TRIẾT HỌC THẾ THN
Ti Khảo St Về Sự Tri Nhận
L Mạnh Tht
phần V
(tiếp theo bi trước)
Lại
chẳng c g mới lạ trong khi niệm về sự tự tri v tự thức ny. Theo
quan điểm lịch sử, ta đ thấy n xuất hiện trong luận thư của
Maitreyanātha m chnh Thế Thn đ đọc v bnh giải. Bi tụng thứ ba ở
Chương I của luận thư ny, Madhyāntavibhāga, ni r rằng thức sinh khởi
như một sự tự thức về đối tượng, hữu thể, tự ng v nhận thức; v n
khng c đối tượng; bởi lẽ n khng c đối tượng cho nn tự n khng hiện
hữu (Maitreyanātha, Madhyāntavibhāga I ad 3. ed. Gadjin Nagao, Tokyo:
Suzuki Research Foundation, 1964: 18: arthasatvātmavijaptipratibhāsam
prajāyate/ vijānam nāsti cāsyārthas tadabhāvāt tad apy asat//.
Thế Thn đ thm vo nhận xt sau: tatrārthapratibhāsam yad rūpādibhāvena
pratibhāsate/ satvapratibhāsam yat pacendriyatvena svaparasantānayor/
ātmapratibhāsam klistam manam/ ātmamohādisamprayogāt/ vijaptipratibhāsam
sad vijānāni/ nāsti cāsyārtha iti/ arthasatva-pratibhāsayānākāratvāt/
ātmavijaptipratibhāsasya ca vitthanratibhāsatvāt/ tadabhāvāt tad apy asat
iti/ yat tadgrahyam rūpādipacendriyam manah sadvijānasamjakam
caturvidham tasya grāhyasyārthasyābhāvāt tad api grāhakam vijānam asat/.
Theo cch diễn giải của chng ti về cu tụng v đoạn luận trn th hiển
nhin l chng ti khng hiểu cu nāsti cāsyārthas nhằm chỉ cho một đối
tượng ngoại tại trn thế gian m l ci đối tượng chng ti nhận biết được
nhờ vo sự tự tri, svasamvedana, của chng ti. V thế, sự tự tri c tc
dụng như một thể thống nhất: cả đối tượng m ta thức v hnh động của
một thức như thế đều khng hiện hữu, v lẽ đơn giản l mặc d chng ta
phải biết được đối tượng qua sự tự tri của chng ta, nhưng sự tự tri như
thế khng c tc dụng no khc hơn việc chỉ ra rằng c một đối tượng no
đ ở ngoi kia chứ khng phải ở trong đầu chng ta. Dựa vo diễn giải mới
ny của chng ti th cu tụng mở đầu nổi tiếng nhất của chương đầu cuốn
Madhyāntavibhāga trở nn dễ hiểu hơn: abhūtaparakalposti dvayam tatra na
vidyate/ śūnyatā vidyate tvatra tasyām api sa vidyate// I.1.). Như vậy,
thức được quan niệm như sự tự thức. Tuy nhin, khng nn cho đ l một
loại thức mới, bởi v khng c một loại mới như thế khi m đối tượng của
sự tự thức khng hiện hữu. Đối tượng đ cũng l đối tượng của thức, ci
m sự tự thức nhận biết. V vậy, điều được diễn tả trong
Madhyāntavibhāga I. 3 hon ton r rng ở điểm mặc d cơ cấu của sự tự tri
v tự thức c tồn tại, nhưng khng thể no giả định rằng c một thực thể
như sự tự tri hay sự tự thức, hay c một thế giới cc vật thể thuộc
ring thực thể đ. Vậy th, với Thế Thn cũng như Maitreyanātha, c một cơ
cấu khiến cho ci biết về một đối tượng cũng như sự tự tri về đối tượng đ
c thể vận hnh, mặc d hnh như họ khng phn biệt được chi tiết cơ cấu
đ vận hnh như thế no. Điều ny về sau đ trở thnh điểm tranh ci trong
số những người đi theo họ, gp phần rất lớn vo việc lm sng tỏ khi niệm
về sự tự tri v tự thức được ni đến ở trn. Đối với Trần Na, một nhận
thức khi nhận ra một đối tượng, như một vật c mu sắc, v.v., chẳng hạn,
th nhận thức ny c sự nhận biết về cả đối tượng v chnh n; v nhận
thức về nhận thức đ cũng c sự nhận biết về nhận thức đ, một nhận thức
tương hợp với đối tượng v sự nhận biết về chnh n. Ni cch khc, nếu
nhận thức về một đối tượng chỉ c sự nhận biết về đối tượng, hoặc chỉ c
sự nhận biết về chnh n, th nhận thức về nhận thức sẽ khng thể được
phn biệt với nhận thức về đối tượng. V thế, đối với ng sự kiện nhận
thức c hai dạng được biết đến nhờ vo sự khc nhau giữa nhận thức về đối
tượng v nhận thức về nhận thức đ (Dignāga, Pramāmasamuccaya I
p.15b5-6.). Đy l pht biểu r rng đầu tin về số lượng cc dạng m sự
tự tri v tự thức c thể c v cũng l điều được tranh ci như sẽ thấy.
Trần Na pht biểu rằng mọi nhận thức đều l tự nhận thức, tức n nhận thức
đối tượng v chnh n cng thời.
Như vậy, để phn biệt nhận thức về một đối tượng với nhận thức về nhận
thức, hai dạng nhận thức phải được giả định. Dạng đầu chnh l nhận thức
về tự thn đối tượng. Ở dạng ny, nếu cho nhận thức C1 (cognition), ta c
thể cho rằng n c sự nhận thức về chnh n I1 (itself) v nhận thức về
đối tượng O1 (object). Lc đ nhận thức ny c thể viết dưới dạng:
C1 = I1 + O1.
Dạng thứ hai của nhận thức l nhận thức về nhận thức. Ở dạng ny, nếu cho
nhận thức C2, n lại c nhận thức về chnh n I2 v nhận thức về đối tượng
O2, trong trường hợp ny đối tượng sẽ l một nhận thức. Như vậy, dạng nhận
thức thứ hai c thể viết như sau:
C2 = I2 + O2.
Nhưng, trong trường hợp ny v O2 l một nhận thức về đối tượng, cho nn
C2 = I2 + (I1+O1).
V rồi kết quả sẽ như thế no?
Giả sử rằng nhận thức chỉ c một dạng, như Tỳ B Sa chủ trương, trong đ
nhận thức chỉ c sự nhận biết đối tượng m khng nhận biết chnh n, th
C1 = O1, v C2 = O2. Trong trường hợp ny, nhận thức về một nhận thức trở
thnh đồng nhất với nhận thức về một đối tượng, v nếu ta thay O2 bằng C1
th C2 = O1. V thế ta phải kết luận rằng nếu nhận thức chỉ c một dạng,
n sẽ lun lun l nhận thức về đối tượng. Mặt khc, nếu nhận thức c hai
dạng, tức khng chỉ nhận thức đối tượng m cn nhận thức chnh n th mọi
nhận thức đều c thể phn biệt được:
Cn = In + (In - 1 + On - 1).
Ngoi ra, như một hệ quả tự nhin, thuyết hai dạng c thể giải quyết bế
tắc của sự tự chứng thực được m tả trước đy bằng cch chỉ ra rằng đối
tượng sẽ lun lun hiện diện một khi n được nhận thức (Dignāga,
Pramāmasamuccaya I p.15b6-7.). Như vậy, thuyết hai dạng của nhận thức do
Trần Na đề ra r rng l nỗ lực đầu tin nhằm thuyết minh khi niệm tự tri
v tự thức do Maitreyanātha đề nghị v Thế Thn khai triển về mặt luận
l trong những nhận xt c ph phn đối với thuyết đối tượng tri nhận của
Tỳ B Sa. V kết quả thật th vị, ở chỗ n cho chng ta l do r rng tại
sao Tỳ B Sa v những người chủ trương như họ lại khng xt đến khi niệm
tự tri v tự thức bằng cch cho thấy rằng về mặt luận l họ khng thể
no lm khc hơn. Tuy nhin, ta c thể thắc mắc tại sao chỉ c hai dạng
nhận thức, m khng phải ba chẳng hạn. Thật ra, khng lu sau Trần Na,
Php Hộ đ c chủ trương ba dạng (Dharmapāla, Vijaptimātrasiddhi, Taishō
1585: 10b11-22: 然 心 心 所 一 一 生 時, 以 理 推 徵, 各 有 三 分。 所 量 能 量 量 果 别 故, 相 見 必
有 所 依 體 故。 如 集 量 論 伽 他 中 說:似 境 相 所 量 能 取 相 自 證 即 能 量 及 果 此 三 體 無 别 又 心 心 所
若 細 分 别 應 有 四 分。 三 分 如 前, 復 有 第 四 證 自 證 分。 此 若 無 者, 誰 證 第 三。 心 所 既 同 應 皆 證
故。 又 自 證 分 應 無 有 果, 諸 能 量 者 必 有 果 故。 不 應 見 分 是 第 三 果。 見 分 或 時 非 量 攝 故。 由 此
見 分 不 證 第 三。 證 自 體 者 必 現 量 故。
cf. La Siddhi de Hiuan Tsang: 130-132.), trong đ hai dạng đầu đ được
Trần Na đề cập, v dạng thứ ba l nhận thức về nhận thức về chnh n. Php
hộ cho rằng dạng thứ ba phải cần đến v dạng thứ hai chưa đủ tnh phổ qut
khi n chỉ l nhận thức về nhận thức về đối tượng, v v thế c thể tnh
ring v đối tượng ring. V vậy phải c một dạng thứ ba để bảo đảm sự tự
nhận thức về nhận thức về chnh n. Dạng nhận thức mới ny tự thn khng
được hấp dẫn lắm. Tuy nhin, n chỉ cho một dự tưởng kỳ lạ m thuyết hai
dạng của nhận thức mặc nhin thừa nhận, tức ngoi sự tri nhận về đối tượng
mới ra, mọi nhận thức mới đi hỏi một tri nhận mới về chnh n. Như vậy,
nếu ta c nhận thức Cn th ta sẽ c nhận thức về chnh n In. R rng, một
quan niệm như thế về tự tri c lẽ đ được nghĩ ra ph hợp với thuyết st
na m chnh Trần Na ủng hộ v theo đ khng c g giữ nguyn ngay cả trong
một khoảnh khắc. Thế nhưng giả sử rằng sự tự tri của một nhận thức lun
lun mang cng dạng, khng kể nhận thức đ khởi lc no v ở đu, th lc
đ chỉ c một nhận thức về chnh n trong khi lại c v số nhận thức về
đối tượng. Trong trường hợp đ,
C1 = I1 + O1,
v
C2 = I2 + (I1 + O1),
v vn vn, cho đến
Cn = In + (In-l + On-l).
Nay, điểm th vị nhất từ giả thiết ny l biểu thị nếu cho nhận thức Cn
th chủ thể khng cần phải trải qua n loạt nhận thức, như thuyết minh
Cn = In + On = (In + (In 2 + (In 3... (I1 + C1))))
của Trần Na cho thấy. Đng ra, bất cứ khi no cho nhận thức Cn, th do giả
thiết mọi I đều đồng nhất
Cn = I + C1
sẽ khng cần phải trải qua n loạt cc nhận thức mới c thể định vị nhận
thức về một đối tượng O1. Điều ny đng trong hầu hết cc trường hợp nhận
thức, trong đ khng thể tm thấy khc biệt no giữa nhận thức về đối
tượng v nhận thức về chnh n. Điều kh kỳ lạ l nếu Cn = I + O1 l đng
th khng thể c nhận thức về một nhận thức, ngoại trừ khi n được cho l
như vậy, bởi v sẽ khng c sự khc nhau cho d n tương đương với 1 hay
một triệu chẳng hạn. Nhận xt ny thật kỳ lạ, khng chỉ v n rất khớp với
những g tự thn chng ta kinh nghiệm được trong đời sống thường nhật, m
cn v hnh như n phản nh những g Maitreyanātha v Thế Thn đ ni về
khi niệm tự tri v tự thức, như ta hiểu. Ta đ thấy rằng Thế Thn
ngầm chỉ ra cc kh khăn nghim trọng trong thuyết tri nhận của Tỳ B Sa
v những người như họ. Nay nhờ vo sự thuyết minh cng khai khi niệm tự
tri v tự thức của Trần Na, ta c thể thấy tại sao những kh khăn lại
xuất hiện trong thuyết của Tỳ B Sa v c hng c thể giải quyết như thế
no. Với quan niệm về một dạng nhận thức của mnh, Tỳ B Sa buộc phải đồng
nhất nhận thức về một đối tượng với tự thn đối tượng đ, v v thế buộc
phải bn đến vấn đề ci g l thực, từ đ sinh khởi những kh khăn ni
trn của họ. V lẽ đ, để giải quyết buộc phải đưa vo một biểu đồ khi
niệm hon ton mới. Khi niệm về tự tri v tự thức Thế Thn đề ra trong
Nhị Thập Tụng rất ph hợp với đi hỏi ny. Điều m khi niệm bnh dung ny
m chỉ l ta khng thể v cớ đồng nhất nhận thức về đối tượng với tự thn
đối tượng v thử thay thế n bằng nhận thức của ta (Pht biểu r rng đầu
tin về vấn đề ny đạt được bởi Hattori, op. cit., p.108. ng đ chỉ ra
bằng cch no m Tỳ B Sa v những người như họ đ đồng nhất
visayajānajāna với visayajāna. Khng may l chnh ng lại khng đnh
gi được sự thật phổ qut m Thế Thn v cc nh Yogācāra đ đề ra để
ph phn một sự đồng nhất như thế. V vậy, ng vẫn tiếp tục đưa ra cc
pht biểu kiểu Cc nh Du-gi khng thừa nhận sự tồn tại của ngoại cảnh.
Họ lưu rằng đối tượng của nhận thức trong giấc mơ khng c một thực tại
tương ưng, rằng cng đối tượng đ lại được nhận thức theo nhiều cch khc
nhau bởi những người khc nhau, v.v., v họ khẳng định rằng đối tượng chủ
yếu đ hm tng (essentially immanent) trong nhận thức (op. cit., p.104).
Cn g xa sự thực hơn v phi l hơn?); hay chnh xc hơn, đối tượng chỉ
được biết đến chừng no c thể c tri nhận về n. Ni cch khc, lun lun
c khả năng l ta c thể đạt được một tri nhận mới khc hẳn với những g
đ được biết.
Kết quả, ta khng thể ni bất cứ điều cuối cng no về một đối tượng, như
Tỳ B Sa v những người khc đ lm với thuyết của họ về ci g l thực v
ci g l khng thực, về một đối tượng c thể được định nghĩa đng như thế
no, về tri nhận no đng v tri nhận no khng đng; ni tm lại, về mọi
thứ m họ c thể nghĩ đến. Trong tnh huống như thế, những g ta c thể
ni nhiều lắm chỉ l: về phần đối tượng, n được chng ta biết đến, với
điều kiện l vo lc ny ta c sự tri nhận về n, v rồi tiếp tục m tả
chng ta đ biết được bao nhiu về n, v với lượng hiểu biết đ, lm thế
no ta c thể định nghĩa n để c thể đề ra một giả thuyết c gi trị v
để c thể thiết lập một phương tiện truyền đạt chung giữa những ai c quan
hệ. Điều chng ta nghĩ đến l nếu thế th bất kỳ loại đối tượng no cũng
bị giới hạn bởi tri nhận ta c về đối tượng đ. Tương tự, những g ta tri
nhận về thế giới hon ton bị giới hạn bởi tri nhận ta c về thế giới đ,
giống hệt như người taimirika nhn thấy những sợi lng, mặt trăng, v.v.,
khng thật. Như vậy, những giới hạn được p đặt ln chng ta do chnh
nhận thức của chng ta theo cch nhn v ni của chng ta về một đối tượng
th giống hệt những giới hạn do tc động của một loại bệnh mắt gọi l
timira, từ đ xuất pht từ ngữ taimirika người mắc bệnh timira, một điều
m Thế Thn, theo đng tư chất của ng, m chỉ. Vậy, bệnh timira l g?
Trong tất cả cc tc phẩm của ng, ta khng tm ra bất cứ định nghĩa r
rng no về từ ny, mặc d n khng những được dng trong Nhị Thập Tụng m
cn cả trong Cu X Luận (Abhidharmakośa III ad 100 a-b, LVP 213.). Như
vậy, sự kiện Cu X Luận c dng đến từ ny loại bỏ một cch hiển nhin
bất kỳ khả năng sử dụng hnh ảnh một người taimirika để khẳng định rằng đ
l một minh họa của một triết học duy tm v tương tự. Bởi v, ngay cả
những người cố thiết lập một quan hệ nội tại no đ giữa Cu X Luận v
Nhị Thập Tụng cũng khng dm chủ trương rằng một loại duy tm luận no đ
đ tồn tại trong nhiều khuynh hướng tư tưởng khc nhau được trnh by
trong Cu X Luận (Schmithausen, Sautrāntikā-Vorausetzungen in Vimśatikā
und Trimśatikā, WZKSOA XI (1967): 109-136.). V thế việc tm ra những dấu
hiệu v triệu chứng của căn bệnh ny như đ được m tả v hiểu vo thời
Thế Thn th rất quan trọng, khng chỉ để hiểu đng nghĩa bng cu ni
trn, m cn để xc định nghĩa của n trong cch dng của Cu X Luận v
sau đ l Nhị Thập Tụng. Trong Cu X Luận, Thế Thn đ trnh by một sự
tương tự triệt để với cc thuyết về y học, nhất l những thuyết lin quan
đến phi sinh học v thai sinh học, như đ được m tả trong cc y thư tiu
chuẩn của thời ng; trong số đ phải kể đến những cuốn nổi tiếng nhất như
Carakasamhitā v Suśrutasamhitā (Abhidharmakośa III ad 15a-b, LVP n
50-52.). Tuy nhin, Carakasamhitā khng cho định nghĩa no về cc dấu hiệu
v triệu chứng của bệnh timira, khng c cả bệnh nguyn v bệnh l của n;
n chỉ liệt k tn bệnh ny trong số cc bệnh pht xuất từ cc lỗi của
gi (Carakasamhitā, Sūtrasthānam XX. 11, vol. I: n 330-331.). Tri lại,
Suśrutasamhitā trần thuật rất chi tiết về bệnh ny, khng chỉ cc dấu hiệu
v triệu chứng của n cũng như bệnh nguyn v bệnh l, m cả cch chữa v
lời dự bo. Cc đoạn m tả viết như sau:
Cc nh nhn khoa ni rằng con ngươi của con người chỉ bằng cỡ một hạt đậu
nhỏ, do năm nguyn tố chiếu sng tạo thnh. N được m tả l c độ sng
lấp lnh của con đom đm với cc hạt nh sng. N c hnh lm được phủ bởi
cc mng ở pha ngoi của con mắt. N thuộc thể tnh lạnh. Nay chng ta sẽ
m tả mười hai căn bệnh đng sợ bắt nguồn từ n v sự hiện hnh của
timira, căn bệnh chỉ ảnh hưởng đến cc mng.
Khi căn bệnh cực kỳ hiểm ngho thm nhập qua cc tĩnh mạch mắt để chiếm cứ
lớp mng trong cng của con ngươi th người ta thấy mọi thứ rất kh phn
biệt. Khi bệnh ảnh hưởng đến lớp mng thứ hai, con ngươi trở nn bị kch
động mạnh, v người ta thấy cc con ong, con muỗi, sợi lng, tấm lưới,
hnh trn, cờ x, cc chấm li ti giữa khng trung, cc vng trn v cc
vật giống như bị bao phủ trong đm sương m, hoặc như được đặt dưới một
lớp nước, hoặc như được nhn thấy trong mưa; một vật được cho l đang đứng
ở xa lại tỏ ra gần, v khi được cho l gần, [th n lại xa], v v sự giao
động ở điểm hội tụ của con ngươi, người ta khng thể thấy, d rất cố gắng,
con mắt rất nhỏ của cy kim. Khi bệnh ảnh hưởng đến mng thị gic thứ ba,
người ta thấy cc vật ở chp nhưng khng [thấy] cc vật ở đy. Ngay cả vật
to lớn hnh như cũng bị bọc một tấm vải. Người ta thấy cc vật với tai,
mũi v mắt bị đảo ngược. Khi bệnh trở nn trầm trọng, n cn lm mo cả
con ngươi. Như thế, chừng no bệnh ảnh hưởng đến phần dưới mng mắt, người
ta khng thể thấy ci ở gần; nếu n ảnh hưởng đến phần trn, người ta
khng thấy ci bn cạnh; nếu n ảnh hưởng đến phần bn, [người ta khng
thấy ci ở chp v ci ở đy]; nếu n ảnh hưởng đến ton mng, người ta
thấy mọi thứ như hon ton trở nn lộn xộn. Khi bệnh ảnh hưởng trung tm
con ngươi, ci người ta nghĩ l một, lại thấy thnh hai. Khi bệnh ảnh
hưởng cả hai bn con ngươi, một vật thnh ra ba vật; v khi n ảnh hưởng
ton con ngươi, người ta thấy một vật trở thnh nhiều vật.
Nay chng ta hy tả bệnh timira. N đng l loại bệnh ảnh hưởng đến mng
ngoi cng. Khi con ngươi hon ton bị ngăn ngại bởi n, n được gọi l
bạch nội chướng chết người; khi bệnh trạng chưa hon ton tồi tệ để khiến
cho n bị m hẳn, người ta vẫn c thể thấy mặt trăng, mặt trời, cc v sao
trn trời, một tia chớp hay bất cứ cc vật chiếu sng, lộng lẫy v rực rỡ
no khc giống như chng. Bạch nội chướng chết người cũng được gọi l
nīlikā hoặc kāca.
[Về timira,] trong trường hợp bị chấn thương, người ta thấy cc vật như
đang di chuyển, khng r rng, lộn xộn v mo m. Trong trường hợp bị nước
mật tiết ra nhiều, người ta thấy cc chuỗi mặt trời, đom đm, cầu vồng v
tia chớp [giống như] lng đui sặc sỡ của một con cng c sắc xanh đậm
tiếp gip với sắc đen. Trong trường hợp bị đm, người ta thấy một cụm my
trắng c một di trắng tinh giống như một ci g đ rất th tri chảy
trong nước vo một ngy khng my v di chuyển ln xuống giống như đang
bơi trong một ging lũ. Trong trường hợp bị đỏ, người ta thấy cc vật hiện
ra mu đỏ, bọc trong sương m, c mu xm nhạt, đen nhạt, v c khi cả hai
mu. Trong trường hợp bị tuyệt vọng, người ta thấy cc vật chuyển đổi khc
nhau để thnh gấp đi, hoặc gấp ba hoặc nhiều lần v cc ngi sao v hnh
tinh hoặc thiếu hoặc c thm cnh đang tri quanh khắp nơi
(Suśrutasamhitā, Uttaratantram VII. 1-24.).
Đọc hết phần m tả được dịch từ Suśrutasamhitā trn đy, r rng những g
được gọi l timira của cc mng thị gic chnh l một số dạng của bệnh
bạch nội chướng. Căn cứ vo nhn khoa học ngy nay (Mays Manual of the
Diseases of the Eye for Students and General Practitioners, rev. & ed.
James H. Allen, Baltimore: The Williams and Wilkins Company, 1963: 192.),
bạch nội chướng được biểu thị qua sự mờ đục của thủy tinh thể hay của nhn
b v c bốn triệu chứng sau: (1) thị gic mất độ chnh xc, (2) nhn thấy
cc chấm cố định khng thật trong khng gian, (3) thỉnh thoảng bị rối loạn
thị gic hoặc nhn thấy một vật thnh nhiều vật, v (4) bị cận thị ở giai
đoạn đầu. Bệnh ny c thể phn thnh hai dạng: bạch nội chướng diễn tiến
hoặc bạch nội chướng suy thoi. Loại sau chắc chắn l trường hợp m
Suśrutasamhitā gọi l bạch nội chướng chết người, linganāśa. Như vậy,
với cc tnh chất nu trn, r rng timira l dạng tiệm tiến của bạch
chướng nhn, trong đ tnh trạng mờ đục của thị gic, tnh trạng phức thị,
đa thị, cận thị v tương tợ xảy ra. Như Suśrutasamhitā đ pht biểu một
cch văn hoa l chỉ c bạch nội chướng ly nhiễm mng thị gic thứ tư mới
c thể xem l bệnh timira thật sự, tức tc giả của y thư ny đ thật sự
xem căn bệnh ly nhiễm cả bốn mng thị gic chnh l timira, như ng đ
cẩn trọng trnh by một cch hiển nhin trong phần ni về việc chẩn bệnh
(Suśrutasamhitā, Uttaratantram XVII, 53-54), cng với một pht biểu khng
r rng timira chỉ ảnh hưởng đến cc mng trong đoạn trch dịch trn.
Điều ny sẽ giải thch cho chng ta tại sao Thế Thn ni về người mắc bệnh
timira nhn thấy cc sợi lng, mặt trăng, v.v., một triệu chứng m theo
Suśrutasamhitā chỉ xảy ra khi bệnh ảnh hưởng đến mng thứ hai, v con
ngươi trở nn bị kch động mạnh. Thật vậy, một triệu chứng như thế đều
được cc nh y học thời trước trn thế giới xem như đang chỉ cho sự tiến
triển của bạch chướng nhn trong giai đoạn sơ khởi của n. Chẳng hạn,
chng ta c một m tả tương tự của một bc sỹ Ả rập nổi tiếng Hunain Ibn
Is-Hao (809-877 sdl) (Hunayn ibn Is-Hāq al-Ibādī, Kitāb al-ashr Masālāt
fil-Ain, ed. Max Meyerhof, Cairo: Goverment Press, 1928: 130-131:
al-mā.). Vậy th, đối với Thế Thn, cc triệu chứng v dấu hiệu của bệnh
ảnh hưởng đến cả bốn mng thị gic được m tả trong Suśrutasamhitā đều
thuộc về cc triệu chứng v dấu hiệu của bệnh timira, chứ khng phải chỉ
những g được Suśrutasamhitā m tả ring cho trường hợp thật sự của
timira, tức trường hợp bệnh chỉ ảnh hưởng đến mng thứ tư.
Một sự hiểu biết như thế của Thế Thn về loại bạch chướng nhn tiến triển
cho thấy r rằng chắc chắn ng đ rất quen thuộc với Suśrutasamhitā hoặc
một trong những cẩm nang của n, bởi v chỉ n, chứ khng phải
Carakasamhitā, mới c một m tả chi tiết như thế về bệnh ny như ta thấy ở
trn. Dĩ nhin, chng ta khng thể ni bất cứ điều g về cc y thư đ mất
c lẽ đ được lưu hnh vo thời của Thế Thn m ta khng biết đến. Một sự
quen thuộc như thế của ng sẽ khng gy ngạc nhin nếu xt đến sự kiện bản
Suśrutasamhitā ngy nay đ thừa nhận rằng n đến từ tay của một Long Thọ
no đ (Khi bnh giải về Suśrutasamhitā, Sūtrasthānam I.1, Dalhana viết:
idam pratisamskartrsūtram yatra yatra parokse lidprayogas tatra tatraiva
pratisamskartrsūtram jātavyam iti/ pratisamskartāpīha nāgārjuna eva/
atha śabdonantarārtha eva/). Một số tc giả đ đưa ra l lẽ rằng vị c
tn Long Thọ ny, ngoi cuốn Suśrutasamhitā ra, đ được biết đến l tc
giả của nhiều tc phẩm khc về thuật luyện kim v y học, v khc với Long
Thọ, vốn l vị tổ sư nổi tiếng của Trung Luận tng v l bậc tiền bối
tiếng tăm của Thế Thn (P. C. Ray, History of Chemistry in Ancient amd
Medieval India, Rev. & ed. P. Ray, Calcutta: Indian Chemical Society,
1956: 117-118.
L Mạnh Pht, Sơ Thảo Lịch Sử Hnh Thnh Văn Hệ Bt Nh, Si Gn, 1968:
214-217.). Th dụ, họ chỉ ra rằng hầu như tất cả cc sch về thuật luyện
kim v y học mang tn Long Thọ đầu đều c xuất xứ thuộc đời sau m họ ấn
định vo khoảng thế kỷ thứ VIII hoặc thứ IX sdl, mặc d khng một bằng
chứng xc thực no được đưa ra. Điều kh kỳ lạ l họ đ khng để đến,
như L Mạnh Pht v những người khc sau đ đ chỉ ra, sự kiện rằng cc
sch về y học v thuật luyện kim mang tn Long Thọ đ được dịch sang Hn
văn từ giữa thế kỷ thứ VI (L Mạnh Pht, Sơ Thảo Lịch Sử Hnh Thnh Văn Hệ
Bt Nh, Si Gn, 1968: 214-217.). Như vậy, khng thể no ấn định ngy
thng của tc giả cc cuốn sch viết về y học v luyện kim mang tn Long
Thọ l một người thuộc thế kỷ thứ tm hay muộn hơn, khoan ni đến giả
thiết l c hai Long Thọ. V thế, chng ta xem Long Thọ, tc giả của
Suśrutasamhitā ngy nay, v Long Thọ, sơ tổ Trung Luận tng v tc giả của
một số sch về y học v thuật luyện kim, chỉ l một người. Một khi đạt đến
một kết luận như thế, sự kiện Thế Thn tỏ ra rất thnh thục với
Suśrutasamhitā thật sự sẽ khng gy ngạc nhin cho bất kỳ ai. ng hẳn đ
đọc n t nhất l một lần trong khi khảo cứu tư tưởng của Long Thọ, đặc
biệt l khi niệm về tnh khng được Long Thọ trnh by trong tc phẩm
Trung Luận nổi tiếng của ng lin quan đến một quan niệm tương tự được
Maitreyanātha m tả trong Madhyāntavibhāga (Trung Bin Phn Biệt Luận),
tc phẩm m chnh Thế Thn đ viết một bản sớ giải về n.
Với tất cả cc m tả trn về trường hợp bệnh timira, chng ta c thể ni
g về th dụ người mắc bệnh ny nhn thấy những sợi lng, mặt trăng, v.v
khng c thật m Thế Thn đ dng để m tả tnh trạng nhận thức của chng
ta về thế giới ngoại tại? R rng, ta khng thể ni theo kiểu nhiều tc
giả từ trước đến nay từng ni, những người chng ta đ c dịp nhắc đến
nhiều lần trước đy. Họ nghĩ rằng th dụ trn của Thế Thn nhằm by tỏ
quan điểm hay học thuyết của ng cho rằng khng c g hiện hữu trn thế
giới ny ngoại trừ những g do tr tưởng tượng của ta tạo ra, giống hệt
như mọi vật m người mắc bệnh timira nhn thấy đều chỉ l sản phẩm của cặp
mắt bệnh hoạn của người đ. Những vật ny đều khng thực như bất cứ ci g
ta c thể nghĩ đến. V thế, theo cc tc giả ny, ci nhn của Thế Thn
cũng giống hệt như ci nhn của người bệnh timira, nhn thấy được mọi thứ
nhưng tất cả đều khng thực, tất cả chỉ l cc biểu hiện của căn bệnh
ring của ng v đều do căn bệnh ny quy định. Nếu đ thật sự l ci nhn
của Thế Thn về thế giới th chắc hẳn ng đ mắc phải bệnh timira qu trầm
trọng v nn được điều trị bằng y dược hơn l bằng những suy luận triết
học m cc tc giả ni trn đ bắt ng phải chịu. V nếu đ thật sự l ci
nhn của Thế Thn về thế giới th điều kỳ dị l một người bệnh timira lẽ
ra phải nhn thấy theo cch khc để c thể chỉ ra một thế giới khc với
thế giới của chnh mnh. V lc đ nghĩa của th dụ trn sẽ l g?
Chng ta đ ni rằng c rất nhiều quan điểm v học thuyết tri ngược nhau
về thế giới v con người phổ biến vo thời của Thế Thn. Th dụ về trường
hợp của nguyn tử, vấn đề m chng ta đ c dịp bn đến chi tiết ở trn.
Ta đ thấy rằng đối với Thắng Luận, nguyn tử l ci g đ thường hằng,
bất khả tri v c một tnh chất đặc biệt l ci ton thể, trong khi đối
với Tỳ B Sa th nguyn tử đều khng c những tnh chất trn. Nguyn tử
đối với họ l ci g đ mang tnh st na diệt, tức khng cố định v thay
đổi lin tục, c thể tri nhận với chỉ một điều kiện, v khng cn thuộc
tnh no khc. R rng c ci g đ bất ổn trong trường hợp ny. Nguyn tử
khng thể vừa thường hằng vừa thay đổi cng một lc, n cũng khng thể vừa
khả tri vừa bất khả tri, cũng khng thể cng lc vừa c vừa khng c cc
thuộc tnh khc. R rng, c ai đ chắc hẳn đ nhn thấy nguyn tử dường
như khng được r rng, mơ hồ v mo m, chắc hẳn đ mắc phải một loại
timira no đ, mới đi m tả hai hnh ảnh hon ton tri ngược nhau về cng
một sự vật. Đ l chưa kể v số quan điểm khc về cng một thực thể c tn
l nguyn tử đ được diễn giải phổ biến vo thời Thế Thn.
Chẳng hạn, chng ta c quan niệm kỳ quặc của Kỳ Na Gio cho rằng nguyn tử
c linh hồn ring của n v v thế ta khng nn lm tổn thương nguyn tử
bằng một hnh động th bạo no đ đối với n; nếu khng, ta sẽ mang tội.
Trước những quan điểm khc nhau v hnh như lun lun mu thuẩn nhau về
một thực thể đơn giản như nguyn tử ny, một điều đng ngạc nhin l khng
c nhiều người trong số đ c được những suy nghĩ như của Thế Thn v một
t người đi trước ng. Họ c từng nghĩ rằng khng chỉ c ci g đ bất ổn
với quan điểm của những người đối nghịch họ m ngay cả trong chnh quan
điểm của họ c lẽ cũng đ c ci g đ bất ổn? Hnh như tất cả đều thỏa
mn trong sự chấp chặt quan điểm ring của mnh trong sự an nhin v tự
tin một cch hon mn của họ, v tiếp tục ph phn một cch hồ đồ bất cứ
điều g họ khng đồng hoặc khng vừa . Với một tnh huống như thế,
một điều khng cn thắc mắc đối với Thế Thn l chừng no ngoại cảnh cn
được quan niệm như Thắng Luận hoặc Tỳ B Sa th bất cứ ci g ta tri nhận
hay liễu giải về n hnh như khng g hơn việc nhn thấy những sợi lng,
mặt trăng, v.v., khng thật của người mắc bệnh timira. Thật vậy, ng sẽ
rất ngạc nhin nếu xảy ra trường hợp ngược lại, bởi v với nhiều quan điểm
mu thuẩn khc nhau nu trn, ngay cả một người tương đối t học cũng phải
nghi ngờ về điều g đ bất ổn của họ. Hơn nữa, trong khi tất cả những
người chủ trương cc quan điểm tri ngược đều đồng l đang ni về cng
loại nguyn tử, th r rng nếu c một thực thể mang tn nguyn tử nhưng
lại c trn một quan điểm về n th điều tất yếu l chắc chắn c ci g đ
bất ổn thuộc về cc quan điểm nynhững quan điểm, như đ thấy, hầu như
lun lun tri ngược nhau qu hiển nhinchứ khng phải thuộc về nguyn
tử, vốn c thể chỉ đưa ra một quan điểm độc nhất về chnh n trong một sự
phn tch rốt ro. Kết quả, ta phải thừa nhận rằng khi tất cả cc quan
điểm về nguyn tử đang thịnh hnh vo thời ng được xt đến, chng thật sự
để lộ cho Thế Thn thấy một trường hợp tối hảo khng chỉ của căn bệnh phức
thị m cn cả đa thị v cc dạng khc, những g đ hnh thnh trọn vẹn
tnh chất cc triệu chứng của một người mắc bệnh timira. Đối với ng, thất
bại v sai lầm của Tỳ B Sa v những điều tương tự của họ nằm ở việc họ
đồng nhất ci họ biết về đối tượng với tự thn đối tượng v v thế đ loại
bỏ bất cứ khả năng thử nghiệm v xc chứng những hiểu biết họ thủ đắc c
thể được đồng nhất như thế hay khng. V thất bại cũng như sai lầm ny,
như ta đ thấy, bắt nguồn từ một thất bại v sai lầm nghim trọng v cơ
bản hơn nhiều; đ l việc thiếu một l thuyết về tự tri v tự thức.
Chnh v thiếu ci l thuyết dung dị ny m Tỳ B Sa v những người như họ
buộc phải, như chng ta đ chứng minh ở trn, tạo ra về mặt luận l một sự
đồng nhất giữa những g họ biết về một đối tượng với bản thn đối tượng
đ.
Dĩ nhin, chẳng c g sai với một sự đồng nhất như thế, vốn l tiến trnh
lm nền tảng cho việc thiết lập một tri nhận về đối tượng như chng ta đều
biết. Tuy nhin, điều sai lầm trong trường hợp của Tỳ B Sa v những người
như họ l họ nghĩ rằng những g họ biết về một đối tượng đều được rt ra
từ đối tượng đ v c thể được đồng ha v đồng nhất một cch chnh xc
với đối tượng đ. Như vậy, khi sự đồng nhất được thực hiện trong giới hạn
của thuyết tự tri v tự thức, ta lun lun thức đến sự kiện rằng chnh
sự tri nhận m ta c về một sự vật l ci ta cố đồng nhất với sự vật đ.
Trong trường hợp của Tỳ B Sa v những người cng hội cng thuyền của họ
đ đnh mất ci thức về sự kiện ny. V sự đnh mất ny bắt buộc phải
xảy ra, bởi v sự thật phổ qut của sự tự tri v tự thức hnh như lun
lun nằm ngoi tầm với của họ. Kết quả l mọi kh khăn sinh khởi do thuyết
tri nhận của Tỳ B Sa v Thắng Luận khng thể no giải quyết trong phạm vi
học thuyết của họ. Chng thật sự khng thể giải quyết v khng bao giờ hy
vọng được giải quyết trong phạm vi đ cho d chng ta c nhọc cng sửa đổi
n như thế no đi nữa. V vậy, như đ ni, một khun khổ quan niệm mới
phải được đề ra, v sự thật phổ qut của sự tự tri v tự thức hon ton
thch ứng với đi hỏi ny. Sự thật ny chỉ khẳng định rằng sẽ khng c
nhận thức nếu ta khng biết rằng ta đang nhận thức, v do điều kiện nhận
thức ny của con người m bất cứ ci g ta biết về bất cứ đối tượng no
cũng khng tương đồng với tự thn đối tượng đ; đng hơn l, chnh nhận
thức về đối tượng đ khiến cho ta tri nhận được n. V vậy, giống hệt như
những người mắc bệnh timira m mắt của họ bị bạch nội chướng ảnh hưởng c
thể nhn thấy mọi thứ m chng ta khng nhn thấy với cặp mắt bnh thường
th những ai m ci nhn của họ bị tc động bởi cc định kiến cũng c thể
nhn thấy một đối tượng khc với chng ta. V thế, chỉ sau khi thức được
sự thật hiển nhin của sự tự tri v tự thức th ta mới c thể nhận ra
tại sao v bằng cch no cc quan điểm tri ngược trn của Tỳ B Sa v
Thắng Luận lại sinh khởi v chng c thể loại bỏ bằng cch no. Đy l
cng việc chủ chốt của Nhị Thập Tụng v cũng l nghĩa của th dụ về
taimirika.
Sau khi pht biểu như thế, người ta c thể dễ dng nhn thấy nguồn gốc
cũng như cch thế của v số diễn giải sai lệch m cc học giả nghim tc
v đi khi lại rất c thẩm quyền đ đưa ra về Thế Thn, đặc biệt về luận
thư Nhị Thập Tụng. Cc học giả ny khi gn cho Thế Thn nhn hiệu duy tm
luận chắc hẳn đ nghĩ rằng tất cả những g được ng khẳng định trong Nhị
Thập Tụng v nhất l trong th dụ về taimirika đều ni về ngoại giới, về
trần cảnh. Chng ta khng biết tại sao luận thư trn lại được đọc một cch
nng cạn như thế. Nhưng chng ta biết chắc một điều l tnh trạng đọc hiểu
hời hợt như thế l một diễn giải sai lạc tư tưởng của Thế Thn, một ngộ
nhận trầm trọng, chỉ v một l do đơn giản l n l những g n l, một
diễn dịch sai lầm, khi nhn từ quan điểm thượng thặng của những g đ được
ni ở trn. Để minh chứng điều ny, người ta c thể dễ dng đưa ra một
số trường hợp trong đ việc đọc hiểu cạn cợt ni trn đ xảy ra; trong đ,
trường hợp phổ biến nhất chắc chắn l việc hiểu từ ngữ avabhāsana m chng
ti đ dịch l sự tự tri. Từ ny thường dịch l sự xuất hiện (Xem cước
ch No. 53 ở trn. Thật th vị để chỉ ra ở đy rằng avabhāsana v ābhāsa
c cng nghĩa, v cc nh dịch thuật Ty Tạng cũng đồng như thế.) v
trong ton bộ cc tc phẩm của Thế Thn chng ta khng c chỉ dẫn no về
nghĩa của n l g. Tuy nhin, khi đọc cc tc phẩm của Trần Na, nhất l
Pramānasamuccaya v Ālambanaparīksā, một điều hiển nhin l từ ngữ đ
khng c nghĩa l sự xuất hiện hay bất cứ nghĩa no cng loại. Đng ra,
n l một thuật ngữ dng để chỉ trường hợp ta biết được rằng ta biết ci
g đ. Như vậy, chẳng hạn khi Trần Na ni nhận thức khi nhận thức đối
tượng, một sự vật c mu, v.v., [th n] c sự xuất hiện của đối tượng v
sự xuất hiện của chnh n (Dignāga, Pramānasamuccaya I p.15a7-8: ran rig
la yan hdir hbras hu/ śes pa ni snan ba gis las skyes te/ ran gi snan ba
dan yul gyi snan baho/ snan ba de gis las gan ran rig pa de ni hbras bur
hgyur ro//.), điều ng thật sự muốn ni l khi người no đ biết được ci
g đ th anh ta biết được ci đ v đồng thời biết rằng anh ta biết n.
Ni cch khc, khi một nhận thức nhận thức một đối tượng, n c sự tri
nhận về đối tượng đ v sự tri nhận về chnh n.
V thế, avabhāsana phải được chuyển ngữ thnh sự tự tri, bởi v ta khng
thể biết một đối tượng m khng hay biết rằng ta biết được đối tượng đ.
Một khi đ hiểu như thế, điều hiển nhin l luận đề được cng bố trong bi
tụng đầu của Nhị Thập Tụng bất cứ ci g ta biết chỉ l ci khiến cho ta
biết, đối tượng của n th khng thực v n l một sự tự tri, giống hệt
như sự nhn thấy cc sợi lng, mặt trăng, v.v., khng thực của một người
mắc bệnh bạch nội chướng, khng thể được diễn giải theo cch no khc
ngoi nghĩa cng bố một sự thật phổ biến về sự tự tri v tự thức. C
lẽ do khng hiểu được chnh xc từ ngữ avabhāsana nn đ pht sinh qu
nhiều diễn giải sai lạc ni trn. Hiển nhin, đy chỉ l một gợi , v như
chng ti đ ni, chng ti khng biết được chnh xc tại sao lc đầu
chng lại xảy ra.
Sau khi xc định v m tả cch thức Thế Thn giải quyết nhiều kh khăn
khc nhau do cc học thuyết của Tỳ B Sa v Thắng Luận gy ra, điều trở
nn cng cấp bch hơn l ng phải loại bỏ ton bộ cc thuyết ny m khng
cn hy vọng cứu chữa chng d tất cả hay chỉ một phần. Khng cn vấn đề
thử nghiệm từng thuyết một để xem c ci no tương ứng với sự thật hay
khng. Để thế chỗ chng, phải cần đến một thuyết tri nhận mới. Thuyết mới
ny khng chỉ đp ứng đi hỏi khi niệm mới đề ra của Thế Thn về sự tự
tri v tự thức m cn cả đi hỏi do những khm ph luận l của ng đặt
ra. Về khi niệm tự tri v tự thức, tri nhận phải được định nghĩa như
một loại nhận thức đang nhận biết đối tượng, nhưng đồng thời cũng nhận
biết chnh n. Ni cch khc, khi ti tri nhận ci g đ th khng những
ti đang tri nhận n, m đồng thời cn biết rằng ti tri nhận n.
Với đi hỏi của khi niệm tự tri v tự thức ny, sẽ khng cn thắc mắc
l trong Vādavidhi được chng ta dẫn trước đy, Thế Thn đ định nghĩa tri
nhận l một nhận thức sinh khởi chỉ từ đối tượng m n được đặt tn bởi
đối tượng đ, một định nghĩa m Trần Na ph phn nặng nề trong số những
điều khc với lập luận l đối tượng tri nhận th khng thể gọi tn
(Dignāga, Pramāmasamuccaya I p.17a1-3.). Bởi v, nếu ti biết rằng ti tri
nhận ci g đ, t ra ti cũng c thể gọi tn n bằng những chữ đầu tin
như ci g đ. V thế quan niệm đối tượng của tri nhận th khng thể
diễn tả l một quan niệm hon ton xa lạ với tư tưởng Thế Thn. Thật vậy,
như ta sẽ thấy, chnh khả năng được gọi tn của sự vật lm vận hnh nhiều
tiến trnh khc nhau của thức, một điều m Thế Thn c thể đ m tả
trong Tam Thập Tụng l xuất pht từ sự m tả về ng v php,
ātmadharmopācara. Đối với ng, sự kiện đối tượng của ci g đ th khng
thể diễn tả l điều khng thể nghĩ đến. Đy l một trong những khc biệt
lớn cho thấy Thế Thn khc với Trần Na. V về mặt ny, ta phải thừa nhận
rằng khi niệm về sự khng thể diễn tả l một khi niệm ngho nn, nếu
khng phải l phi l. Bất cứ ai đ đọc phần bn về tri nhận trong cuốn
Pramāma-samuccaya của ng kh lng trnh được ci cảm gic l c ci g đ
bất ổn với tc phẩm ny, nhất l khi ng cố thc p định nghĩa về tri nhận
của Cu X Luận vo quan điểm ring của mnh (Dignāga, Pramāmasamuccaya I
p.14b2-4.). V thế, đối với đi hỏi của khi niệm tự tri, Thế Thn đ định
nghĩa tri nhận qua khả năng c thể diễn tả của đối tượng của n.
Khi tri nhận được định nghĩa như thế, n c thể được chứng minh một cch
hiển nhin về mặt chn hay giả của n, cho d n l một loại nhận thức no
đ khc với cc loại khc. N cũng c thể được tm hiểu để xem ci g tạo
nn đối tượng của n, cũng như n c thật sự hiện hữu hay chỉ được mơ thấy
hay do sự kiệt sức trn sa mạc tạo ra. Tm lại, n l một dạng nhận thức
c thể dễ dng rơi vo sai lầm như bất cứ dạng no khc, v v thế phải
được chứng thực đng đắn như được đi hỏi. Khả năng rơi vo sai lầm ny
của tri nhận v tnh chất c thể được chứng thực của n chỉ c thể c nếu
tri nhận được định nghĩa như n đ được định nghĩa, tức n l một nhận
thức sinh khởi chỉ từ đối tượng m n được gọi tn theo đối tượng đ.
Thật vậy, người ta khng thấy được lm thế no nhiều ảo ảnh thị gic khc
nhau c thể được pht hiện nếu khng do sự kiện người tri nhận diễn tả
những g anh ta thấy bằng những g anh ta thấy khi một chủ thể, trong lc
nhn thấy hai đường thẳng c cc đầu mũi tn chỉ vo cc hướng khc nhau,
đ diễn tả ci anh ta thấy bằng những đường thẳng di hoặc đường thẳng
ngắn, mặc d cả hai đường thẳng ny đều được biết l bằng nhau (Indeed,
one does not see how various optical illusions, for example, are detected
if it were not for the fact that the perceiver expresses what he sees in
terms of what he sees when a subject, seeing two lines with their sets of
end-arrows pointing to different directions, expresses what he sees either
in terms of long or short lines, although they are both known to be of
equal length). Đy thật sự l một chỉ dẫn về tnh chất đương đại của tư
tưởng Thế Thn cũng như tnh chất ưu việt của n.
Vo đầu chương ny, chng ta đ ni rằng chnh những khm ph luận l của
ng. đặc biệt l thuyết lan truyền, đ thc đẩy Thế Thn khảo st thể tnh
của tri nhận. Từ những g được m tả, một điều hon ton hiển nhin l tri
nhận chỉ l một phần của nhận thức v n cũng chịu sự quyết định của ngn
ngữ. V thế, n cũng khng c nhiều ưu thế hơn đối với cc phần khc của
nhận thức đ. Nếu cho mỗi một x như A(h,x) v A(s,x) được chứng thực theo
cc điều kiện do chnh A(h,x) đặt ra chứ khng do bất kỳ ci g khc, th
gi trị của một chứng cứ như thế khng km trọng lượng hơn gi trị của một
tri nhận đng. Vậy th điều hiển nhin l khi đối mặt với khi niệm về v
hạn, một điều m theo định nghĩa th chng ta khng bao giờ c thể hy vọng
nhn thấy, ta vẫn hon ton giống như đang ở nh mnh cho d l đang đứng
trước một ci cy đang chặn mất lối về. Dĩ nhin, ta khng thể ni chắc l
những khm ph luận l của Thế Thn đ c một bản chất như thế từ khi no
để chng c thể khơi dậy những hoi nghi kỳ lạ trong đầu ng về thể tnh
của tri nhận. Những g chng ta biết chắc l qua việc chứng thực một cch
hợp l rằng một chứng cứ luận l c thể c gi trị m khng cần phải dựa
vo bất kỳ thực thể ngoi luận l no, th Thế Thn chắc hẳn đ cảm thấy
rằng hnh như ngn ngữ c cch tự hiển by. C lẽ từ cảm gic ny m ngay
cả trong Vādavidhi ng đ định nghĩa tri nhận qua ngn ngữ m đối tượng
của n được nối kết: Tri nhận l một nhận thức sinh khởi chỉ từ đối tượng
m n được gọi tn theo đối tượng đ.
Bằng sự nối kết tri nhận với ngn ngữ ny, Thế Thn lần đầu tin c lẽ đ
tm ra l do đch thực tại sao lại c qu nhiều quan điểm v học thuyết
khc nhau như thế về cng một điều đang thịnh hnh vo thời ng, v chắc
chắc ng cũng đồng thời tm ra rằng c một sự thống nhất no đ trong tiến
trnh nhận thức của con người, m nền tảng của n khng g khc hơn ngn
ngữ loi người. Chng ta sẽ thấy rằng do chnh tri nhận của ng về sự
thống nhất lấy ngn ngữ lm nền tảng đ m ng đ mở ra một tc phẩm quan
trọng khc l Tam Thập Tụng, với luận đề nhờ sự m tả về ng v php m
tiến trnh nhận thức trở thnh c thể c. Giờ đy, nếu mọi tiến trnh nhận
thức đều phụ thuộc vo ngn ngữ th thật tự nhin để hỏi rằng ngn ngữ
quan hệ với cc php như thế no v lm thế no n được biết đến. Đ sẽ l
chủ đề của cc chương sau.
dịch Việt: Đạo Sinh.
(trch đăng từ Tập San Nghin Cứu Phật Học số 15)
|