www.todinhlinhson.com

gp nhặt

 

Thch Tuệ Sỹ
Huyền Thoại Duy Ma Cật

những gi trị phổ qut của Bồ Tt hạnh (I)

(phần II)

(phần III)

Nhn đọc Triết Học Thế Thn bản dịch Việt
Về những minh họa từ Thiền Uyển Tập Anh
Buddhist Foundation of Economics

L Mạnh Tht

Triết Học Thế Thn (phần I)
(phần II)
(phần III)

(phần IV)

(phần V)

(Về Tự Trị - 1)
(Về Tự Trị - 2)
(Về Tự Trị - 3)
Một Số Nhận Xt Cuối Cng
Ngn Ngữ về Những G Hiện Hữu

Emperor Nhn Tng and the War of Defense

And The Trc Lm School

Thch Phước An

nh thơ của Am My Trắng ở Thế Kỷ XVIII c bi bc Phật Gio Khng?

Ton Nhật thiền sư..

Ton Nhật thiền sư (tt)

Thch Thi Ha

Giới thiệu phẩm vua Diệu Trang Nghim - Kinh Php Hoa

Bồ Tt Qun Thế m - Phẩm Phổ Mn Kinh Php Hoa

Lịch Sử Pht Triển Phật Gio Đại Thừa Bồ Tt Giới

Giới thiệu Phật Gio Đại Thừa Bồ Tt Giới Phần(1)

Phần (2)

phần (3)

giới thiệu phẩm Bồ Tt Phổ Hiền khuyến pht trong kinh Php Hoa

Hồng Dương

Lưới Tương Giao (1)

Lưới Tương Giao (2)

Lưới Tương Giao (3)

Lưới Tương Giao (4)

Đốn Ngộ Tiệm Tu

Tn L Trung Đạo

Tn v chứng trong kinh Hoa Nghim

Phn Biệt, Ngn Ngữ v Tu chứng

E Conze

V Vi v Tiến Trnh Giải Thot

Một số vấn đề trong ABHIDHARMA

 

NHỮNG GI TRỊ PHỔ QUT CỦA BỒ TT HẠNH
THCH TUỆ SỸ

I. L TƯỞNG V HIỆN THỰC

Khi nh triết học khm ph ra quy luật biện chứng, hnh ảnh thế giới thay đổi.
Trước khi học triết học, rồi tư duy trn cơ sở những g được lưu truyền qua cc thế hệ triết gia, nh triết học cũng như mọi sinh vật khc bị nm vo một thế gới được biết l đ tồn tại từ một khởi điểm thời gian no đ, hay khng từ một khởi điểm no cả. Thế giới ấy lun lun biến động. Cho đến một lc, trong ng, v cũng l trong một kỹ nguyn nhất định của tư duy, một kht vọng thc đẩy cng lc cng si nổi. Kht vọng vĩnh cửu. Như một đứa trẻ khi biết rằng sau số một l số hai, v cứ thế con số lớn dần, n bắt đầu đi tm sự tồn tại của con số v hạn. Cũng vậy, nh triết học, trong qu trnh tư duy, cho đến một lc, nhận thức đằng sau những hiện tượng biến thin bất định của thế giới tồn tại một thế giới vĩnh cửu. C khi ng gọi đ l thế giới niệm. C khi ng gọi đ l Hữu thể, hay Tuyệt đối thể.

Thế nhưng, một phi l kỳ dị lun lun sẵn sng lm sụp đổ mọi cng trnh tư duy, d đ l cng trnh được gầy dựng qua nhiều thế kỷ. ng tưởng mnh đ nắm được niệm như l l tnh bất biến. Nhưng ci niệm tuyệt đối v bất biến ấy ko theo n một tập hợp cc niệm, như một đống hạt c-xoa (c-xoa tụ 惡叉聚. Skt, aksa/ rudrāksa: hạt kim cang. Thnh duy thức luận thuật k (T43n1830, tr. 304b22): c-xoa, giống như hạt v thực 無食子, khi rụng th gom thnh đống. ) dnh chm nhau. niệm tam gic trong thế giới của l tnh khng tuyệt đối đơn nhất, m l tập hợp của những điểm, đoạn, gc. Mỗi niệm l tập hợp của những niệm. Cho đến khi no niệm ấy l một Nhất thể tuyệt đối, khng l tập hợp của cc niệm khc nữa, bấy giờ ci niệm tối hậu ấy bỗng nhin biến mất. Chừng no triết gia cn chim nghiệm thế giới của cc niệm trong tnh thể tĩnh tại, bấy giờ niệm, d l tập hợp của cc tập hợp con, vẫn được nhận thức như l tồn tại bất biến. Nhưng khi triết gia nhn n trong thế giới vận động khng ngừng, niệm ấy tức th tan r, sụp đổ. Song, ngoi thế giới biến dịch v thường ấy, khng tồn tại thế giới tĩnh tại, thường hằng no khc để lm căn cứ cho nhận thức pht khởi.

Như vậy, sau khi khm ph quy luật biện chứng, triết gia cũng khm ph tnh hiện tượng của tồn tại. Nghĩa l, thức, như l chủ thể của nhận thức, khng hề l thực thể độc lập v biệt lập ngoi đối tượng của n. Thức tồn tại với yếu tnh l vươn đến đối tượng của n. Vả, ci g khng hiện thực, ci đ khng c tc dụng. Cho nn, đối tượng của thức l thế giới biến dịch, vận động. Thăng hoa những g tồn tại trong biến dịch thnh thế giới thường hằng, đ l bản chất của tr phn biệt, n nối những đốm lửa quay lin tục thnh một vng lửa. Khng c thực tại thường hằng no đằng sau hay bn dưới thực tại biến dịch, khng ngừng vận động.

Vận động; ci đang tồn tại lun l ci đang trở thnh. Tất nhin khng phải biến dịch để trở thnh ci khc, tự thể trở thnh tha thể. Sự trở thnh ci khc l ngoại hiện. N trở thnh chnh n, để như l chnh n. Nhưng n khng tồn tại như một tự ng bất biến. Vậy, n l g? Chỉ c thể ni, n khng l n, hay khng l g cả, cho nn n chnh l n. Cch trả lời thm thiết nhất l sự im lặng. Chng ta đ thấy sự im lặng của Duy-ma-cật như l đỉnh cao của qu trnh đi tm tuyệt đối thể, đi tm ci bất nhị, khng hai: khng phải n, cũng khng phải khng l n, nhưng chnh l n.

Từ chỗ im lặng đ, một cu hỏi c vẻ ngớ ngẩn được hỏi: sau sự im lặng ấy l g? Nghĩa l, thế giới của sự im lặng ấy l g, khi m ở đ mọi biểu hiện của ngn ngữ bị cắt đứt, mọi hnh thi tư duy đều vắng bặt? Tất nhin l khng c cu trả lời minh nhin. Nhưng chng ta c thể hiểu được rằng đ l thế giới để sống. Như một người trầm mnh trong dng nước mt, để cho ton thn được thấm nhuần cảm gic mt mẻ vi diệu, khi ấy khng cn cu hỏi nước l g? Cũng vậy, sau sự im lặng của Duy-ma-cật, thế giới đột nhin trở lại với những sinh hoạt nhật thường của chng sinh.

Bậc Thnh giả đặt ci thế giới bất nhị ấy vo ngay trong sinh hoạt thường nhật khng phải l Duy-ma-cật, khng phải l Văn-th, m lại l X-lợi-phất. Khi m Duy-ma-cật im lặng, Văn-th tuyn dương v năm nghn Bồ tt bước vo cửa php bất nhị, liền ngay khi ấy X-lợi-phất tự hỏi: Sắp đến giờ ăn, cc Bồ tt ny sẽ ăn ở đu đy? Ngi khng hỏi cc Thanh văn, m hỏi cc Bồ tt, những vị vừa thm nhập thế giới Tuyệt đối bất nhị (Chỗ ny Huyền Trang dịch khc với La-thập: Sắp đến giờ ăn. Cc vị Ma-ha-tt ny thuyết php m chưa đứng dậy, Thanh văn chng ta cng cc Bồ tt sẽ ăn ở đu. La-thập dịch st với Phạn bản hơn: kālah paryantībhūtah/ ime ca mahāsattvā nittihanti kutraite paribhoksyante, thời gian sắp hết rồi, m cc vị Ma-h-tt ny khng đứng dậy. Họ sẽ ăn ở đu. ) Cc nh ch giải nhận thức nghĩa vi diệu trong sự im lặng của Duy-ma-cật v tuyn dương của Văn-th m liệt nghĩa của X-lợi-phất vo hạng căn cơ thấp km. (Duy-ma kinh ch 8 (tr. 399c): La-thập ni, độc nhất X-lợi-phất c nghĩ ny v ba l do. Một, thể do nghiệp kết thnh cần được nui dưỡng. Hai, tư tưởng đoạn tuyệt với cảnh giới quảng đại, tm hướng đến php khng su. Ba, suy từ những g mnh cần m cho rằng người khc cũng vậy.) Nhưng ở đy chng ta nn nhn vấn đề từ một gc độ khc. Trong qu trnh kiến thiết ci Phật thanh tịnh, Bồ tt tự trang bị cho mnh một căn bản tư tưởng để hnh đạo. Căn bản ấy l php mn bất nhị, m nghĩa tinh yếu của n l, thế giới của chng sinh l tịnh độ của Phật. V uế v tịnh khng l hai thực tại ring biệt. Như Thin nữ ni: Tham dục, th hận, v ngu si, chnh l giải thot. Tất nhin, đấy l nhận thức thuần l. Vậy, phải bắt đầu từ đu để thể hiện tư duy thuần l ấy ngay trong sinh hoạt thường nhật? Cu hỏi của X-lợi-phất ko tư duy thuần l đang c cơ trở thnh khng tưởng trở về với thực tế thường nhật.

Sinh hoạt thường nhật ở đy trước hết phải ni đến sự ăn. Phật ni, Tất cả chng sinh đều tồn tại bởi thức ăn. (Tập dị 8, tr. 400b02. Sangīti, D.iii. 211, 228: sabbe sattā āhāratthitikā.) Vậy, khi Bồ tt hnh đạo gio dưỡng cc hữu tnh để cho thnh tựu cc thiện căn, trước tất cả tất nhin l sự cung cấp cc loại thực phẩm để cc chng sinh tồn tại. Bởi v sự nghiệp của Bồ tt l tịnh Phật quốc độ, thnh tựu chng sinh. Bằng l tưởng tịnh Phật quốc độ, Bồ tt hnh đạo cho một thế giới an bnh, với tất cả điều kiện thuận tiện để khuyến khch ch hướng thượng, khch lệ tinh thần cầu học V thượng đạo. Đ hẵn l một thế giới m thin nhin khng đy đọa cc sinh loại, khng tng ẩn cc tại họa hay thảm họa bất ngờ. Ở đ thin nhin sẵn sng cung cấp vật thực để chng sinh duy tr sự sống, pht triển cc quan năng; l những điều kiện cơ bản cho cc tu tập thiền định. Trong bốn loại thức ăn m Phật ni, đy l loại thức ăn thứ nhất, đoạn thực.

Ni tm lại, để cung cấp đoạn thực cho chng sinh, Bồ tt xy dựng cc cơ sở kinh tế, bao gồm cả việc xy dựng cầu đ, đường x. Đy l phần ti th v v y th trong ba loại bố th ba-la-mật của Bồ tt.

Ngoi đon thực, chng sinh cũng cần được nui dưỡng bằng sự xc chạm. Mắt cần nhn sắc; tai cần nghe tiếng. Nếu khng được tiếp xc với cảnh, căn sẽ thoi ha.(Tỳ-b-sa, 129, T27n1545, tr. 674a1: thức ăn trưởng dưỡng cc căn, tăng ch cc đại chủng. ) Nhưng nếu tiếp xc với cc cảnh đưa đến khổ thọ, tức những gic xung đột, khng như , căn sẽ bị tổn hại. Nếu thường xuyn nghe m thanh cht cha, tai c nguy cơ điếc. Cc căn tổn hại, khuyết tật, cc đối tượng để tu tập thiền định do đ khng được tiếp nhận r rng sẽ gy nhiễu loạn tm tr. Cho nn, Bồ tt xy dựng tịnh độ với thin nhin ưu đi, cho đến tiếng chim ht, tiếng gi thổi, cng cc loại hoa, hương, thảy đều thuận tiện cho sự tu tập thiền định. Ni theo ngn ngữ thng tục, tịnh độ của Bồ tt, trong điều kiện tốt đẹp của xc thực, l mi trường mỹ cảm, một thin nhin đầy cảm hứng nghệ thuật. Tất nhin n khng đưa đn thc loạn, m dẫn đến trạng thi tập trung tư duy thiền định, để lm nền tảng cho sự pht triển tr tuệ, qun st yếu tnh chn thật của tồn tại.

Loại thực phẩm thứ ba, tư thực, hay tư niệm thực. Thức ăn để duy tr sự sống l hy vọng. Một đm người bị đắm thuyền, chơi vơi giữa đại dương bao la, nhn thấy đằng xa đống bọt nước m tưởng l đất liền, họ cố bơi đến. Khi đến nơi, thấy r đấy chỉ l đống bọt nước, mất hy vọng, họ đuối sức, bung thả cho chm lĩm, v chết đuối. Bồ tt nui sống cc chng sinh trong ci tịnh độ của mnh bằng ch hướng thượng, bằng tm bồ đề kin cố.

Sau hết, thức thực, l thức ăn cho dng tương tục tồn tại từ đời ny sang đời khc (Tạp a-hm 15, kinh 272: Phật bảo Phả-cầu-na (Pali Phagguna): Ở đy Ta ni thức l thức ăn, vậy ngươi nn hỏi như vầy: Do nhn duyn g m c thức ăn l thức? Ta sẽ đp: Thức ăn l thức, c thể chiu cảm hữu trong vị lai khiến cho n tiếp tục sanh; do c hữu nn c su nhập xứ; do su nhập xứ lm duyn nn c xc. Pali, S. ii tr.13 Phagguna: viānāhāro āyatim punabbhavābhinibbattiyā paccayo, tasmim bhūte sati sa!āyatanam, sa!āyatanapaccayā phasso ti.) Bởi v tịnh độ của Bồ tt l thế giới tồn tại của chng sinh, khng phải dnh ring cho cc Thnh giả. Cc chng sinh trong đ chết rồi ti sinh, lưu chuyển khng ngừng. Bồ tt hướng dng tương tục ấy đến Đại Niết-bn.

Với hai loại thực phẩm trước, Bồ tt thực hnh bố th ba-la-mật với ti th v v y th. Với hai loại thực phẩm sau, Bồ tt thực hnh php th. Ni cch khc, theo ngn ngữ thng tục, với hai loại thực phẩm trước, tịnh độ Bồ tt l thế giới tự nhin hi ha, m sng, ni khng l chướng ngại; đ sỏi, gai, thp cc thứ khng trở thnh cng cụ trừng phạt, khng trở thnh vũ kh để tn st. Với hai loại thực phẩm sau, tịnh độ của Bồ tt l mi trường x hội an bnh, đạo đức, thuận tiện cho những pht triển tinh thần.

By giờ chng ta quay trở lại phương trượng của Duy-ma-cật. Giả sử trong lc cc bậc đại tr giả đang thảo luận cc đề ti đạo l cao siu, khi ấy chợt c một người ni đến chuyện ăn uống, người ấy tất bị xem thường. Song, chng ta cũng biết rằng kinh Kim cang Bt nh được thuyết sau khi Phật v cc Tỳ kheo đi khất thực v ăn xong như mọi ngy. Nhn từ nội dung của Kim cang, tư tưởng Đại thừa khng thể l những mạn đm khng tưởng. Tất cả bắt đầu từ thực tế sinh hoạt thường nhật. Cho nn, ở đy, nghĩ của X-lợi-phất lại mở ra một thế giới khc, thực tế v sinh động.

Duy-ma-cật trả lời cho nghĩ của X-lợi-phất: Phật dạy tm giải thot. Nhn giả đ thọ hnh. H cn lẫn lộn giữa sự muốn ăn v nghe php sao? Tm giải thot, bắt đầu bằng sự siu việt Dục giới, khng cn cần thiết đến đoạn thực. Cho đến cuối cng, diệt tận định, ở đ vượt qua cả ba giới, khng cn tồn tại bất cứ loại thức ăn mang tnh hữu lậu no nữa. X-lợi-phất l vị Thanh văn bậc nhất trong cc vị chứng diệt tận định. Đối với Ngi, cc thức ăn hữu lậu khng cn cần thiết. Vả lại, nghĩ của X-lợi-phất chỉ nhắm đến đoạn thực, loại thực phẩm chỉ tồn tại trong Dục giới. (Tỳ-b-sa, 130, T27n1545, tr. 676a20: Dục giới c đủ cả 4 loại thực phẩm m chnh yếu l đoạn thực. Sắc giới c ba, trong đ xc thực l chnh. V sắc giới cũng c ba m ba bậc dưới tư thực l chnh; phi tưởng phi phi tưởng xứ, thức thực l chnh.) Cc Thnh giả từ A-na-hm trở ln v sẽ khng ti sinh Dục giới nữa, nn loại thực phẩm ny khng cn cần thiết. Đối vi cc Thanh văn, Phật dạy qun st bốn loại thức ăn ny để thot ly chng v như thế để chấm dứt khổ: C bốn loại thức ăn gip ch chng sinh, khiến được nui lớn v sống cn ở đời, đ l: một đon thực, hai l xc thực, ba l tư thực, bốn l thức thực. Nếu cc Tỳ-kheo no đối với bốn loại thức ăn ny m c tham, c hỷ, th ắt phải c ưu bi, c trần cấu. Nếu đối với bốn loại thức ăn ny m khng tham, khng hỷ, th ắt khng c ưu bi, cũng khng c trần cấu. ( Tạp A-hm 15, kinh 375; xem thm cc kinh 372-379. Cf. Pal: S. ii. tr. 103 (Atthirrāga). Dẫn v giải thch của Tỳ-b-sa 130, T27n1545, tr. 677a17.) Như vậy, điều rất c nghĩa l X-lợi-phất chỉ nghĩ đến cc Bồ tt ny sẽ ăn ci g, chứ khng hỏi về cc Thanh văn. Cc Bồ tt ny l năm nghn vị vừa mới chứng php nhẫn v sinh, m quả vị chứng đắc đang ở hng kiến đạo, tức vừa mới thấy chn l. Trong hng Bồ tt, họ l cc Bồ tt Sơ địa. (Đại bt nh 449, T07n220, tr. 264b23: Bồ tt bằng tự tướng Khng m qun st tất cả cc php, đ nhập chnh tnh ly sinh của Bồ tt (=chứng nhập Sơ địa), khng c g l khả đắc, khng c g được tạo tc, tuyệt đối khng sinh khởi. Do tuyệt đối khng sinh khởi, nn đắc php nhẫn v sinh.) Trong hng Thanh văn, họ tương đương cc vị Tu-đ-hon. Tất cả những vị ny đều cn ti sinh Dục giới. Hoặc do nghiệp bo, hoặc do bi nguyện. Cn trở lại Dục giới nn cn cần đến cc loại thức ăn m chnh yếu l đoạn thực.

D bằng nghiệp lực, hay bằng bi nguyện, d ở hng Sơ địa hay Thập địa, hết thảy Bồ tt đều trở lại thế gian, do đ cc ngi khng khước từ gi trị dinh dưỡng của cc loại thức ăn. Khng như cc Thanh văn quyết nhập Niết bn ngay trong đời ny, khng ti sinh nữa, th thức ăn cc loại l những thứ khng cn cần thiết, nn chấm dứt.

Trong một giới hạn nhất định, sự gn ghp bốn loại thực phẩm với sự nghiệp xy dựng Phật quốc thanh tịnh của Bồ tt c vẻ khin cưỡng. Nhưng từ chỗ suy nghĩ đến sự ăn của X-lợi-phất m những điều thần biến xảy ra tiếp theo đ, tất cả đều tập trung trn nghĩa của thức ăn; thế th sự khin cưỡng ở đy c thể chấp nhận được. Bởi v giới hạn của ngn ngữ, nn khi cần lm r một điều ny khng thể khng ni đến một vi điều khc.

Để đp ứng nghi vấn của X-lợi-phất, Duy-ma-cật giới thiệu một thế giới c tn l Chng hương. Ở đ, tất cả mọi thứ, lu đi, hoa vin, mặt đất, tất cả được tc thnh bởi hương. Điều ny quả thật kh nhận thức bởi chng sinh trong quốc độ của chng ta đy. Hương l đối tượng của tỉ căn hay khứu gic. N cũng được kể l một trong ba thnh tố tạo nn đoạn thực. (Tỳ-b-sa 129, T27n1545, tr. 674b22: thể của đoạn thực gồm ba xứ (āyatanāni): hương, vị v xc.) Thực phẩm nơi thế giới đ được m tả l c mi thơm cực kỳ vi diệu, lan tỏa đến v lượng thế giới khc. Khi một phần cơm ăn dư của đức Phật Hương Tch của thế giới được mang về trong phương trượng của Duy-ma-cật, cả thnh Tỳ-da-ly đều thưởng thức mi hương chưa từng c. Những người thọ dụng cơm ny, từ nh Duy-ma-cật, rồi trở về trong vườn xoi nơi Phật đang ngự, m mi hương vẫn cn thơm phức. Duy-ma-cật ni cho A-nan biết cng dụng của loại thực phẩm hương ny: với hạng phm phu, cơm tồn tại đến 7 ngy mới tiu hết. Hạng ấy chỉ hấp thụ được phần vật chất của n, nhưng khng thể tiến cao hơn nữa. Đối với cc Thanh văn, nếu chưa bước vo chnh vị tức chưa dự vo hng Thnh giả, m ăn cơm ny, cho đến khi no chứng nhập Thanh quả, rời địa vị phm phu, bấy giờ cơm mới tiu. Cho đến những vị đ chứng php nhẫn v sinh m ăn cơm ny th khi no đạt đến vị nhất sinh bổ xứ tức cn một đời nữa sẽ thnh Phật, bấy giờ cơm ấy mới tiu. Loại thực phẩm như vậy quả l phương tiện hnh Phật sự.
Diễn tả theo một hướng khc, thực phẩm như vậy l một loại hnh ngn ngữ chuyển tải tất cả nghĩa mầu nhiệm của đạo l. Đối với thế giới của chng ta, ngn ngữ trước hết l sự kết hợp cc m vận, (Mỗi vật được chỉ định bằng một danh (nāma). Cc danh kết hợp thnh c (pada). Cc nh Hữu bộ liệt danh vo hnh uẩn. Cc nh Kinh bộ liệt trong sắc uẩn v cho rằng thể của danh l thanh (śabda). Cf. Cấu x 5 , T29n1558, tr. 29a23.) hoặc đơn m hoặc đa m, từ đ quy ước nghĩa v nội hm của sự vật hay sự việc.

Khi một đối tượng được nhận thức được lưu trữ trong kho chứa của thức để sau ny c thể truy cập như l hoi niệm hay kinh nghiệm, n được lưu trữ với một tn gọi hay danh. Ảnh tượng được lưu trữ của n bấy giờ l cng năng tiềm thế, tồn tại ở đ cho đến khi hội đủ điều kiện th ti hiện trở lại. Cng năng ấy được gọi l danh ngn tập kh, tức chủng tử được tch lũy dưới dạng danh ngn.

Một người phm phu, chưa hề nghe ni đến Thnh đạo. Đối với người ấy, trong kho chứa khng hề tồn tại cng năng tiềm thế no c thể ti hiện như l năng lực dẫn người ấy tiến đến Thnh đạo v lậu. Nhưng sau một lần nghe ni đến một nghĩa no đ lin hệ Thnh đạo; tất nhin những g lin hệ đến Thnh đạo được nghe đ chỉ thuần l danh ngn. Một danh ngn lun lun vẫn l kết hợp nhiều ảnh tương nhận thức. Thnh đạo vừa được nghe l điều chưa hề xảy ra trong bất cứ qu trnh nhận thức no trước đ. Nhưng, cũng giống như một người chưa hế thấy, cũng chưa bao giờ nghe ai ni đến sư tử l ci g. Một lần, lần đầu tin, được một người khc ni đến danh sư tử, với những m tả chi tiết. Sự mtả trung thực v sống động, do người ni hiểu r cc tnh chất của sư tử, v cũng nắm vững nghệ thuật din tả tức phương tiện thuyết gio thiện xảo; bấy giờ cc ảnh tượng rời rạc trong nhiều đoạn khc nhau từ k ức của người nghe lin hệ đến ảnh tượng sư tử được rp nối lại. Ảnh tương ấy được lưu trữ bằng một danh ngn. Từ đ về sau, nhiều ln nghe, nhiều lần tư duy về tồn tại của sư tử, về bản tnh cũng như sinh hoạt của sư tử, nhiều lần như vậy, cho đến khi danh ngn tập kh về sư tử đầy đủ điều kiện để ti hiện, người ấy c thể biết r sư tử l g m khng cần tận mắt thấy.

Người được nghe về Thnh đạo cũng vậy. Luận Cu-x (Cu-x 1, T29n1558, tr. 6a29.) ni: Php uẩn m đức Mu-ni ni, tnh số đến 80 nghn. Ty quan điểm, hoặc thể của n l ngữ tức thanh, m liệt vo sắc uẩn; hoặc cho rằng thể của n l danh, m liệt vo hnh uẩn. Điều ny muốn ni bản chất của ngn ngữ diễn đạt Thnh đạo trong thế giới ny l m thanh. Phật, Bồ tt, cc Thanh văn vận dụng ngn ngữ như l phương tiện để đưa người đến giải thot v gic ngộ. Nhưng trong cc thế giới khc, phương tiện thuyết gio, phương tiện để chuyn tải tư duy về Thnh đạo, khng nhất thiết phải l ngn ngữ. Cho nn, sau khi được Duy-ma-cật giải thch thực phẩm được mang về từ ci Chng hương chnh l phương tiện chuyển tải Thnh đạo, l một loại hnh ngn ngữ, th A-nan tn thn l điều chưa từng c, chưa từng nghe. Nhn đ, Phật ni với A-nan: C ci Phật lấy nh ng của Phật lm Phật sự. nh sng như vậy l một loại hnh ngn ngữ khc chuyển tải Thnh đạo. C ci lấy y phục, ngọa cụ của Phật lm Phật sự. C ci lấy hoa vin, điện đi lm Phật sự. Cho đến, c bốn loại Ma, c tm vạn bốn nghn cnh cửa phiền no; Phật lấy ngay cc thứ đ lm Phật sự, như l phương tiện chuyển tải Thnh đạo để đưa tất cả đi vo cửa gic ngộ.

Sau khi giới thiệu loại thực phẩm vi diệu tối thượng từ thế giới Chng hương, Duy-ma-cật hỏi trong số cc Bồ tt vị no c thể đến đ thỉnh một phần cơm về cho đại chng ở đy dng. Tất cả im lặng. Nhn đ, c nhận xt đặc biệt của Duy-ma-cật m qua văn dịch c vẻ khinh bạc: Nhn giả, đại chng ny h khng đng hỗ thẹn sao? (Bản Phạn gần nghĩa với La-thập. Bản dịch của Huyền Trang lm cho cu văn c vẻ hi ha hơn.) V cu trả lời của Văn th cũng l lời cảnh gic tương xứng: Phật dạy, chớ khinh người chưa học. Chi tiết ny quả thật th vị nếu nhn từ gc độ quan hệ x giao thng thường, trong sự th tiếp, trao đổi chủ khch. Bnh giải sự kiện ny, Khuy Cơ nu ln bốn l do: Thứ nhất, khch đi chủ l lẽ thường; cho nn khng c trương hợp khch đi lấy cơm về cho chủ đi. Văn-th ngạc nhin về yu cầu của Duy-ma-cật, nn khiến đại chng im lặng. (Tr Khải, Ct Tạng, cũng bnh giải đồng quan điểm.) Thứ hai, cc Đại sỹ cầu php, khng quan tm đến chuyện ăn uống, nn khng đp ứng yu cầu của Duy-ma-cật. Thứ ba, cc Bồ tt cn bị nhiễm bởi thức ăn, nn tuy được yu cầu m khng đp ứng. Sau hết, để Duy-ma-cật tự mnh thể hiện thần thng du h tam-muội.

D sao, hai vị Đại sỹ ny lun lun khiến cc sinh hoạt thường nhật, xem c vẻ tầm thường, đều chuyển tải nghĩa chn l siu việt. Đ l mối quan hệ của hai phương diện nhn về một thực tại, chn đế hay chn l tuyệt đối, v tục đế, hay chn l quy ước. (phần II) (phần III)

T.S.


(trch đăng từ Tập San Nghin Cứu Phật Học số 14)