|
NHỮNG GI TRỊ PHỔ QUT CỦA BỒ TT HẠNH THCH TUỆ SỸ
III. NHN CCH SIU VIỆT
Bi php m đức Thch Tn giảng cho cc Bồ tt Chng hương về mn giải
thot gọi l Tận-V tận l nội dung m Bồ tt cần học tập để theo đ
sống v hnh động với tm tư mở rộng, bao dung, vượt ln mọi giới hạn quốc
giới, chủng tộc, thiết lập những gi trị phổ qut để tất cả mọi cộng đồng
sinh loại cng tồn tại trong nghĩa bnh đẳng, tương thn v tương knh.
Tuy nhin, những gi trị phổ qut cũng vẫn cn l gi trị quy ước. Chng
được nhận thức trong mối quan hệ giữa bn ny v bn kia, d được ni l
siu việt cả hai bn. Chn l được nhận thức từ mối quan hệ l chn l
tương đối. Đ l hiện thực được nhn từ những mặt đối lập: tịnh v uế,
chết v ti sinh Cc triết gia tư biện suy l sẽ đưa cc mặt đối lập của
thực tại ny đi đến một chỉnh thể thống nhất bằng qu trnh biện chứng.
Hiện thực tự phủ định chnh n để trở thnh phi thực. Hiện thực khng tự
phủ định, khng l một mu thuẫn nội tại, hiện thực ấy sẽ khng trở thnh
ci g cả. N khng trở thnh ci khc với n đang hiện hữu. Hiện thực như
vậy l im lm bất động, khng trở thnh. Ci g khng đang trở thnh, ci
đ khng đang l g cả. Thực v bất thực, cặp mu thuẫn ny được nng ln
thnh tổng đề, l Thực tại Tuyệt đối bất nhị.
Long Thọ ni: Ci g l duyn khởi, ti ni ci đ l tnh Khng. Tnh
Khng ấy y trn giả danh, chnh n cũng l trung đạo. (MK. xxiv. 18: yah
pratītyasamutpādah śūnyatām tām pracaksmahe/ sā prajnaptir upādāya
pratipat saiva madhyamā. Hn dịch ca La-thập: 眾因緣生法 我 說 即 是 無 亦 為 是 假 名 亦
是中道義. Cch dịch khiến cc nh giải thch phổ thng hiểu rằng: php sinh
bởi nhn duyn, php ấy l khng, l giả danh, v trung đạo. Nhưng trong
Phạn bản, khng phải php duyn khởi l giả danh v trung đạo; m tnh
Khng l giả danh v trung đạo. Bởi, đại từ sā trong nữa tụng dưới l
giống ci khng thể thay thế từ pratītya-samutpādah (duyn khởi) vốn l
giống đực. Tất nhin n (sā) thay thế từ śūnyatām (tnh Khng) trong nữa
tụng trn), v từ ny giống ci. Xem giải thch của Candrakīrti,
Prasannapada.) Mỗi x hội bao gồm nhiều c thể. Mỗi c thể quan hệ hỗ
tương cng tồn tại. Quy luật tồn tại đ ph hợp với điều m Long Thọ ni
l tnh Khng. Tnh Khng ấy vẫn l khi niệm quy ước tức giả danh. Nhưng
nhn từ điểm thống nhất của hai mặt thực tại, hay của mọi tồn tại, hỗ
tương quan hệ, th tnh Khng ấy l gi trị phổ qut m trn nền tảng đ
mọi thnh vin x hội cng tồn tại trong hỗ tương quan hệ. Gi trị phổ
qut đ, ni một cch rộng ri, l nền tảng cho mọi x hội dị biệt cng
tồn tại, l điều m Long Thọ ni l Trung đạo.
Gi trị phổ qut của x hội ấy lun lun được biểu hiện nơi một người,
hiện thn nơi một nhn vật lịch sử. Đ l kinh nghiệm lịch sử. Do đ để
nhận thức một cch minh nhin v thm nhập gi trị phổ qut, người ta
chim nghiệm lịch sử qua từng nhn vật đại biểu. Ở đy, nếu ta ni, gi
trị phổ qut l điều m Long Thọ gọi l Trung đạo; th Trung đạo ấy được
nhn cch ha, được hiện thn như l Như lai. Như lai l Tuyệt đối thể của
tồn tại. Nhưng cứ từng thời điểm đặc th Như lai xuất hiện để biểu trưng
gi trị đặc th của thời điểm lịch sử ấy. Bởi v, Như lai, trước hết l
nguyn l Như thực của tồn tại n như l chnh n. Ci g tồn tại n như
l n, ci đ lun lun như vậy l như vậy, khng biến đổi. (Candrakīrti,
Prasannapadā, tr. 265: tathābhāvovikāritvam sadaiva sthāyitā.) Đy l
nghĩa cho đoạn kinh, sau khi cc Bồ tt Chng hương trở về quốc độ của
mnh, ở đy đức Phật Thch-ca hỏi Duy-ma-cật: Khi ng muốn thấy Như lai,
ng thấy Như lai như thế no? Duy-ma-cật trả lời: Khi con muốn thấy Như
lai, khi ấy con thấy Như lai bằng sự khng thấy. Con thấy Như lai khng
sinh từ tiền tế, khng đến từ hậu tế, khng tồn tại trong hiện tại. (VKN:
yadā tvam kulaputra tathāgatasya darśanakāmo bhavasi katham tvam
tathāgatam paśyasi?
VKN: yadāham bhagavams tathāgatasya darśanakāmo bhavāmi tadā tathāgatam
apaśyanayā paśyāmi pūrvāntato jātam aparantato samkrāntam pratyutpanne
dhvany asamhitam paśyāmi.
) ng ni tiếp: Bởi v tự tnh Như của sắc l phi sắc; tự tnh Như của
thọ l phi thọ. Cho đến, tự tnh Như của thức l phi thức.
Như lai như vậy l thực tại của thắng nghĩa, chn l tuyệt đối. Ty nhn
duyn, ty điều kiện thch hợp, bởi thời gian v phương vực, Như lai xuất
hiện trong mun vn sai biệt. Th ở đy, trong thế giới quy ước,
Duy-ma-cật l ảnh chiếu từ cảnh giới thắng nghĩa ấy. Cho nn, khng phải
ngẫu nhin hay v tnh m X-lợi-phất lại hỏi Duy-ma-cật: ng thc ở đu
m ti sinh nơi ny? Duy-ma-cật hỏi trở lại: Php m Thượng tọa tự thn
chứng ngộ, php ấy c chết đi v ti sinh chăng? (VKN: sthavirena dharmah
sāksātkrtah kaccit tasya dharmasya cyutỉ upapattir vā?) Đoạn đối đp ny
cũng c nghĩa đặc th. Trước hết, X-lợi-phất hỏi Phật: Cư sỹ
Duy-ma-cật ny chết từ ci Phật no m ti sinh đến ci Phật ny? Phật
khng trả lời m bảo X-lợi-pht nn hỏi thẳng Duy-ma-cật. Rồi hỏi đp xảy
ra như đ dẫn.
Bởi v trong đoạn dịch của La-thập khng c việc X-lợi-phất trước hỏi
Phật, cho nn cc bản ch giải Trung hoa dựa trn bản dịch ny khng biết
đến nghĩa trực tiếp v gin tiếp trong vấn đp ny.
Đối với hng Thanh văn, thn Phật l thn ngũ uẩn, chịu chi phối của quy
luật sinh diệt. V vậy mới c sự kiện Phật bịnh v A-nan đi xin sữa b v
nhn đ m được Duy-ma-cật chất vấn. (Xem phẩm iii Chng đệ tử.) Cũng
theo nghĩa đ m X-lợi-phất muốn biết Duy-ma-cật chết ở đu m sinh ở
đy, c sinh c chết.
Được Phật khuyến khch, X-lợi-phất hỏi thẳng nghĩ của mnh với
Duy-ma-cật, nhưng lại khng nhận được cu trả lời tương ứng với cu hỏi.
Nhưng ng giải thch: Chết l tướng gin đoạn của cc hnh. Sinh l tướng
tiếp nối của cc hnh. (Cc bản Hn dịch c hơi khc với Phạn, VKN:
cyutir iti abhisamskāralaksanapadam etat upapattir ity
abhisamskāraprabhanda , chết l hnh thi của cc tc hnh; sự tiếp nối
của cc tc hnh. ) Điều đ khẳng định sống v chết l những hiện tượng
tiếp nối như những con sng trn đại dương. Khẳng định ny được thấy trong
tất cả kinh điển Phật gio, Nguyn thủy cũng như Đại thừa. Tuy nhin,
trong khẳng định của Duy-ma-cật cn hm chứa tnh đồng nhất giữa hai thế
giới mặc d trn mặt hiện tượng cả hai cch biệt bởi khng gian, v cả
thời gian. Cho nn, trong nghĩa cứu cnh, Duy-ma-cật khng thuộc về thế
giới ny, cũng khng thuộc về thế gới kia. Trong đối thoại ny, chng ta cần c nhận thức về quan điểm Ba thn trong
gio nghĩa Đại thừa. Nếu hỏi về Php thn, th như Duy-ma-cật đ trả lời
Phật: Thấy Phật bằng sự khng thấy. Bởi v Như tnh của sắc l phi sắc.
Php thn Phật l Như tnh. Khng thể nhn Phật bằng sắc; khng thể nghe
Phật bằng m thanh; ai hnh như vậy l hnh t đạo, khng thể thấy Phật.
Phật được thấy từ Php thn; v thn Phật l Php thn. Nhưng Php tnh
th vượt ngoi nhận thức. Trong kinh Kim cang, Phật ni như vậy.
(Vajracchedikā: ye mām rūpena cādrāksurye mām ghosena cānvayuh
|mithyāprahānaprasrtā na mām draksyanti te janāh ||1|| dharmato buddhā
drastavyā dharmakāyā hi nāyakāh |dharmatā ca na vijeyā na sā śakyā
vijānitum ||2|| Bi kệ thứ hai trong Phạn bản, khng c trong bản dịch của
La-thập. Hn dịch của Huyền Trang: 應 觀 佛 法 性 即 導 師 法 身 法 性非所識 故彼不能了. )
Thn Phật, như l Php tnh, như vậy l thn tịch diệt, tuyệt đối vắng
lặng, khng dao động như đại dương khng cht gợn sng. Thn như vậy khng
thể thấy, khng thể diễn đạt. Bồ tt l con chn thật của Phật, lưu xuất
từ thn như vậy, từ php tnh như vậy, nn Duy-ma-cật khng thể trả lời
ngi X-lợi-phất l sinh ở đu v chết ở đu.
Thế nhưng, như mặt trăng bất động giữa hư khng, m ảnh của n hiện khắp
nơi; nơi no c nước, nơi đ c trăng; tỏ hay mờ ty theo nước trong hay
đục, nước lặng hay nước sng. Cung vậy, Php thn Phật bất động, tịch
tĩnh, nhưng ty theo cơ cảm, ty thời v ty chốn, được thấy xuất hiện,
rồi biến mất. Đ l thn Ứng ha ty theo lọai, ty theo thời. Đ l thn
m hết thảy phm phu c thể thấy, c thể nghe; nhờ đ m được biết php,
thấy được đạo, để dẫn đến chứng đắc giải thot, niết-bn. Cho nn, tuy
Duy-ma-cật khng trả lời, th Phật trả lời thay: Duy-ma-cật từ một thế
giới c tn l Diệu hỷ; ở đ c Phật hiệu l V Động. ng ấy từ đ m đến
nơi ny (Khuy Cơ, tr. 1107a: Phật hiệu A-sc, đy dịch l V Động. Tm
gi khng nhiễu, bốn Ma khng xm, thương an tr, khng biến đổi, nn gọi
l V Động. V để ha độ chng sinh, ng từ đ ti sinh nơi đy.) Để minh
giải nghĩa đến v đi, từ ci Phật ny đến ci Phật khc, Duy-ma-cật ni
với X-lợi-phất: nh sng mặt trời lun lun đến nơi no c bng tối,
khng phải v nh sng mặt trời c xu hướng cọng tồn với bng tối. Nhưng
nơi no bng mặt trời xuất hiện, nơi đ bng tối đi mất. Đ l nghĩa Bồ
tt từ tịnh độ đi đến uế độ. D l tịnh độ hay uế độ, d ở đy hay ở kia, thảy đều l biểu hiện từ
phương tiện tr của Phật. Cho nn, thn Phật v quốc độ Phật cng tương
ứng, như trăng với nước. Thế giới Diệu hỷ, được giả thiết l bản nguyện
bản khởi của Duy-ma-cật, trong tự tnh, tồn tại như l php tnh, th thế
giới đ khng đến, khng đi, khng sinh, khng diệt. Nhưng khi thế giới
được thị hiện cho chng sinh thấy; nơi đ cũng c sự hiện diện của loi
người, loi trời; cũng c cc hng Thanh văn, Bồ tt; th nơi đ, một cch
tương ứng, cũng tồn tại những ni, những sng, mặt trời, mặt trăng, cc v
sao, v.v. Thế giới c đến, c đi. Nếu Duy-ma-cật tự thn đ từ đ m đến,
th ng cũng c thể mang cả thế giới ấy đến nơi đy. Khi ấy, cả thế gới
Diệu hỷ to lớn, huy hong trng lệ kia, bỗng chốc nằm gọn trong lng tay
của ng, v tất cc đại chng đang hiện diện trong vườn xoi của kỹ nữ
Am-ba-b-lị đều c thể chứng kiến. Trong khi đ, những ai trong ci Diệu
hỷ m c thần thng, đều cảm nhận thế giới ny bị lệch ngoi quỹ đạo của
n; tất cả đều kinh sợ. Như vậy, d Thế giới Diệu hỷ l ci tịnh độ, nhưng
đ khng phải l thế giới vĩnh hằng. N c thể bị chuyển dịch, tất bị chi
phối bởi quy luật sinh diệt, v thường. Cc Thanh văn, Bồ tt trong đ
chợt kinh sợ, cho nn cc vị ấy cũng khng phải đang tồn tại trong cảnh
giới v vi. Họ cũng chịu quy luật sinh diệt như thế giới m họ đang sống. Duy-ma-cật từ đ đến. Cc đại chng ở đy cũng c thể ti sinh đến đ, nếu
nhn duyn thch hợp. Đến điểm ny th nghĩa bnh đẳng giữa cc quốc độ
được nng ln một tầng nhận thức nữa. V ở trong nghĩa đ, gi trị phổ
qut bấy giờ được nhận thức từ bản thể luận, từ trong tự tnh bản nguyn
của n. Cho đến đy, l tưởng Bồ tt đạo, kiến thiết một thế giới Phật tnh, m tự
tnh l bnh đẳng như hư khng, đ được trnh by đến điểm tận cng l
tnh của n.
Vậy rồi, vườn
xoi của kỹ nữ, v những vương tn cng tử đến tm lạc th kia, tất cả sẽ
trở thnh l ci g, trong khoảng khng gian v cng, thời gian v tận
ny? Mỗi người lại quay trở lại bn giường bịnh của Duy-ma-cật để tự tm
cho mnh một cu trả lời. Một cu trả lời quyết định cho đời ny v cả
nhiều đời sau. (phần I) (phần
II) T.S.
(trch đăng từ Tập San Nghin Cứu Phật Học số 14)
|