|
TRIẾT HỌC THẾ THN
Ti Khảo St Về Sự Tri Nhận
L Mạnh Tht
(V giới hạn của fonts, một số m từ trong ngữ Sankry ở phần phụ ch
(...) đ khng trnh đng dạng theo nguyn tc, knh xin Chư Tn v Độc
Giả hoan hỉ khoan dung)
(III)
Một khi c sự phn chia khc nhau về khng gian [khi cc nguyn tử kết nối
với nhau từ cc hướng khc nhau], th tnh chất khng thể phn chia của
cc nguyn tử l khng hợp l/14a-b/
Nếu cc nguyn tử c cc vị tr khng gian khc nhau như ở pha trước, v.v
cho đến vị tr khng gian ở pha dưới, nếu c sự phn chia như thế của cc
vị tr khng gian, th tnh chất khng thể phn chia của chnh cc nguyn
tử lm sao c thể hợp l được?
V ci bng của chng v sự chiếu bng của chng th như thế no?
Nếu khng c sự phn chia cc vị tr khng gian của mỗi nguyn tử, th lm
sao lc mặt trời mọc lại c bng ở một nơi, v nh sng ở một nơi khc?
Thật vậy, sẽ khng c bất kỳ chỗ no khc hơn chỗ nơi c nh sng, [nếu
khng c sự phn chia cc vị tr khng gian của mỗi nguyn tử]. V sự
chiếu bng của một nguyn tử bởi một nguyn tử khc th như thế no, nếu
sự phn chia cc vị tr khng gian của nguyn tử khng được thừa nhận?
[Nếu khng được thừa nhận,] một nguyn tử thật sự sẽ khng c phần pha
sau để từ đ ngăn cản cc phần khc khỏi tiến về pha trước. V nếu khng
c sự ngăn ngại như thế, tất cả cc nguyn tử sẽ cng ở một chỗ, v phn
tử sẽ c khối lượng của chỉ một nguyn tử, như đ ni. Nếu vậy, ta c thể
hỏi tại sao khng thừa nhận rằng ci bng v sự chiếu bng l thuộc về
khối lượng chứ khng thuộc về nguyn tử? Nhưng rồi người ta c thừa nhận
rằng khối lượng th khc hơn cc nguyn tử? Chng ta hỏi. ng ta đp:
Khng.
Nếu khối lượng khng khc hơn cc nguyn tử, th ci bng v sự chiếu bng
khng thuộc về khối lượng/14d/
Nếu khng thừa nhận rằng khối lượng khc hơn cc nguyn tử, th ci bng
v sự chiếu bng khng phải l cc đặc tnh của n; điều đ được lập
thnh. Nhưng sự cn nhắc ny về quan niệm c nguyn tử hay phn tử th c
ch g để suy nghĩ, nếu khng phải để bc bỏ đặc tnh của chng như l một
thực thể vật l? Vậy th đặc tnh của chng đ l g? C phải đ l trường
hợp lm đối tượng của mắt, v.v., v trường hợp l mu xanh, v.v.? Đ l
vấn đề phải được xem xt.
Nếu chủ trương rằng bất kỳ ci g m đối tượng của mắt, v.v., phải c đặc
tnh l mu xanh, vng, v.v., th vật đ khng thể phn chia hay c thể
phn chia? Lc đ l ci g? Nếu c thể phn chia, sẽ c kh khăn chng ta
vừa bn đến.
Nếu khng thể phn chia, lc đ sẽ khng c chuyển động từng bước, cũng
khng c sự nắm bắt v, đồng thời, sự khng nắm bắt, cũng khng c hoạt
động đa dạng của nhiều sắc thi khc nhau, cũng khng c sự khng nhn
thấy cc vi khuẩn/15/
Nếu chừng no m đối tượng của mắt được nghĩ đến như một vật khng thể
phn chia, khng c thnh phần v khng c sự đa dạng th sẽ khng c
chuyển động từng bước trn mặt đất. nghĩa l như thế. Đ l v người ta
di chuyển mọi nơi nhờ c chuyển động lin tục của hai bn chn. Cũng sẽ
khng c sự nắm bắt phần trước m khng c sự khng nắm bắt phần sau của
n cng lc, v khng hợp l khi vừa nắm bắt vừa khng nắm bắt cng một
đối tượng trong cng một lc. Cũng sẽ khng c hoạt động ở nhiều chỗ khc
nhau của ci đa dạng v c thể phn chia như con voi, con ngựa, v.v., v
nơi no c ci ny th cũng c ci kia. V thế lm sao c thể thừa nhận sự
khc biệt của chng? Hơn nữa, lm sao một vật khng thể phn chia no đ
c thể tồn tại ở nơi c hai ci cộng thm một điểm giao thoa của khoảng
khng nằm giữa chng nơi chng khng tồn tại? V cuối cng, sẽ khng c
cc l do tại sao cc vi khuẩn trong nước khng được nhn thấy, v chng
đng l cc đối tương vật l giống như bất kỳ vật g th hơn, nếu chỉ do
chng c cc đặc tnh khc nhau lm cho chng trở thnh cc vật khc nhau,
m khng phải v bất kỳ l do no khc. V vậy, khi ni về cc nguyn tử,
chng ta nhất định phải tưởng tượng ra một loại phn chia no đ. V v
thế, nguyn tử như một vật ring rẽ khng được chứng thực. (Abhidharmakośa
I ad 13d, LVP pp.24-25.) Ph bnh rất di của Thế Thn về thuyết đối tượng
tri nhận của Tỳ B Sa được dẫn đầy đủ ở đy, khng chỉ v đ l trnh by
chi tiết nhất v trọn vẹn nhất quan điểm của ng về vấn đề trn, m cn v
sự bất đồng của chng ta ở một số điểm với bản dịch Nhị Thập Tụng duy nhất
hiện nay của Lvi. Đ l chứng cứ trực tiếp cho những ai c so snh bản
dịch của chng ti với bản của Lvi, v l điều m chng ti khng c
bn đến ở đy do thiếu chỗ v khng hợp lc. Trong ph phn di của mnh,
Thế Thn cho thấy r thuyết đối tượng tri nhận của Tỳ B Sa đ lm vo
những kh khăn nghim trọng v khng thể giải quyết như thế no.
Trước tin, như chng ti đ ni, do l thuyết của họ về ci c thực m Tỳ
B Sa chủ trương chỉ cc nguyn tử l thực v xứng đng lm đối tượng của
tri nhận, v khng thể c cch no nghiền nt hoặc phn tch chng, v v
thế chng khng thể phn chia v khng c thnh phần. Nhưng theo Tỳ B Sa,
để c thể được tri nhận thật sự th chng phải quy tụ t nhất l tm loại
trong số chng để tạo thnh một phn tử nhỏ nhất. V thế, Tỳ B Sa buộc
phải giải thch lm thế no một tnh hưống dường như mu thuẩn như thế lại
c thể xảy ra, tức lm thế no chỉ c nguyn tử mới c thể l đối tượng
của tri nhận, v lm thế no chng chỉ được tri nhận trong một cấu trc
phn tử no đ? V giải thch của họ l trong cấu trc phn tử của chng,
cc nguyn tử vẫn l cc vật thật ring rẽ v khng thể phn chia như
chng đ được định nghĩa, nhưng chng lại được tri nhận trong điều kiện đ
bởi v chng kết nối với nhau ở trong đ, c nghĩa l chng trộn lẫn với
nhau. Thật khng may, một giải thch như thế khng những khng loại bỏ
nhiều kh khăn khc nhau đối với họ, m cn lm vấn đề trở nn phức tạp
thm đến độ ta c thể ni rằng n đang tăng thm gnh nặng cho những g họ
đ c sẵn.
L do l nếu cc nguyn tử khng thể phn chia v khng c thnh phần hay
kch cỡ th lm sao chng c thể kết nối với nhau cho d l trong cấu trc
phn tử của chng? Kết nối, hay trộn lẫn hay bất kỳ từ ngữ g Tỳ B Sa
dng đến đều phải dự kiến một kch cỡ v vị tr no đ trong khng gian,
như Thế Thn đ chỉ ra trong cả Cu X Luận v Nhị Thập Tụng. Nếu cc
nguyn tử khng nối kết với nhau th ci g nối kết chng lại với nhau
trong cấu trc của chng để c thể khẳng định rằng chng c nối kết với
nhau trong cấu trc đ? Trong bất cứ trường hợp no, sự nối kết đều giả
thiết sự tồn tại của một khng gian c thể chia cắt no đ, v cc nguyn
tử như đ định nghĩa sẽ khng c cch no đp ứng điều kiện đ. V thế,
chng thường xuyn bị ln n chỉ l cc vật thật ring rẽ khng thể phn
chia, v chẳng cn g khc hơn. Hơn nữa, nếu ni rằng đ l kết luận m Tỳ
B Sa c nhắm đến v mong đạt được th vấn đề ny sẽ rơi ngay vo vấn đề
chứng thực cch m cc nguyn tử ny c thể trở thnh đối tượng của tri
nhận. Thế nhưng, như Thế Thn đ ni ở phần đầu của trch dẫn trn,
nguyn tử như một vật thật ring rẽ khng thể phn chia th khng được
chứng thực, v vậy, sẽ khng c g ngạc nhin nếu ta c thể nhận ra rằng
việc chứng thực n l đối tượng của tri nhận lại cng kh hơn. Một điều
chắn chắc l nếu như những g ta thấy l cc nguyn tử, v tự thn cc
nguyn tử ny, do định nghĩa trn về chng, c thể giản lược thnh chỉ một
nguyn tử trong mọi phương diện, cho d về mặt khối lượng hay bất cứ ci
g khc, th một giản lược như thế một khi đ xảy ra, điều tất yếu l mọi
kết quả sẽ theo sau. Sẽ khng c chuyển động trn tri đất, v mọi nguyn
tử đ được giản lược thnh một nguyn tử, v nguyn tử độc nhất ny sẽ
khng c thnh phần v kch cỡ no cả trong khng gian. Cũng sẽ khng c
sự khc nhau giữa nhiều hoạt động khc nhau được thực hiện bởi nhiều phần
thn thể khc nhau v bởi nhiều sinh vật khc nhau; bởi v, nếu mọi thứ
đều giản lược thnh một nguyn tử th chỉ c hoạt động duy nhất của một
mnh nguyn tử đ v sẽ khng c hoạt động no khc để tạo ra sự khc
nhau. Cũng sẽ khng thể giải thch tại sao cc vi khuẩn trong nước khng
được nhn thấy, qua sự giản lược ny, trong cng một vị thế giống như bất
kỳ vật thể no khc th hơn v lớn hơn. Thế nhưng, đ khng phải l ci
thật sự xảy ra. V thế, đối với bất cứ gi trị g m thuyết cấu trc
nguyn tử của Tỳ B Sa c thể c, n vẫn khng thể no gp phần giải quyết
vấn đề đối tượng tri nhận của Tỳ B Sa, vốn được khảo st trước tin trong
thuyết về ci c thực của họ.
Chng ta đ lưu rằng những kh khăn nghim trọng sinh khởi từ giải php
của Tỳ B Sa về vấn đề đối tượng tri nhận chnh yếu v trước tin l do
thuyết về ci c thực của họ. Nếu khng th, như Thế Thn đ chỉ ra, ta c
thể đưa ra một chủ trương đại loại như bởi v phn tử được tạo thnh bởi
cc nguyn tử vốn l vật thật cho nn n cũng l một vật thật c khả
năng v xứng đng lm đối tượng của sự tri nhận theo đng nghĩa của n chứ
khng chỉ theo sự thỏa thuận được quy ước. Kết quả, sẽ c hai loại giải
php dnh cho những kh khăn nghim trọng đ ty theo ta c chấp nhận
thuyết về ci c thật của Tỳ B Sa hay khng. Nếu ai khng chấp nhận tiền
đề về ci c thật trong giới hạn được quan niệm của n th họ c thể đề
nghị một tiền đề mới như Thế Thn đ cho trong Cu X Luận, qua pht biểu
rằng phn tử nhất định phải c thật v n được tạo thnh bởi cc nguyn tử
vốn cũng c thật. Nhưng rồi như chnh Thế Thn c thể đ nhận ra sau ny
trong cc tc phẩm luận l của ng, đề ra một khả năng như thế sẽ dẫn đến
tuyệt lộ bởi v n đi hỏi phải xt lại định nghĩa về ci c thật. Bởi v
trong trường hợp đ, thực thể của một phn tử chỉ l một thực thể vay mượn
từ cc nguyn tử, v v lẽ đ chẳng phải l thực thể g cả khi cc nguyn
tử lấy lại thực thể cho mnh. Hơn nữa, d ta c ph cng gn ghp cho phn
tử một thực thể đi nữa th cũng khng c g bảo đảm rằng sự tri nhận về n
đch thực l sự tri nhận về một phn tử c thật chứ khng phải một phn tử
ta nhn thấy trong mơ chẳng hạn, ci m chng ta đ m tả trước đy. V
thế, nếu ta c bc bỏ thuyết của Tỳ B Sa về ci c thật th ta cũng khng
c tiến bộ g khả quan hơn, nếu khng phải l bi đt hơn.
Mặt khc, nếu ta thừa nhận tiền đề về ci c thật của họ dưới bất kỳ hnh
thức c cải đổi no th ta buộc phải đối mặt thẳng với những kh khăn
nghim trọng m n gy ra như đ thấy. Những kh khăn ny c thể dễ dng
tm tắt như sau: nguyn tử l vật thật v chng khng thể bị phn thnh
bất kỳ nguyn tố no khc; nhưng để c thể được tri nhận thật sự th chng
phải tạo thnh một phn tử c t nhất tm nguyn tử; tuy nhin, phn tử
lại được định nghĩa l khng thật v n c thể được phn tch một cch tự
nhin thnh cc thnh tố của n vốn l cc nguyn tử, v như thế phn tử
c thể hủy; v thế ci kh l lm thế no ta c thể trnh được kết luận
phiền phức l ci ta tri nhận th chẳng thực cht no cả. Thế nhưng, như
Thế Thn đ chỉ ra ở trn, với l thuyết thường nghiệm của họ cho rằng
người ta khng dễ dng nhn thấy một sợi tc nhưng lại c thể nhận ra tức
khắc một mớ tc cho nn người ta cũng c thể nhận ra ngay một phn tử
trong khi khng dễ g nhn thấy một nguyn tử.
D khng thnh cng nhưng n đ chứng tỏ c đủ khả năng thch thức nhiều
người khc để rồi một số cc giải php thay thế khc đ được đề ra, trong
đ nổi bật nhất l l thuyết về ci ton thể (holism) của Thắng Luận
(Vaiśesika), ni rằng c một tổng thể dng để kết hợp cc phần v n tồn
tại như một thực thể độc lập v tch rời với cc phần cấu tạo, mặc d n
khng thm nhập vo chng. ( Abhidharmakośa I ad 20a-b, LVP p.39.) Ni
cch khc, nếu để c thể được tri nhận thật sự m cc nguyn tử phải kết
tụ thnh một phn tử c thể được tri nhận nhưng khng thật trong cng một
vị thế giống như cc nguyn tử, th sẽ c một thực thể sinh khởi ở bất cứ
nơi no c trn một nguyn tử kết tụ v thực thể ny c thể được tri nhận
để nhận ra bất cứ vật g m cc nguyn tử tạo thnh v c thể được tri
nhận.
Thắng Luận thật sự tn thnh thuyết nguyn tử theo cch diễn giải của Tỳ
B Sa ngoại trừ chỉ hai điểm, đ l, đối với Thắng Luận th cc nguyn tử
khng chỉ thật m cn thường hằng v hon ton khng thể tri nhận được;
trong khi đối với Tỳ B Sa th chng c thật nhưng khng phải thường hằng
v (2) khng phải hon ton khng thể tri nhận. (Vaiśesikasūtra IV 1.1.14
& VII 1.1.32.) V vậy, thuyết ton bộ của họ đề ra một số đặc điểm rất th
vị khng thể bỏ qua. Điều kỳ lạ l mặc d Thế Thn đ ni r đ l thuyết
của Thắng Luận nhưng Vaiśesikasūtra của Kanāda khng hề nhắc đến từ
avayavin, tổng thể; thay v thế, chnh trong Nyāyasūtra m từ ny v
thuyết ny lần đầu tin được cng bố v thảo luận cng khai.
Trước tin, Nyāyasūtra nu ra vấn đề về ci tổng thể cng với thảo luận
của n c phải tri nhận chỉ l một dạng suy luận hay khng. (Nyāyasūtra II
1.31-37.) N chỉ ra rằng khi ta tri nhận một ci cy, th tất cả những g
ta thấy khng phải l ton thể ci cy m chỉ một vi phần của n, bất kể
ta đứng ở đu v nhn bằng cch no; lun lun c một phần no đ hon
ton thot khỏi ci nhn của ta. Thế nhưng, nếu thấy ci cy ta dễ dng
nhận ra n ngay. Vậy, ci g tạo thnh ci cơ cấu cho php ta nhận ra lập
tức như thế? Cu trả lời hiển nhin duy nhất l sự tri nhận đ về ci cy
chỉ l một dạng suy luận c cng loại như sự phn đon nơi no c lửa th
nơi đ c khi. Ta đ từng thấy lửa v khi quyện vo nhau trong bếp; v
thế, khi ta tnh cờ thấy khi bốc ln từ đỉnh ni, ta c thể kết luận một
cch hợp l l thật sự c lửa trn ngọn ni đ, một điều m ta khng nhn
thấy từ chỗ đang đứng. Tương tự, lun lun c một phần no đ của ci cy
thường xuyn thot khỏi ci nhn của ta; thế nhưng, nếu c một ci cy m
ta tnh cờ nhn thấy th ta khng khẳng định l chỉ nhn thấy một t phần
của ci g đ m l ta thấy một ci cy, v đ l n. Hnh động nhn thấy
một ci cy v thế c cng thứ tự như hnh động biết đến sự c mặt của lửa
ở trn ni. Trong cả hai trường hợp, đối tượng của nhận thức chỉ được biết
đến một phần. Ta chỉ nhn thấy vi phần của ci cy ở bất kỳ thời điểm no
đ, giống hệt như ta chỉ tri nhận được khi bốc ln từ đỉnh ni. V thế,
cả sự tri nhận về cy cũng như kết luận c lửa đều mang tnh chất suy
luận; trường hợp đầu l sự suy luận về cy từ sự hiểu biết cc phần của
n; trường hợp sau l sự suy luận về lửa từ sự nhận ra khi. Vậy th tri
nhận nhiều lắm chỉ l một dạng suy luận.
Để đp lại kết luận kh trnh được ny, Nyāyasūtra theo ngn ngữ của
Vātsyāyana nu ra cu hỏi nếu tri nhận thật sự l một dạng suy luận th c
phải đối tượng được suy luận trong trường hợp của ci cy chỉ l phần
khng nhn thấy của n hay l ci ton thể của n, tức l ci khc với cc
phần của n nhưng đồng thời lại l ci ton thể của cc phần của n. Trong
trường hợp đầu, nếu ci ta suy luận l những phần khng nhn thấy của cy
th khng thể no c sự hiểu biết về n, v l do đơn giản l ci cy
khng phải l phần pha trước được nhn thấy v cũng khng phải phần khng
nhn thấy m chỉ suy luận. Từ khi ta c thể suy luận v c sự hiểu biết
về lửa trong một tnh huống được cho. Nhưng, khng giống như lửa, ci cy
khng thể được biết chỉ nhờ vo suy luận về phần khng được nhn thấy. V
lẽ đ, trong trường hợp ny ta c thể kết luận ci cy khng được tri nhận
m cũng khng được suy luận. Trong trường hợp sau, nếu từ những g được
nhn thấy về một ci cy m ta suy luận khng phải ci khng được nhn
thấy m l ton thể ci cy, th sự hiểu biết ta c về cy khng phải l
ci được nhn thấy cũng khng phải l ci khng được nhn thấy của cy m
l sự hiểu biết về cy như một tổng thể, bởi v từ ci được nhn thấy, ta
c thể suy luận ci khng được nhn thấy chứ khng phải cả hai trong số
chng. V thế, ci cy như một tổng thể th khc biệt v độc lập với những
g được nhn thấy cũng như khng được nhn thấy về n. Một khi đạt đến một
kết luận như thế, ta cũng c thể tiếp tục khng cần đến sự suy luận v chủ
trương rằng cy như một tổng thể được tri nhận cng lc với sự tri nhận về
những g được nhn thấy của n. Vậy th, theo Nyāyasūtra ci ton thể l
một thực thể c thể được tri nhận độc lập v khc biệt với cc phần của
n; v chnh ci ton thể ny khiến cho ta c thể tri nhận những g tồn
tại. Chnh ci ton thể cho php chng ta c sự tri nhận về ci cy, cho
d c sự kiện rằng những g ta thực sự nhn thấy chỉ l một vi phần của
n m ta tnh cờ nhn thấy.
L thuyết th vị về ci ton thể ny, theo cch no đ khng khc biệt lắm
với thuyết gestalt của tm l học ngy nay, về sau đ được pht triển thm
trong Nyāyabhāsya của Vātsyāyana v Padārthadharmasamgraha của
Prasastapāda, hay cn được biết đến như Vaiśesikasūtrabhāsya hoặc
Prasastapādabhāsya trong dạng đơn giản hơn của n. V từ đ nhiều tc phẩm
khc c thể đ rt ra cc tư liệu v cc vấn đề của chng để tuyn chiến
với những người ph phn chng. Th dụ, chng ta c Nyāyavārttika của
Uddyotakara, Nyāyavārttikatātparyatīkā của Vacaśpatimiśra, Nyāyakandalī
của Śrīdhara, Nyāyamajarī của Jayantabhatta, v.v. Nhưng v Prasastapāda
rất c khả năng đ sống sau Thế Thn, v c thể cả Vātsyāyana cũng vậy
(Mặc d nin đại của Vātsyāyana thường được ấn định vo khoảng 350-425 sdl
(xem Potter, The Encyclopedia of Indian Philosophies, Delhi: Motilal
Banarsidas, 1970: 44; Satischandra Vidyabhusana, Vātsyāyana, Author of the
Nyāyabhāsya, trong Indian Antiquary ILIV (1915): 82-88; Ui, The Vaiśesika
Philosophy according to the Daśapadārthaśāstra, London: Royal Asiatic
Society, 1917: 16-17), nhưng một số nh truyền thống thủ cựu như Mishra v
tương tợ vẫn đeo bm nin đại tưởng tượng của họ l thế kỷ thứ hai tdl m
khng c bằng chứng cụ thể no cả.) cho nn ta c thể giả định rằng những
g họ trần thuật trong cc tc phẩm của họ về thuyết ton thể hẳn đ được
phổ biến t nhất cũng một vi lần trước khi được họ ghi chp lại. Chng ta
phải lưu một trường hợp như thế, v như đ nhắc đến ở trn, Thế Thn
cng khai cho rằng thuyết đ l của Thắng Luận, trong khi n thật sự bắt
nguồn với Nyāyasūtra như đ thấy, chứ khng phải với Vaiśesikasūtra như đ
tưởng. Do ngy nay khng cn một bnh giải no về tc phẩm sau cho đến
thời của Prasastapāda, tức t ra l đến thời của Trần Na, chng ta khng
thể hon ton chắc chắn rằng một pht biểu như thế về nguồn gốc của thuyết
ton thể c thể đng ở chừng mực no v ta nn hiểu n theo nghĩa g.
May mắn l mặc d trong Nhị Thập Tụng Thế Thn loại bỏ ci gọi l thuyết
ton bộ của Thắng Luận chỉ với một nhận xt duy nhất, nhưng trong Cu X
Luận, tc phẩm sớm hơn của ng, ng đ dnh một chỗ đng kể để bn về n,
cho d với một kết luận đầy miệt thị của ng, trong đ ng gọi ci ng đ
bn đến l một thuyết ấu trĩ. (Về nin đại của Prasastapāda, xem
Frauwallner, Candramati und Sein Daśapadārthaśāstram, Studia Indologica.
Festshrift fr Willibald Kirfel zur Vollendung Seines 70 Lebensjahres, ed.
Otto Spies, Bonn: Selbstverlag des Orientaloschen Seminars der Universitt
Bonn, 1955: 68-85.) Nhờ n, ta biết r ng đ nghĩ g khi đề cập đến Thắng
Luận với thuyết m cc tư liệu ta c được ngy nay sẽ cho thấy một cch
khc. Lời bn ny xảy ra lin quan đến trnh by của ng về khả năng c
thể diệt của cc nguyn tử vo một thời khoảng no đ theo Tỳ B Sa. N
được viết như sau:
Khi chng sinh đ quy tụ ở một ci dhyāna no đ th một sự bằng phẳng xảy
đến cho thế giới ny, đ l những g được gọi l diệt. Diệt xảy ra do
sức nng của bảy mặt trời, do nước mưa, do gi từ sự khuấy động của nguyn
tố-năng lượng. Hậu quả của sự hủy diệt ny l ngay cả một phần nhỏ của ci
ton thể cũng bị hủy diệt. Tuy nhin, về điểm ny, một số Tīrthankara chủ
trương rằng cc nguyn tử, do tnh chất thường hằng của chng, lc đ sẽ
vẫn cn sống. Tại sao họ chủ trương như vậy? Họ ni, nếu khng như vậy
th thế giới của nhiều vật thể th khc nhau sẽ xuất hiện m khng cần đến
bất kỳ hạt giống no cn được giữ lại.
Nay, ta đ ni rằng chnh hạt giống của gi, sinh ra từ hnh động của
chng sinh, đặc biệt tc động đến sự xuất hiện của một thế giới mới, v
tc nhn sinh khởi gi ny l loại gi cn lại sau sự hủy diệt. Bản kinh
của Mahīśāsakā ni rằng cc hạt giống được gi đưa vo từ một thế giới
khc.
D thế, họ khng thừa nhận mầm mộng, v.v., nảy sinh từ hạt giống. Tại sao?
Bởi v, họ ni, cc vật đ khởi từ cc phần của chng, v đến lượt cc
phần ny lại khởi từ cc phần ring của chng, v cứ thế cho đến cc
nguyn tử tối hậu.
Vậy th, tiềm lực của cc hạt giống, v.v., đối với mầm mộng, v.v., l g?
Họ ni, khng c tiềm lực no cả ngoi ci khiến cho cc nguyn tử đến gần
với nhau.
Lại nữa, tc nhn sinh khởi sự đến gần m họ thừa nhận l g?
Họ ni rằng thật khng hợp l khi một ci g đ lại sinh từ một ci khc
loại với n.
Tại sao khng hợp l?
Họ ni, v sẽ khng cần thiết. V thế, sẽ khng cần đến năng lực sản sinh,
giống hệt như sự xuất hiện của một tiếng động được sinh khởi từ việc nấu
nướng. Đ l v một gunadharma c thể được sinh từ một vật khc với n,
nhưng đối với một vật thật th khng như vậy. Thật vậy, một vật thật phải
được sinh từ cc vật thật cng loại, giống như tấm thảm cỏ được sinh từ
cỏ, tấm vải từ sợi.
Nhưng điều đ cũng khng hợp l.
Tại sao khng hợp l ở đy?
Bởi v ci được giới thiệu như một luận đề khng được chứng thực.
Ci g khng được chứng thực ở đy?
Họ ni rằng tấm thảm cỏ th khc cỏ v tấm vải th khc với cc sợi. Nhưng
[điều đ khng đng]. Khi cỏ v sợi sắp xếp theo cch no đ, th ta c
khi niệm về tấm thảm v tấm vải. N giống hệt như một đn kiến. Lm sao
điều đ xảy ra? Bởi v khi [con mắt] của ta tiếp xc một sợi vải, th ta
khng tri nhận được tấm vải. Nếu tấm vải thật sự hiện hữu, tại sao n
khng được tri nhận cng thời? Nếu v nghĩ rằng tấm vải khng hiện hữu
hon ton ở mỗi sợi vải, th điều tất yếu l tấm vải chỉ l một tập hợp
cc sợi [sắp xếp theo cch no đ]. Lc đ, phần no của tấm vải khc với
cc sợi vải? Nếu cho rằng nhiều sợi vải dng lm nền cho tấm vải phải được
tri nhận để cho tấm vải cũng được tri nhận, th khi ta tri nhận chỉ một
diềm vải, ta phải tri nhận cả tấm vải, [điều ny khng đng]. Mặt khc,
tấm vải sẽ khng được tri nhận, v cc gic quan của ta khng bao giờ c
thể tri nhận cc phần ở giữa v ở bin cng một lc. Nếu cc phần ny phải
được tri nhận lần lượt qua sự tiếp xc giữa chng với mắt ta, th sẽ khng
c sự nhận biết ton bộ. V vậy, nếu được tri nhận lần lượt th ci ton
thể chắc chắn chỉ l một sự nhận biết về cc phần, v khi niệm về n th
giống hệt như khi niệm về vng quay của một ngọn đuốc. Hơn nữa, trong
trường hợp cc sợi c mu khc nhau, thuộc cc loại khc nhau v sắp xếp
theo cch no đ, th lc đ tấm vải sẽ khng c mu, v.v. Nếu n thật sự
c cc mu, v.v khc nhau, th ta nn thừa nhận rằng ngay cả [đối với một
vật thật như ci ton thể] n vẫn c thể được tạo ra từ cc vật khc loại.
V nếu một mặt vải khng c mu khc nhau th khi nhn n ta hoặc khng
thấy tấm vải hoặc thấy tấm vải như c cc mu khc nhau. Hơn nữa, nếu tấm
vải lm bằng cc sợi sắp xếp theo cc cch khc nhau, th n c qu nhiều
cch khc nhau cho nn khng thể gọi l tấm vải. V sẽ khng c sự nhận ra
mu sắc hoặc tnh chất xc chạm của nh lửa bởi v c sự khc nhau về sức
nng v lực chiếu sng từ đầu đến cuối.
Tương tự, d siu việt tri gic, cc nguyn tử vẫn c thể được tri nhận
khi chng kết hợp thnh hnh dạng. Giống hệt như cc nhn tố hiện hnh của
mắt, v.v., phải kết hợp để hoạt động; v giống như sự tri nhận một đm tc
rối bởi những người bị tc động của bệnh mắt. Đối với những người ny, cc
nguyn tử, giống hệt như những sợi tc, l siu tri gic khi chỉ c một
trong số chng.
Bởi v khi niệm về nguyn tử được quyết định bởi mu sắc, v.v., của
nguyn tử cho nn khi c sự diệt của mu, v.v., th nguyn tử cũng bị
diệt. Họ ni rằng v nguyn tử l một vật thật, v l vật thật nn n khc
với mu, v.v; v thế sự khng-diệt của nguyn tử được chứng thực, ngay cả
khi c sự diệt của mu, v.v. Nhưng một sự phn biệt như thế th khng hợp
l, v khng c ai phn biệt: đy l đất, nước, lửa, v kia l mu, v.v.,
của chng. Ci được tri nhận bởi mắt th được biết đến v khi len, bng
vải, hoa, sợi hồng hoa, v.v., bị đốt th khi niệm về chng cũng đang trở
thnh khng hiện hữu; v vậy, khi niệm về chng chỉ được tm thấy ở mu
sắc, v.v. Khi một ci bnh chịu cc hoạt động của lửa, n vẫn được nhận ra
l bnh nhờ đặc điểm phổ qut của n, đ l đặc điểm về hnh dạng, giống
hệt như [sự nhận ra] một đn kiến. Nếu khng c một đặc điểm như thế được
tri nhận, sẽ khng c sự nhận biết.
Nhưng c ch g để bn mi về cc thuyết ấu trĩ ny. V thế, ta hy dừng ở
đy khi m khng cn phản bc g nữa. (Abhidharmakośa III ad 100a-b, LVP
pp.210-214.) Qua những ph bnh trn của Thế Thn về thuyết ton thể dựa
vo lin hệ của n đối với cc phần, ta c thể thấy tại sao ng loại bỏ n
chỉ với một nhận xt duy nhất trong Nhị Thập Tụng. Phải thừa nhận rằng
những ph bnh trn khng những chi tiết m cn ton triệt như người ta
muốn. Thế Thn đ chọn tấm vải v sợi vải như một trợ huấn cụ để bn về
thuyết ton thể v lin hệ của n với cc phần, một trợ huấn cụ m chnh
Thắng Luận rất thch dng để minh họa quan niệm của họ.
(Vaiśesikasūtra of
Kanāda with the Commentary of Candrānanda, ed. Muni Śrī Jambuvijayaji,
Baroda: Oriental Institute, 1961: 61: Sūtra VII. 2. 29.)
Chng ta đ ni
rằng Thắng Luận tn thnh một thuyết về nguyn tử rất giống với thuyết của
Tỳ B Sa. V thế, họ buộc phải giải quyết những kh khăn m thuyết sau gặp
phải. Phần lớn những kh khăn trước tin nằm ở yu cầu giải thch l do
tnh chất khả tri của sự vật hng ngy, nếu họ cho rằng trong thế giới ny
chỉ c cc nguyn tử v cc nguyn tử ny đều khng thể được tri nhận.
Như Thế Thn đ chứng minh, Tỳ B Sa đ khng thể đưa ra một trả lời thỏa
đng cho vấn đề ny. Thắng Luận, đến lượt họ, đ tch khỏi Tỳ B Sa v đề
ra một giải php, theo đ tnh chất khả tri của sự vật hng ngy được giải
thch bằng sự tồn tại một thực thể mới m họ gọi l ci ton thể tồn tại
độc lập v tch biệt với cc thnh phần v c khả năng khiến cho cc phần
ny xuất hiện với một sự thống nhất khả tri no đ. Như vậy, nếu cc
nguyn tử l bất khả tri nhưng khối lượng của chng lại khả tri th đ l
v c tồn tại một tổng thể khiến cho khối lượng đ trở nn khả tri đối với
người tri nhận. V lẽ đ ci ton thể ny phải l một thực thể độc lập v
khc với cc nguyn tử, bởi v chỉ c n được tri nhận trong khi cc
nguyn tử th khng. Cũng giống như tấm vải đối với cc sợi vải. Tấm vải
khng phải l cc sợi vải, v cc sợi vải cũng khng phải l tấm vải. Mỗi
ci đều l một thực thể tồn tại độc lập v tch biệt nhau.
V thế, về mặt l luận, giải php của Thắng Luận dường như khng phải hon
ton khng thỏa đng. Khng may cho họ, sng kiến về một thực thể mới như
ci được gọi l ton thể đ lại đặt ra những nghi ngờ nghim trọng trong
đầu cc nh ph bnh về họ, đặc biệt l Thế Thn. Khi viết Cu X Luận,
Thế Thn vẫn đồng với chủ trương của Tỳ B Sa cho rằng giống như tấm vải
chỉ l những sợi vải tự sắp xếp theo một cch no đ th cc sự vật hng
ngy cũng thế. Chng chỉ l cc nguyn tử tự sắp xếp theo một cch no đ.
Kết quả, đối với Thế Thn khng c một thực thể như ci ton thể được
Thắng Luận định nghĩa. Căn cứ vo trợ huấn cụ về tấm vải v sợi vải, Thế
Thn chỉ ra cc l do sau để bc bỏ sự tồn tại một thực thể gọi l ci
ton thể.
Trước tin, nếu c một thực thể l ci ton thể th n hoặc tồn tại trong
mỗi một phần của n hoặc khng. Trong trường hợp đầu, khi thị gic của
chng ta hướng đến sợi vải th n khng tri nhận được tấm vải; như vậy,
tấm vải khng tồn tại trong mỗi sợi vải. Tương tự, ni rằng ci ton thể
thật sự tồn tại trong mỗi một phần của n v thế r rng l sai lầm. Nếu
ci ton thể khng tồn tại trong mỗi phần của n, th như Thế Thn đ ni,
ci ton thể chỉ l một tập hợp cc phần của n, giống hệt như tấm vải
chỉ l một tập hợp cc sợi vải tự sắp xếp theo một cch no đ. Thứ hai,
nếu lập luận rằng ci ton thể thật sự tồn tại trong mỗi phần của n,
nhưng n đi hỏi một số phần của n phải được tri nhận để chnh n cũng
được tri nhận, th khi ta tri nhận đường diềm của tấm vải, vốn c nhiều
hơn một sợi vải, th ta sẽ c thể tri nhận ton bộ tấm vải, điều ny khng
đng. Thứ ba, nếu ni rằng sự tri nhận về ci ton thể phụ thuộc sự tri
nhận khng chỉ một đường bin của ci ton thể m phải nhiều hơn, th một
ci ton thể như thế sẽ khng bao giờ được tri nhận, v ta khng bao giờ
c thể nhn thấy cng lc đường bin v phần giữa của tấm vải. Sau hết,
nếu cho rằng ci ton thể được tri nhận lần lượt, th một ci ton thể như
thế khng khc g thực thể của một vng lửa được tạo ra bằng cch quay một
ngọn đuốc đi hết một đường vng cung. (phần
I) (phần II)
(cn tiếp)
dịch Việt: Đạo Sinh
(trch đăng từ Tập San Nghin Cứu Phật Học số 14)
|