biểu rằng chuyển biến của thức chỉ l sự chuyển đổi một ấn tượng
thnh một sự tự tri về chnh n v sự tự tri về đối tượng, v cả hai cng
đưa
đến một tri thức ton vẹn c thể được định nghĩa qua ngn ngữ m n được
diễn tả. Tm lại, n l một cấu trc của ngn ngữ. Trong tiến trnh cấu
trc
ngn ngữ ny, quan niệm tự tri đng một vai tr quan trọng m khng c n
ta
khng thể no m tả sự chuyển biến đ, như đ thấy. Thật vậy, khng c n
sẽ
khng thể nhận ra nt đặc trưng no trong thuyết của Thế Thn, một thuyết
khng tm thấy nơi no khc trong số rất nhiều luận sư đ dng đến từ ngữ
chuyển biến.
Trong chương trước, ta đ thấy rằng quan niệm tự tri được đưa vo hệ thống
Thế Thn như l kết quả những nỗ lực của ng nhằm giải quyết vấn đề tri
nhận. Ở cc thời kỳ trước đ, tri nhận đ được cho l bất khả thuyết. N
chỉ l
một cảm thọ thuần ty, một kinh nghiệm nội tại khng thể chia sẻ. Cch
nghĩ
ny về tri nhận đ tạo ra nhiều vấn đề hơn l giải quyết. Ngay cả đến thời
của
Thế Thn, những vấn đề ny dường như cũng khng thể no quyết định được.
Điểm mấu chốt của vấn đề dĩ nhin l lm thế no để lin kết kinh nghiệm
tri
gic với nhận thức ngn ngữ trong đ n được hiển by. V vấn đề chủ chốt
ny
đ được Thế Thn gỡ bỏ trước tin bằng định nghĩa tri nhận khng phải như
một cảm thọ đơn thuần m l bằng vo ngn ngữ qua đ, rốt cng, n được
diễn tả như đ thấy. V rồi ng đ tiếp tục đưa ra l do tại sao một định
nghĩa
như thế phải được cần đến về mặt luận l. ng chỉ ra như một sự thật tất
yếu
rằng mọi tri nhận, tự thể tnh, đều l sự tự tri, c nghĩa l nếu ta biết
ci g đ
th khng chỉ ta biết n, m cn biết rằng ta biết n. Đy l những g về
sau
Trần Na gọi l thuyết nhận thức c dạng kp. Một khi khi niệm tự tri được
thừa
nhận như một sự thật hiển nhin th điều cn lại l minh giải n c tc
dụng
như thế no trong tiến trnh tri nhận của một người. Điều ny đ mang lại
thuyết chuyển biến ni trn của thức. Vậy, ci sinh khởi một yếu tố chủ
chốt c
tn l tự tri như thế trong đời sống thức của chng ta l g?
Để trả lời cu hỏi ny, ta nn lưu pht biểu vủa An Huệ được dẫn trước
đy.
ng ni rằng do sự xử l ton bộ cc ấn tượng thuộc cấu trc ngn ngữ như
sự vật, v.v., m cấu trc ngn ngữ sinh khởi như sự tự tri về chnh n v
như sự
tự tri về sự vật từ thức-xử-l. Như vậy, theo ng, chnh cấu trc ngn
ngữ sinh
khởi như sự tự tri sau khi đ được xử l, v chnh cấu trc ngn ngữ c
tc dụng
như một ấn tượng đang được xử l. Tm lại, tự thn sự tự tri đến lượt n
chỉ l
một cấu trc ngn ngữ. Tất nhin, một nhận xt như thế sẽ khng lm ngạc
nhin nếu luận đề tổng qut được Thế Thn pht biểu l: sự chuyển biến của
thức l một cấu trc ngn ngữ; c nghĩa l sự vận hnh của ton bộ đời
sống
thức được quyết định hon ton bởi, v phụ thuộc trọn vẹn vo, ngn ngữ,
d l
ngn ngữ ni hay ở dạng no khc. Ci lm chng ta ngạc nhin l quan niệm
cho rằng ấn tượng c thể được xem như một cấu trc ngn ngữ. Điều ny c
nghĩa g? C phải An Huệ đang cho chng ta một trần thuật về quan điểm của
Thế Thn hay đang lồng ghp quan điểm của ring ng vo vấn đề ny?
Để giải đp những nan đề ny, chng ta hy tm hiểu lm thế no v bằng
cch
no một ấn tượng c thể được xem như một cấu trc ngn ngữ. Phương cch
hiển nhin nhất l xem n như đang chỉ cho một ấn tượng ngn ngữ m ta c
thể nhận được từ một người khc. Trong trường hợp đ, dĩ nhin ấn tượng
thật
sự l một cấu trc ngn ngữ. Nếu c người ni với ti điều g đ, chắc
chắn anh
ta sẽ gy cho ti một ấn tượng ngn ngữ. Khng cn nghi ngờ g cả về điều
ny.
Tuy nhin, khi Thế Thn ni chuyển biến của thức l một cấu trc ngn
ngữ
v An Huệ diễn giải cấu trc ngn ngữ sinh khởi từ thức-xử-l như sự tự
tri về
chnh n v như sự tự tri về ấn tượng do sự xử l trọn vẹn ấn tượng thuộc
cấu
trc ngn ngữ như ng v php, v.v., th ấn tượng được ni đến ở đy
khng
cn tự giới hạn trong ấn tượng ngn ngữ được tạo ra bởi lời lẽ của người
khc
khi m những lời lẽ ny được thốt ra trong một số tnh huống đặc biệt. Bởi
v sự
chuyển biến của thức được cho l c ba loại như đ ni v khng chỉ bao
gồm
sự nhn, sự nghe, m cn cả xc chạm, suy nghĩ, nếm, v.v, v những tri
gic
ny chắc chắn khng bao gồm bất kỳ ấn tượng ngn ngữ c thật no nhận được
từ bn ngoi, d l ngn ngữ ni hay cc dạng khc. Vậy, lm thế no ta c
thể
ni rằng chuyển biến của thức l một cấu trc ngn ngữ? Lm thế no cc ấn
tượng c thể được xử l bởi cấu trc ngn ngữ để được xem l ấn tượng ngn
ngữ?
Trả lời cu hỏi ny, Thế Thn đề nghị giải php sau. ng lập luận rằng mặc
d
chuyển biến của thức l một cấu trc ngn ngữ, n chỉ c thể tiếp diễn qua
sự
tc động hỗ tương. Tc động hỗ tương ny l g? An Huệ trả lời:
Bằng tc động hỗ tương, điều ny c nghĩa khi sự vận hnh của việc xử l
cc
ấn tượng ring của n hon tất th thức của mắt, v.v., l hiện hnh của sự
chuyển biến của thức-xử-l khi ấn tượng của n đạt đến điểm quyết định. V
sự
chuyển biến của thức-xử-l đ l một hiện hnh của thức của mắt, v.v. Như
vậy,
qua tc động hỗ tương của chng khi cả hai vẫn đang cn tc dụng th một
cấu
trc ngn ngữ như thế v như thế của nhiều loại sẽ sinh khởi từ thức-xử-l
m
khng c xen vo bất cứ vật g khc (Sthiramati, Triṃśikābhāṣya, p 36.).
V thế, theo ng, nếu tiến trnh chuyển biến vận hnh qua sự tc động hỗ
tương
th chnh tc động hỗ tương giữa thức-xử-l v thức-tri-nhận l điều Thế
Thn
muốn ni đến ở đy chứ khng phải điều g khc. Dĩ nhin, đy l một diễn
dịch
hon ton thng thường của từ ny. Tuy nhin, đy khng nhất thiết phải l
diễn dịch duy nhất c thể c về từ ny nhất l khi nhn từ trường hợp n
được
sử dụng. Tam Thập Tụng ni:
Chuyển biến của thức l một cấu trc ngn ngữ; những g được n cấu trc
bằng ngn ngữ th khng hiện hữu; v vậy, bất cứ ci g hiện hữu chỉ l
ci khiến
ta biết. V thức c mọi chủng tử, sự chuyển biến của n tiếp diễn theo
những
cch như thế v như thế qua sự tc động hỗ tương để cho cấu trc ngn ngữ
như thế v như thế được tạo ra. Khi sự xử l trước đ hon tất, ấn tượng
của
hnh động cng với cc ấn tượng của nhận thức c dạng kp tạo ra một xử l
khc với xử l trước (Triṃśikā 17-18.).
Những g được ni ở đy qu hiển nhin. D chuyển biến của thức vận hnh
qua
sự tc động hỗ tương để cho một cấu trc ngn ngữ c thể xảy ra, nhưng tc
động hỗ tương ny khng nhất thiết chỉ cho tc động hỗ tương giữa
thức-xử-l
v thức-tri-nhận. Cả hai phải ty thuộc vo ấn tượng của hnh động v
cc
ấn tượng của nhận thức c dạng kp th trước tin mới c tc dụng. Chnh
sự
ty thuộc vo cc ấn tượng ny tạo thnh ci gọi l cc chủng tử của
thức-xử-l, ci đ đặt ra vấn đề tc động hỗ tương giữa thức-xử-l v
thức-tri-nhận trong dạng r rng nhất của n. Chắc chắn, thức-xử-l c thể
tc
động đến thức-tri-nhận v chnh n xử l một ấn tượng thnh một tri nhận
nhờ
vo sự chuyển biến. Nhưng thức-tri-nhận chỉ c thể tc động đến thức-xử-l
khi
được cung cấp cc ấn tượng, v khng c g khc. Chnh cc ấn tượng ny,
hoặc khởi từ hnh động của chng ta hoặc từ dạng kp của nhận thức, tc
động
trực tiếp đến vận động tiếp theo của tiến trnh. V thế, chnh tc động hỗ
tương
giữa cc ấn tượng quyết định sự chuyển ha của thức hơn l tc động giữa
thức-xử-l v thức-tri-nhận, như An Huệ đ chủ trương. Nếu đng như vậy,
kết
luận hiển nhin phải l khng những cc ấn tượng tc động lẫn nhau m thức
của mỗi c thể cũng thế. Bởi v nếu ton bộ đời sống của một thức l một
cấu
trc ngn ngữ v tự thn cấu trc ngn ngữ lại ty thuộc phần lớn vo tiến
trnh
nhận biết, th tc động của cc thức khc ln thức của chnh chng ta phải
xảy
ra.
Nay ta khng biết Thế Thn c thật sự biết đến cc hậu quả tai hại, đặc
biệt
trong lnh vực hoạt động tri thức, đối với những người đ bị mất đi, ngay
trong
thời thơ ấu của họ, những kch hoạt tnh cảm v tri thức chủ yếu đến từ
những
người khc hay khng. Thế nhưng, chng ta biết rằng trong cc trường hợp
đ,
cc kết quả tai hại thật sự xảy ra, v đi khi lm họ bị tổn thương. V
thế, khi
định nghĩa chuyển biến của thức như một cấu trc ngn ngữ, ta dứt khot
phải
thừa nhận rằng thức của ta c thể bị tc động dễ dng bởi thức của người
khc
v ngược lại. Khi niệm tc động hỗ tương được Thế Thn ni đến trước đy
v
thế cũng nn được xem như c hm đến giả định vừa ni.
Một diễn dịch như thế về khi niệm tc động hỗ tương chắc chắn khng phải
l
điều mới lạ đng ngạc nhin. Thật vậy, ta cn c thể tm thấy điều đ hm
chứa
trong quan điểm trn của An Huệ về chnh sự chuyển biến của thức. Khi ng
ni, do sự xử l ton bộ cc ấn tượng của cấu trc ngn ngữ như ng,
v.v., v
do sự xử l ton bộ cc ấn tượng của cấu trc ngn ngữ như php, v.v., m
cấu
trc ngn ngữ sinh khởi từ thức-xử-l như sự tự tri về chnh n v như sự
tự tri
về ấn tượng, th rất r rng l ng đ cẩn thận nhắc đến hai lần cc ấn
tượng
ny l cc ấn tượng của cấu trc ngn ngữ. C nghĩa l ngay trước khi
hiện
khởi như một sự tự tri th ấn tượng đ được mặc nhin thừa nhận l một cấu
trc ngn ngữ. Một quan niệm như thế cn dễ thấy hơn trong luận giải của
Php Hộ. Sau khi ni rằng tc động hỗ tương l tc động giữa tm
thức-hiện-hnh v cc phần thấy v được thấy km theo của chng, bởi v
chng c năng lực tc động lẫn nhau, ng tiếp tục kể ra bốn điều kiện lm
nhn gip hiểu r về tc động hỗ tương ny. ng ni:
Như thế, bốn điều kiện lm nhn ny nương vo mười lăm xứ. Do sự sai biệt
khch quan giữa cc xứ ny nn phải lập thnh mười điều kiện lm nhn.
Vậy,
mười lăm xứ lm chỗ nương tựa đ l g? Thứ nhất l xứ nương tựa của ngn
ngữ, tức sự thật thuộc về ngn ngữ: một tưởng sinh khởi khi một vật được
đặt
tn. C nghĩa rằng nếu ta nương vo xứ ny th ta lập thnh điều kiện lm
nhn
ph hợp với những g được ni, bởi v dựa vo chỗ nương tựa đ, ngn ngữ
m
tả được cc đối tượng ph hợp với những g ta thấy v nghe. Đy l ci
được gọi
l sự ni ra l nhn của ci được ni ra. C luận thư ni đ l quan niệm
xem
tn gọi l tưởng, bởi v giống như nương vo chữ để ni ra một cch đng
đắn
những g ta nắm bắt. Nếu nương vo quan niệm ny th hon ton hiển nhin
rằng điều kiện lm nhn chnh l xứ nương tựa của ngn ngữ.(Dharmapāla,
Vijaptimātratāsiddhi, Taishō 1585 n 40a1-43a8:
由 一 切 種 識 如 是 如 是 變
以 展 轉 力 故 彼 彼 分 别 生
論 曰 。 。 。 展 轉 力 者 謂 八 現 識 及 彼 相 應 相 見 分 等。 彼 皆 互 有 相
助 力 故 。 即 現 識 等 總 名 分 别。 虚 妄 分 别 為 自 性 故。 分 别 類 多 故
言 彼 彼。 此 頌 意 説 , 雖 無 外 緣 , 由 本 識 中 有 一 切 種 轉 變 差 别 及
以 現 行 八 種 識 等 展 轉 力 故, 彼 彼 分 别 而 亦 得 生。 何 假 外 緣 方 起
分 别。 諸 淨 法 起 應 知 亦 然。 淨 種 現 行 為 緣 生 故。 所 説 種 現 緣 生
分 别。 云 何 應 知 此 緣 生 相。 緣 且 有 四。 一 因 緣 。 。 。 二 等 無 間
緣 。 。 。 三 所 緣 緣 。 。 。 四 増 上 緣 。 。 。 如 是 四 緣 依 十 五 處 義
差 别 故 立 為 十 因。 云 何 此 依 十 五 處 立。 一 語 依 處, 謂 法 名 想 所
起 語 性。 即 依 此 處 立 隨 説 因。 謂 依 此 語 隨 見 聞 等 説 諸 義 故。 此
即 能 説 為 所 説 因。 有 論 説 此 是 名 想 見。 由 如 名 字 取 相 執 著 隨 起
説 故。 若 依 彼 説 便 顯 此 因 是 語 依 處 。 。 。
)
Đọc hết đoạn trn, ta c thể thấy ngay rằng đối với Php Hộ, một chữ c
thể
được xem như một tưởng bất cứ khi no n sinh khởi một tưởng, tức bất
cứ
khi no sự ni ra l những g được ni ra. Ni cch khc, nếu ti ni tờ
giấy
ny trắng th lời ni ny c thể đng hoặc sai. Nếu thật sự tờ giấy l
trắng th
lời ni của ti tờ giấy ny trắng chnh xc l ci được ni ra. L
thuyết th vị về
sự thật ny của Php Hộ lm chng ta nhớ đến thuyết của Frege về sự thật
l
sự tương đương trong cố gắng của ng nhằm ph phn quan niệm sự thật l sự
ph hợp vo thời Trung cổ. (Frege, Der Gedanke: Eine Logische
Untersuchung, Beitrge zur Philosophie des Deutschen Idealismus I
(1918-1919): 58-77.) Tuy nhin chng ta khng cần thiết biện luận về tư
tưởng
của Php Hộ ở đy. Điều lm cho chng ta hứng th l việc ng nối kết
thuyết
đ với những g ta thấy v nghe, c nghĩa l sự thật c thể được tm kiếm
khng
chỉ nhờ thấy, m cn nhờ nghe. Như vậy, khi thuyết minh thuyết về sự thật
trong phạm vi của khi niệm tc động hỗ tương, Php Hộ chỉ r quan điểm
của
ng l tc động hỗ tương khng những l tc động giữa nhiều tiến trnh
chuyển
biến khc nhau của thức m cn l tc động giữa nhiều thức khc nhau.
Cần lưu một lần nữa l sự diễn dịch ny về khi niệm tc động hỗ tương
khng phải khng được biết đến trong cc tc phẩm của Thế Thn. Thật ra,
nếu An Huệ khng cng nhin thừa nhận điều đ, ta vẫn c thể ni rằng Php
Hộ đ rt ra quan điểm của ng từ chnh cc tc phẩm ny. Chẳng hạn, trong
Nhị Thập Tụng, Thế Thn đ đặt ra v giải quyết vấn đề tc động hỗ tương
qua
cc lời lẽ sau:
Nếu chnh sự chuyển biến của dng chảy của chnh n, khi đạt đến giai đoạn
quyết định, sinh khởi sự tự tri về một đối tượng như l ci khiến ta biết,
v nếu
khng phải chnh đối tượng, khi đạt đến giai đoạn quyết định của n, đ
lm vậy
đối với chng sinh, th lm sao ta c thể chứng thực rằng đối với chng
sinh,
việc quan hệ x hội với bạn b tốt hoặc xấu, hay việc lắng nghe cc gio
thuyết
tốt hoặc xấu nhất định quyết định đến ci khiến ta biết, v trong cả hai
trường
hợp khng c quan hệ x hội tốt hay xấu cũng khng c gio thuyết tốt hay
xấu?
Đ l do một tc động hỗ tương m những g khiến ta biết th được quyết
định
một cch hỗ tương.
Đ l do tc động hỗ tương của những g khiến ta biết m những g khiến ta
biết được quyết định một cch hỗ tương ty theo cc trường hợp dnh cho
mọi
chng sinh. Hỗ tương c nghĩa l ci ny ln ci kia. Như vậy, chnh do
ci
khiến ta biết được cho trong một dng thức ring biệt sinh khởi ci khiến
ta biết
trong một dng thức ring biệt khc, v điều ny xảy ra m khng c bất kỳ
đối
tượng ring biệt no cả.(Viṃśatikā ad 181-b)
Vậy th r rng, ni rằng chnh do ci khiến ta biết được cho trong một
dng
thức ring biệt sinh khởi ci khiến ta biết trong một dng thức ring biệt
khc
cũng c nghĩa l trong sự chuyển biến của thức, khng chỉ c nhiều tiến
trnh
chuyển biến khc nhau tc động lẫn nhau m nhiều thức khc nhau cũng tc
động như thế. Dĩ nhin điều ny khng c g kinh ngạc, v điều đơn giản l
mỗi
người phải học ngn ngữ của mẹ mnh, ở dạng ni hay ở cc dạng khc, để c
thể thnh cng trong việc pht triển khả năng tri thức v cc khả năng
khc
trong cuộc sống sau ny. Điều lm kinh ngạc l quan niệm trn cn hm
rằng
sự chuyển biến của thức c thể được kch khởi bởi tc động của sự chuyển
biến
của một thức khc, v v thế sự tự tri, vốn đng vai tr khng thể thiếu
trong sự
chuyển biến đ, thật sự sinh khởi do sự tương tc giữa nhiều thức khc
nhau.
Ni cch khc, tự tri l một sản phẩm của đời sống x hội trong một cộng
đồng
ngn ngữ được cho. Quan niệm ny mới lạ đến độ kinh ngạc bởi v lần đầu
tin
n cho chng ta một giải thch trọn vẹn tại sao v lm thế no thức con
người
lại hoạt dụng theo cch v theo kiểu như chng ta biết. Cũng l lần đầu
tin n
giả định rằng để cho một thức c tc dụng th hai yu cầu cơ bản phải được
đp
ứng, đ l ngn ngữ v đời sống x hội. Giả định ny đng hay sai th
chng ta
phải cần nhiều chứng cứ hơn để quyết định. Thế nhưng, khng cn cht nghi
ngờ no nữa để thừa nhận l n mới lạ đến kinh ngạc, ngay cả khi xt đến
cc
nghin cứu ngy nay về vấn đề ny.
Tất nhin, khng phải Thế Thn khng biết đến vai tr của hnh động của
con
người trong tiến trnh chuyển biến của một thức v trong sự sinh khởi sự
tự tri
trong tiến trnh đ. Trong trch dẫn trn từ Tam Thập Tụng, chng ta đ
thấy
ng nhấn mạnh đến vai tr của hnh động con người qua cu ni khi sự xử
l
trước đ hon tất, th cc ấn tượng của hnh động cng với cc ấn tượng
của
nhận thức dạng kp tạo ra một sự xử l khc với sự xử l trước đ. Ni
cch
khc, chnh cc ấn tượng nhận được qua nhiều hnh động khc nhau của một
người đ khởi đầu v tn tạo tiến trnh lin tục của sự chuyển biến m
thức trải
qua. Hoặc đơn giản hơn, chnh những hnh động của con người được biểu hiện
qua sự lm việc hay cc phương diện khc đ kch khởi tiến trnh chuyển
biến
của thức con người trước tin. Chng l nội dung chủ đạo (leit-motif)
duy tr
tiến trnh đ m khng phải ci g khc. Tuy nhin, để cho tiến trnh đ
vận
hnh, hai yu cầu cơ bản ni trn phải được lm trn. Tm lại, ta c thể
ni
rằng đối với Thế Thn chuyển biến l một cấu trc ngn ngữ chỉ chừng no
n
l một nỗ lực lin kết của hnh động con người, của ngn ngữ con người v
đời
sống x hội con người. V đy c lẽ l những g được diễn tả bởi khi niệm
tc
động hỗ tương trong pht biểu trước đy: sự chuyển biến của thức tiếp
diễn
theo những cch như thế v như thế thng qua tc động hỗ tương để cho cấu
trc ngn ngữ như thế v như thế được tạo ra.
Với chnh quan điểm ny trong đầu m chng ti đ dịch từ vipāka l xử
l
(processing) thay cho những g thường được chuyển ngữ l hon bo
(retributory), như một điều rất hiển nhin từ những g đ ni. Cch dịch
sau,
đối với chng ti, hnh như khng bảo đảm mặc d chnh xc về mặt ngữ
nguyn học, bởi v nếu chuyển biến của thức l một cấu trc ngn ngữ th
khng
c g trong chuyển biến đ được xem l hon bo hay tch chứa (store).
Hơn
nữa, vipāka c nghĩa l chn (ripening), hiển thị một tiến trnh qua đ
một sự
vật tự chuyển từ một trạng thi ny sang một trạng thi khc. V v chuyển
biến
của thức l một cấu trc ngn ngữ cho nn sự chn của một ấn tượng ngn
ngữ khng thể được chuyển ngữ thnh từ no hay hơn từ xử l, nhất l khi
từ
ny được hiểu theo cch dng hiện nay trong khoa học thng tin.
Về chữ tch chứa, n l một chuyển ngữ đng chỉ khi no nguyn gốc Phạn
văn của n được viết l ālaya. Tuy nhin, ālaya khng phải l nguyn gốc
Phạn
văn độc nhất. Từ thời Chn Đế, chng ta biết rằng n c thể viết l alaya,
c
nghĩa l khng để mất, khng bị chm. Như vậy, trong cch đọc ny,
khng
c g bảo đảm việc dịch n l tch chứa ( Lvi, La notation de
trfonds, trong
Matriaux pour ltude du systme vijaptimātra: 125-173; Lamotte,
LĀlayavijāna (le Rceptacle) dans la Mahāyānasaṃgraha (Chapitre II), MCB
III (1934-1935): 169-255; cf. de La Valle Poussin, Note sur
LĀlayavijāna,
MCB III (1934-35): 145-168.), bất kể l cc thủ bản Tam Thập Tụng được
khm ph ngy nay đọc n như thế no, v chng c thể chỉ đại biểu cho một
trong nhiều cch đọc khc nhau. Tuy nhin, l ālaya hay alaya, th nghĩa
của
n vẫn rất r rng chừng no hnh dung từ của n l vipāka vẫn cn được
dng đến. N c nghĩa l khi một ấn tượng ở trong tiến trnh xử l th n
ở đ,
khng bị mất, tức n được tch chứa ở đ m khng bị mất. V thế, d n c
nghĩa l tch chứa hay khng bị mất th n vẫn tạo cho hnh dung từ
của n
một thuộc tnh hon ton c nghĩa. Kết quả, chng ta nghĩ rằng ci gọi
l thức
hon bo hay tch chứa chỉ l một thức xử l theo nghĩa đầy đủ nhất
của n.
V lẽ đ, chng ti đ dịch n theo cch như thế.
Nếu thức con người được quan niệm l một thức xử l, chủ yếu nhằm xử l
nhiều thng tin khc nhau được cho trong một dạng thuộc ngn ngữ, th cu
hỏi
đặt ra l lm thế no những thng tin ngn ngữ ny được lin kết với những
sự
vật m chng được dự định thng bo. Ni cch khc, nếu chuyển biến của
thức
l một cấu trc ngn ngữ v ci được cấu trc theo ngn ngữ bởi cấu trc
ngn
ngữ đ khng hiện hữu th lm thế no ci phi hữu được cấu trc theo ngn
ngữ ny c thể lin kết với ngoại vật để cho chng ta c thể ni rằng
tất cả
bất cứ ci g hiện hữu chỉ l ci khiến ta biết hay c thể định nghĩa tri
nhận qua
ngn ngữ m n được diễn tả? Đy l vấn đề chng ta sẽ bn đến ở chương
sau.
Dịch Việt: Đạo Sinh |