|
TRIẾT HỌC THẾ THN
VỀ TỰ TRI & BN THM VỀ CƠ CẤU TỰ TRI
L Mạnh Tht
(tiếp theo)
Với pht biểu như thế, Trần Na đ khng để lại từ ngữ no khng r rng về
những g nhm từ cấu trc ngn ngữ hm nghĩa. Đ l sự kết hợp giữa cc
từ
với cc vật được tri nhận. Nhưng để thực hiện sự kết hợp như thế, người
ta cần
phải biết một từ l g, v một từ như thế khng được biểu thị chỉ một sự
vật duy
nhất. Ngược lại, nếu ta khng biết tn của một vật, sẽ khng c g được
kết hợp
với sự vật đ. V nếu một từ thật sự chỉ cho một sự vật ring biệt v chỉ
một
mnh sự vật đ thi, th n khng thể được dng cho cc sự vật khc trong
bất
cứ trường hợp no khc. Tm lại, như Yogasūtra đ ni, cấu trc ngn ngữ
l
ci được sản sinh bởi kiến thức từ ngữ v n khng c vật. Về sau, chng
ta
cn c một định nghĩa chnh xc v r rng hơn nữa như Kamalaśīla đề nghị:
cấu trc ngn ngữ l nhận thức mang tnh ngn ngữ (Śāntarakṣita,
Tattvasaṃgraha ad 1213.), c nghĩa, mọi nhận thức đều l v phải l một
nhận
thức thuộc ngn ngữ, v đy l m vang xa xi của một pht biểu nổi tiếng
của
Bhartṛhari: trn thế gian ny khng c một khi niệm đơn độc no khng
được km theo từ ngữ (Bhartṛhari, Vākyapadīya I. 123 (ed. Raghunātha
Sharma, Varaṇasi; Varaṇaseya Sanskrit Vishwavidyalaya, 1963)). nghĩa
của từ cấu trc ngn ngữ như vậy đ được chỉ dẫn r rng. Khng c một
t
bằng chứng no để chuyển ngữ n thnh sự tưởng tượng hay cấu trc khi
niệm, v.v., những diễn dịch đ gp phần khng nhỏ cho sự ngộ nhận, nếu
khng muốn ni l lm mo m, tư tưởng Thế Thn bằng những m tả như
quan niệm luận hay duy tm luận, v.v., v cũng l ci sinh khởi những
khẳng
định thường xuyn được lập đi lập lại như Du gi tng chủ trương thức l
thực
tại duy nhất, v.v. (Chatterjed, The Yogācāra Idealism, Varaṇasi: Banaras
Hindu University, 1962: 59; Ruegg, The Term Buddhiviparināma and the
Problem of Illusory Change, Indo-Iranian Journal II (1958): 279-280;
etc.)
Nếu cấu trc ngn ngữ chỉ l sự kết hợp giữa tn gọi v cc vật được tri
nhận,
th khi ni sự chuyển biến của thức l cấu trc ngn ngữ cũng chnh l
ni
rằng mọi hoạt động của đời sống tm l chng ta hon ton được quyết định
bởi, v ty thuộc ton bộ vo, khả năng điều động v sử dụng một ngn ngữ
được cho, d ngn ngữ đ được ni ra hay khng. C lẽ do nhận ra nhận xt
đặc trưng ny trong triết học Thế Thn m Bhartṛhari đ đi đến nhận xt
thường được trch dẫn rằng mọi hoạt động trn thế gian đều dựa vo cc từ
ngữ, điều m ngay một đứa trẻ cũng nương vo đ nhờ bản năng bẩm sinh
(Bhartṛhari, Vākyapadīya I. 121-122:). Thật vậy, như Thế Thn đ m tả, sự
chuyển biến ni trn của thức c ba loại v một điều tương ứng tự nhin l
tất
cả đều được quyết định bởi, v phụ thuộc vo, ngn ngữ để hoạt động, bởi
v,
như đ thấy, tự thn tiến trnh chuyển biến chỉ l một cấu trc ngn ngữ.Loại chuyển biến thứ nhất thuộc về thức-tri-nhận, cho php chng ta tri
nhận sự
vật qua cc gic quan của chng ta. Sự vận hnh của cc hoạt động tri gic
ny
phải dựa vo ngn ngữ chắc chắn khng phải l điều ngạc nhin, bởi v
chng
ta đ thấy tại sao v bằng cch no Thế Thn định nghĩa tri nhận dựa vo
ngn
ngữ m n được diễn tả. Loại thứ hai v thứ ba thuộc về những g ta c thể
gọi
l thức-xử-l v thức-chứa-đựng. Thức-xử-l được gọi tn như thế v Thế
Thn
m tả l lun lun c km theo bốn phiền no l tưởng về ng (ng
kiến), ảo
tưởng về ng (ng si), sự tự ho về ng (ng mạn) v lng yu mến ng (ng
i). V c tc dụng xử l nn n lun lun cng hiện hữu với
thức-tri-nhận trừ
trường hợp bị hn trầm, giải đi v tập trung suy nghĩ. N cũng hon ton
được
quyết định bởi, v phụ thuộc ton bộ vo, ngn ngữ để vận hnh.
Thức-chứa-đựng cũng được quyết định như thế. Thức-chứa-đựng được ni đến
ở đy thường được gọi l thức-hon-trả (dị thục thức).
L do tại sao chng ta chọn cch gọi thứ nhất (thức-chứa-đựng) sẽ được
giải
thch sau. Thức-chứa-đựng ny được cho l c chủng tử của mọi thứ v
tun
chảy như ging nước của một con sng. N cũng được gọi l thức căn bản
từ
đ năm thức pht khởi ty theo cc yếu tố lm điều hiện cho chng, hoặc
cng
khởi hoặc khởi ring, giống như những ln sng dựa vo nước. Năm thức ni
trn r rng l thức-tri-nhận của năm gic quan. V vậy, mặc d ni rằng
c
hiện hữu ba loại chuyển biến của thức nhưng thật ra chỉ c một chuyển biến
v
một thức, bởi v thức-chứa-đựng được xem như thức căn bản, từ đ mọi thức
khc sinh khởi. Thức-xử-l được quan niệm l nương tựa vo thức-chứa-đựng
v lấy n lm đối tượng. Thức-tri-nhận của năm gic quan v của bộ no
cũng
được m tả tương tự, như đ thấy. Lin hệ giữa cc loại chuyển biến ny
như
vậy đ được trnh by chi tiết r rng (Triṃśikā ad 1-17:).
Với một quan niệm như thế về cấu trc của thức, trong đ mọi hoạt động tm
l, hoặc tri nhận hoặc xử l, được xem l dựa vo thức-chứa-đựng, giống
như
những ln sng dựa vo nước, th ta phải giải thch tại sao v bằng cch
no
thức-chứa-đựng đ c khả năng sinh khởi cc hoạt động m n l nền tảng.
Cu trả lời cho cu hỏi ny đ tm thấy trong luận đề dẫn trn của Tam
Thập
Tụng: sự chuyển biến của thức l một cấu trc ngn ngữ. Hiển nhin, nếu
tri
nhận được định nghĩa qua ngn ngữ m n được diễn tả v nền tảng của n l
thức-chứa-đựng th sự chuyển biến của thức ny thnh một tri nhận chắc
chắn
phải l một cấu trc ngn ngữ, thuần ty v độc nhất. V thế, vấn đề cn
lại l
cấu trc ngn ngữ đ xảy ra như thế no. Thuyết chủng tử đ được đề ra để trả lời điều ny. Quan niệm chủng tử c
một
lịch sử lu di, v n được bn đến rộng ri trong nhiều tc phẩm đầu tin
khc
nhau của Thế Thn, đặc biệt l Cu X Luận v Nghiệp Thnh Tựu Luận
(Abhidharmakośa II ad 36. cf. Karmasiddhiprakaraṇa, ed. Yamaguchi, Kyoto:
Daizokan, 1951: 9-10). Việc đề ra quan niệm ny trong cc tc phẩm trn
nhằm mục đch giải thch trước tin tại sao cc kết quả thuộc về lun l
(thiện
c quả) của một hnh động khng diệt vo lc hnh động ny được thực hiện
v kết thc. Chẳng hạn, nếu ti đ ni dối ai đ, tại sao sau khi hnh
động ni
dối đ hon tất về mặt vật l m ti vẫn cảm thấy c lỗi? Hơn nữa, nếu ti
đ
tin vo quan niệm cho rằng mọi hnh động của ti, d c lợi hay khng c
lợi
cho ti v người khc, sẽ mang lại kết quả tương ứng trong tương lai th
vấn đề
ni trn trở nn thch hợp hơn, c nghĩa l tại sao một hnh động c thể
mang
lại hậu quả của n một khi đ được thực hiện về mặt vật l v vật chất? Để
giải
quyết những cu hỏi ny, quan niệm về chủng tử đ được dng đến. Chng ta
c lập luận rằng giống như một ci cy c thể gieo giống của chng vo
lng
đất v sau đ những chủng tử ny lại nảy mầm, cc hnh động của con người
cũng thế. Mọi hnh động đều để lại sau n một chủng tử no đ, chủng tử m
sau hng trăm kiếp vẫn khng diệt, v cc tc dụng của n sẽ chn đối với
chng sinh sau khi c được những điều kiện cần thiết v thời gian cần
thiết của
n (Karmasiddhiprakaraṇa: 11-12). V vậy, nếu tc dụng vẫn cn ko di
sau
khi ti thực hin một hnh động th chnh v hnh động đ đ gieo một
chủng tử
của ring n v chủng tử ny, khi c đủ điều kiện cần thiết, đ sinh khởi
tc
dụng ko di ni trn. V thế, quan niệm chủng tử l một cng cụ kh tiện lợi để minh giải vấn đề
nan
giải của cc kết quả lun l của một hnh động. V đng như định ban đầu
của n, n đ được Thế Thn sử dụng chủ yếu cho mục đch đ trong v số
biện giải của ng trong Cu X Luận v Nghiệp Thnh Tựu Luận
(Anguttaranikāya III n 404-409.). Tuy nhin, khi sang Nhị Thập Tụng, chng
ta
khng tm thấy điều g thuộc loại đ. N được dng đến chnh yếu l để lm
r
vấn đề tự tri trong phần mở đầu luận thư ny. Chng ta hy nhớ lại vấn đề
được
pht biểu như sau: Bất cứ ci g hiện hữu chỉ l ci khiến ta biết, đối
tượng của
n khng hiện hữu bởi v n l sự tự tri. Để lm r tại sao đối tượng
được định
nghĩa như một thng tin th khng hiện hữu v n l sự tự tri, Thế Thn
đ
đưa ra l do sau: Chủng tử của ring n, từ đ ci khiến ta biết sinh
khởi như
một sự tự tri về một vật, chủng tử đ đạt đến điểm quyết định của sự
chuyển
biến của n, chủng tử đ ở một pha, v chủng tử m n sinh khởi như một
sự
tự tri về chnh n, ở pha kia, những ci ny l hai ci m Thế Tn tuyn
bố l
xứ của mắt v xứ của vật. (Viṃśatikā ad 9: yataḥ svabījād vijaptir
yadābhāsā pravartate/ dvividhāyatanatvena te tasyā munir abravīt// kim
uktaṃ
bhavati/ rūpapratibhāsā vijaptir yataḥ svabījāt parināmaviśeṣaprāptād
utpadyate tac ca bījaṃ yatpratibhāsā ca sā te tabhyā vijapteś
cakṣrūpāyatanatvena yathākramaṃ bhagavān abravīt/ evaṃ yāvat
spraṣṭavyapratibhāsā vijaptir yataḥ svabījāt parināmavieṣaprāptād
utpadyate/ tac ca bījaṃ yatpratibhāsā ca sā te tasyā
kāyaspraṣṭavyāyatanatvena yathākramaṃ bhagavān abravīd ity ayam
abhiprāyaḥ/tiềm lực đặc biệt) Đọc chậm ri pht biểu ny, một điều r
rng
l đối tượng được định nghĩa như một thng tin th khng hiện hữu v n
chỉ l
một chủng tử của sự tự tri. Chủng tử đ khi đạt đến giai đoạn quyết định
của sự
chuyển biến của n cho php chng ta c một tri nhận, đ l biết c ci g
đ
ngoi kia v biết c chng ta ở đy. Như vậy, sự chuyển biến của thức l
sự
chuyển biến của một chủng tử vo bất kỳ giy pht no được cho. Nhờ c
chủng
tử lm phương tiện, ci gọi l thức căn bản, tức thức-chứa-đựng, tự chuyển
biến thnh một tri nhận. Vậy, từ ngữ chủng tử c nghĩa l g? Mặc d trong sớ giải của mnh về Nhiếp Đại Thừa Luận của V Trước, Thế
Thn
đ giải thch chủng tử l một sức mạnh đặc biệt, một năng lực hay
tiềm lực
đặc biệt (Mahāyānasaṃgrahabhāṣya, TT. 5551, p.277e1-2.), nhưng đy
chắc chắn khng phải l giải thch duy nhất c thể dng cho n. Thật vậy,
như
tc giả của Abhidharmadīpa lưu v Yaśomitra đ nhắc lại sau đ, từ
chủng
tử khng chỉ c nghĩa một sức mạnh hay năng lực đặc biệt m cn c
nghĩa
l ấn tượng (Abhdharmadīpa ad 261.). V nghĩa thứ hai ny thật sự đ
xuất
hiện trong cc tc phẩm của Thế Thn. Thật ra, ta cn c thể ni l ng
dng
cả hai từ chủng tử v ấn tượng thay cho nhau v khng c phn biệt.
Th dụ,
trong Nhiếp Đại Thừa Luận, ta đọc được: Tnh trạng lm suy kiệt cc chủng tử dần dần trở nn yếu ớt, yếu hơn, v
cn
yếu hơn nữa, theo cng cch giống như sự suy giảm [dần dần] trong nước
si,
hay trong vận tốc của mũi tn được phng đi. V v điều ny, khi sự kết
thc
của việc phng ra được đạt đến vo lc pht khởi, bằng một sự chuyển biến
đặc
biệt của thức-xử-l từ st na ny đến st na kế tiếp v qua sự ti diễn
của cc
chủng tử, thức v tiếp theo l cc thức khc cũng sinh khởi khi c cc
điều
kiện cần thiết của chng. Thức-xử-l, nơi chỉ c nhiều loại chủng tử khc
nhau,
được tc động bởi cc thuộc tnh c lợi v bất lợi khc cng khởi với cc
thức
khc với n, nhờ vo sự tăng trưởng những chủng tử ny của chng ty theo
trường hợp. Ứng hợp với lực của sự chuyển biến đặc biệt ny của chuỗi
tương
tục, m tiến trnh in dấu ti diễn, v cc hiệu quả vừa v khng vừa
được
mang lại. Về điều ny, người ta ni:
Tm (citta) c v lượng chủng tử ny tiếp diễn theo dng,
v khi c cc điều kiện ring cho n,
n v những chủng tử của n tăng trưởng.
Được tăng trưởng bởi chng v ti diễn dng chảy của n,
n c thể cho quả đng thời,
giống như đối với hoa chanh được nhuộm mu,
mu hiện ra trong li của quả n. (Karmasiddhiprakaraṇa: 21-22: sems ni
rnam pa gis te/ te la gcig ni deḥi sa bon rnams bsags pa yin no/ gis pa
ni
deḥi dmigs pa daṅ/ rnam pa daṅ/ bye brag tha dad pa dag gis sna tshogs pa
yin no/ sems gis pa ma tshaṅ baḥi phyir sems med pa yin te/ dper na khri
rkaṅ pa gcig pa la rkaṅ pa gzan ma tshaṅ paḥi phyir/ rkaṅ pa med pa zes
bya pa lta buḥo/ sa bon ams paḥi gnas skabs de zan pa daṅ/ ches zan pa
daṅ/ śin tu ches zan paḥi rim pas chu tshan daṅ mdaḥ ḥphaṅs paḥi sugs
ḥbri baḥi tshul du des ldaṅ baḥi dus ḥphṅs paḥi mthar thug pa na/ rnam
par smin paḥi rnam par śes pa la skad cig re re la ḥgyur baḥi khyad par
las
sa bon ḥjug pa sed pas yid kyi rnam par es pa daṅ/ phyis gzan dag kyaṅ
rkyen ji lta ba bzin du ḥbyuṅ no// rnam par smin paḥi rnam par śes pa sa
bon rnam pa sma tshogs khoṅ na yod pa de id la/ de las gzan pḥi rnam par
śes pa daṅ lhan cig ḥbyuṅ baḥi chos gzan dge ba daṅ mi dge ba de daṅ
de dag gis sa bon rtas par byed paḥi sgo nas ji ltar rig par bsgo bar byed
do//
rgyud ḥgyur baḥi kyad par de las stobs ji lta ba bzin du bga chags ḥjug pa
red natshe phyi ma la ḥbras bu ḥdod pa daṅ mi ḥdod pa mṅon par
ḥgrub bo// de id kyi dban du byas nas/ sems ḥdi sa bon mthaḥ yas pa daṅ
ldan pa rgyun gyis ḥjug ḥgyur zin/ sems lla raṅ rgyen byuṅ na de daṅ
deḥi sa bon rtas par ḥgyur/ de rtas rim gyis ḥjug pa red na dus su ḥbras
bu ḥbyin pa ḥgrub/ ma du luṅ gaḥi me tog la bsgos tshon ni de ḥi śa dmar
bzin/ zes bśad do/. Đoạn văn từ sems ni rnams pa đến rkaṅ pa med pa zes bya pa lta buḥo
khng được dịch ở trn. Tuy nhin, chng ti trch dẫn ở đy như phần bổ
sung
dnh cho những ai biết tiếng Ty Tạng.)
Ở đy, Thế Thn dng hai thnh ngữ sự ti diễn của cc chủng tử v tiến
trnh in dấu ti diễn để m chỉ chnh xc cng một điều, đ l tiến trnh
ti diễn
của cc chủng tử v cc ấn tượng. Ngoi trch dẫn trn, cch dng khng
phn
biệt ny đối với hai từ chủng tử v ấn tượng c thể dễ dng tm thấy
trong
cc đoạn khc của cng tc phẩm (Karmasiddhiprakaraṇa: 18-19), v cch
dng ny khng tạo ra bất kỳ nguy cơ nghim trọng no của sự ngộ nhận đối
với những người cng thời ng, bởi v như đ ni, họ đều biết đến cch
dng
ny. Tc giả của Abhidharmadīpa l trường hợp điển hnh. ng sống khng
lu
sau Thế Thn v c thể dễ dng nhận ra, trong số nhiều điều khc, nghĩa
của
từ chủng tử l ấn tượng như chng ta đ chỉ ra trước đy. Với sự đồng
nhất
ny, nay ta c thể trở lại pht biểu trn của Nhị Thập Tụng để xem n
chnh xc
c nghĩa l g. N ni rằng chủng tử của ring n, từ đ ci khiến ta biết sinh khởi như
một sự
tự tri về một vật, chủng tử đ đạt đến điểm quyết định của sự chuyển biến
của
n, chủng tử đ ở một pha, v chủng tử m n sinh khởi như một sự tự tri
về
chnh n, ở pha kia, những ci ny l hai ci m Thế Tn tuyn bố l xứ
của
mắt v xứ của vật. Nay ta biết rằng cc từ chủng tử v ấn tượng c
cng
nghĩa v c thể thay thế cho nhau, t ra l trong Cu X Luận v Nghiệp
Thnh
Tựu Luận. V khng c l do giải thch tại sao trường hợp ny lại khng
xảy ra
trong Nhị Thập Tụng. V thế, nếu ta suy đon n c xảy ra th pht biểu
trn
của Nhị Thập Tụng chỉ c nghĩa rằng khi một ấn tượng được nhận vo từ ci
g
đ bn ngoi, n khiến ta biết được sự kiện rằng ta biết ci g đ bn
ngoi v
ta biết rằng ta biết ci đ. Như vậy, ấn tượng được thu nhận như thế kch
pht
hai sự vận động cng thời để chuyển biến chủng tử của thức-chứa-đựng thnh
một tri nhận đầy đủ của thức-tri-nhận. Thứ nhất, n khiến ta biết rằng ta nhận được ấn tượng của ci g đ. V
thứ
hai, n khiến ta biết rằng ta nhận được ấn tượng của ci đ. Hai vận động
cng
lc ny nhằm chỉ cho sự chuyển biến của một chủng tử được cho thnh một
nhận thức thuộc tri gic, như đ ni. Kết quả, cả ấn tượng khiến ta biết
ci g đ
cũng như ci khiến ta biết rằng ta biết ci đ đều khng hiện hữu độc lập
hoặc
rốt cng l chẳng hề hiện hữu g cả. Chng chỉ l những chủng tử. V nếu
việc
diễn giải n như l một ấn tượng, một điều nhất định c ch v cho nhiều
thng tin ở một mức độ rất lớn, c thể lm ta nghĩ về n như một loại thực
thể,
th đ l điều rất sai lạc; n cũng c thể được hiểu l năng lực hay
tiềm
năng, như đ ni. Khi được hiểu như thế, thức-tri-nhận pht khởi từ chủng
tử,
tự bản tnh, sẽ khng khc g cả với tự thn chủng tử; bởi v l chủng tử
th n
sẽ tồn tại như một tiềm năng vốn cần đến cc điều kiện thch hợp để c thể
tự
chuyển thnh thực tại. C lẽ do tưởng ny trong đầu m Thế Thn đ giải
thch từ chủng tử l tiềm năng trong sớ giải của ng về Nhiếp Đại Thừa
Luận
để nhấn mạnh đến quan niệm cho rằng chỉ c một nhận thức được gọi bằng
những tn khc nhau như chủng tử ở cc giai đoạn chuyển biến khc nhau,
v
những tn gọi ny khng nn được hiểu lệch l c cc thực thể khc nhau ở
những giai đoạn khc nhau ny. Một khi chủng tử cho ta sự tự tri về một
vật v
chủng tử khiến ta nhận biết sự tự tri đ được chuyển ha thnh chỉ một tri
nhận
về ci g đ bn ngoi, th điều được chứng thực l khng c chủng tử no
trong
số ny c thể được xem l tồn tại độc lập. Ni theo thnh ngữ của chnh
Thế
Thn l đối tượng khng hiện hữu v n l sự tự tri. Thật vậy, chủng tử,
tức ấn
tượng khiến ta nhận biết ci g đ bn ngoi v v thế nhất định trở thnh
đối
tượng của sự tự tri của chng ta, lm sao c thể ni l n c tồn tại? V
cũng v
l do đ, trước tin lm sao n c thể l một đối tượng? Chng ta đ chỉ ra nghĩa kp của từ đối tượng được Thế Thn sử dụng. Một
ci g đ l một đối tượng chỉ khi no n c thể c nghĩa, tức chừng no
n c
thể cung cấp một thng tin no đ. Như vậy, đối tượng được định nghĩa như
một loại thng tin no đ. V thế, khi Thế Thn ni đối tượng khng hiện
hữu v
n l sự tự tri th điều đ cũng c nghĩa đối tượng trong nội dung được
cho ny
khng hiện hữu v n chỉ l thng tin. Thật vậy, chỉ l thng tin th n
mới c thể
đồng nhất với sự tự tri ở trong mệnh đề phụ tiếp theo v n l sự tự
tri. V
trong phạm vi ny, n đồng nghĩa với từ chủng tử được bn ở trn. Thuyết
chuyển biến trong Nhị Thập Tụng v thế đ qu hiển nhin. Khi một đối
tượng
được định nghĩa l một nguồn thng tin, n sẽ cung cấp cho chng ta thng
tin,
v thng tin ny c thể trở thnh chủng tử hay ấn tượng. Một khi đ trở
thnh
như vậy, n tự chuyển biến qua cc giai đoạn tự tri khc nhau để thnh một
nhận thức đầy đủ của thức-tri-nhận. Kết quả, by giờ ta phải xem xt khng
chỉ
về sự diễn giải chủng tử l ấn tượng hay tiềm năng m cn cả sự diễn giải
n l
thng tin. Dĩ nhin đy l một nhận xt mang tnh loại suy bởi v ton bộ
nội
dung Nhị Thập Tụng khng lm sng tỏ đầy đủ cch diễn giải sau. Tuy nhin,
như sẽ thấy, đy l một nhận xt đng, được xc quyết bởi tc phẩm sau đ
của ng l Tam Thập Tụng (Alex Wayman, Review Article: The Yogācāra
Idealism, PEW XV (1965): 65-73). Chng ta đ ni rằng Tam Thập Tụng mở đầu với luận đề nổi tiếng sự m tả
về ng v php c tc dụng theo nhiều cch khc nhau đều dựa vo sự chuyển
biến của thức. Chng ta cn biết thm rằng sự chuyển biến ny của thức c
ba
loại, đ l chuyển-biến-xử-l, chuyển-biến-chứa-đựng v
chuyển-biến-tri-nhận,
v những chuyển biến ny chỉ l cấu trc ngn ngữ. Chng ta cũng đ chỉ ra
rằng quan hệ giữa ba loại chuyển biến ny l quan hệ đồng nhất. C nghĩa
l
do chuyển-biến-chứa-đựng m thức tự chuyển biến thnh một thức-tri nhận v
thức ny l điểm cuối của chuyển- biến-tri-nhận, trong khi
chuyển-biến-xử-l
xảy ra cng với chuyển-biến-chứa-đựng, v n nương vo
chuyển-biến-chứa-đựng v lấy đ lm đối tượng. Với quan hệ đồng nhất ny,
khng cn ngạc nhin khi Thế Thn chỉ ni rằng sự chuyển biến của thức l
một cấu trc ngn ngữ, v r rng rằng chỉ c một chuyển biến được gọi
tn ở
cc giai đoạn khc nhau hnh như bằng những tn khc nhau. D sao đi nữa,
chng ta biết chắc rằng chỉ c một chuyển biến của thức, v chuyển biến
ny
được định nghĩa l một cấu trc ngn ngữ. Vậy, n c nghĩa l g? N chỉ c nghĩa rằng ton bộ vận động của một thức l một cấu trc ngn
ngữ,
v thế n hon ton phụ thuộc vo ngn ngữ để vận động. Chng ta nhắc lại
lần
nữa l Thế Thn định nghĩa tri nhận qua ngn ngữ m n được diễn tả. Một
khi
tri nhận được định nghĩa l điểm cuối của sự chuyển-biến-xử-l th điều
tất yếu
l ci tự chuyển biến thnh điểm cuối cng đ sẽ được định nghĩa tương tự.
Kết
quả, điều tất yếu l ton bộ tiến trnh chuyển biến phải được định nghĩa
l cấu
trc ngn ngữ. Với định nghĩa ny, chẳng cn g ngạc nhin khi chủng tử,
vốn
được cho l hiện hữu trong thức-chứa-đựng, tức loại thức mang theo tiến
trnh
xử l cho đến điểm cuối, đ được định nghĩa qua ngn ngữ m n được diễn
tả. Đối với tri nhận, n cũng được định nghĩa qua ngn ngữ m n được diễn tả,
v
nếu ton bộ tiến trnh chuyển biến chỉ l một cấu trc ngn ngữ, th khng
c
cch g khc hơn l cũng phải đưa ra một định nghĩa giống như vậy về chủng
tử, ci đ sinh khởi tri nhận đ sau tiến trnh chuyển biến. V lẽ đ,
chủng tử
phải được xem như một loại thng tin được m ha theo một ngn ngữ đ cho.
N lập thnh nền tảng cho sự vận động của ton bộ tiến trnh chuyển biến
của
thức. V vậy sự định nghĩa tiến trnh chuyển biến của thức dựa vo một cấu
trc
ngn ngữ r rng chỉ cho quan niệm về chủng tử được hiểu như l lượng
thng
tin được m ha theo một ngn ngữ đ cho. Như thế, nhận xt trn về việc
diễn
giải từ chủng tử l thng tin đ được xc chứng đầy đủ. V điều ny
khng
phải qu ngạc nhin. Điều lm chng ta ngạc nhin l khi sự diễn giải đ
xc
chứng ny được xt đến cng với quan niệm về sự chuyển biến của Nhị Thập
Tụng được m tả trước đy, th một hnh ảnh th vị v chặt chẽ về thuyết
chuyển biến của thức đ hiện ra. Nhị Thập Tụng ni rằng một ấn tượng khi cho chng ta một sự tự tri về ci
g
đ v sau đ lại tạo thnh xứ của vật th phải tự chuyển biến đến một giai
đoạn
quyết định nơi m sự tự tri về ci g đ hiện khởi. Theo Tam Thập Tụng,
tiến
trnh chuyển biến ny l một cấu trc ngn ngữ. V lẽ đ, ấn tượng hay
chủng
tử được ci g đ để lại trong thức chng ta đng l loại thng tin c thể
được
xử l. V thng tin ny phải được m ha theo một ngn ngữ được cho v nhờ
vo ngn ngữ đ, bởi v sự chuyển biến của một thức, m thng tin ny phải
phụ thuộc, chỉ vận hnh như một cấu trc ngn ngữ chứ khng phải cch g
khc. Như vậy, thuyết chuyển biến của thức do Thế Thn đề ra trong Nhị
Thập
Tụng v Tam Thập Tụng được xc chứng r rng. Khng cn sự mơ hồ cũng
như mu thuẩn no về nghĩa của n để c thể gy ra nhầm lẫn. Căn cứ vo
đ, Thế Thn đ c thể nhận ra rằng một đối tượng khi được định nghĩa như
một nguồn thng tin, hay chnh xc hơn như một loại thng tin no đ,
khng
hiện hữu qua lượng thng tin đ bởi v tc dụng của thng tin l chỉ cho
ci g
đ ở ngoi v vượt khỏi n, cho ci g đ ở bn ngoi; hơn nữa, khi thng
tin đ
được xử l, n sẽ trở thnh một tri nhận về đối tượng m một thức no đ
thu
thập được, chứ khng phải về đối tượng m n thật sự biểu trưng v cung
cấp
thng tin. C thể ni rằng sự thất bại trong việc hiểu đng thuyết chuyển biến của
thức
của Thế Thn l nguyn nhn gốc rễ của quan niệm phổ thng của rất nhiều
nh nghin cứu cho rằng triết học của ng l duy tm luận như chng ta đ
đề
cập trước đy. Ngay cả Wayman, người đ chnh xc đặt ra vấn đề liệu c
phải
học thuyết Du gi của Thế Thn l duy tm luận, bằng cch chỉ ra rằng nếu
c
thể hiểu duy tm luận qua cc khẳng định như thức l thực tại duy nhất
th
thật rất kh giải thch tại sao Thế Thn lại thừa nhận sự tồn tại độc lập
của một
phạm tr gồm cc php khng tương ứng với thức cũng khng tương ứng với
vật, th chnh Wayman hnh như vẫn sẵn sng gn ghp một loại duy tm luận
no đ cho Nhị Thập Tụng, nếu khng muốn ni l Tam Thập Tụng. Đy quả
l điều khng may. Nếu chnh sự chuyển biến của thức khiến cho một ấn tượng c thể chuyển ha
thnh một tri nhận đầy đủ th sự chuyển biến ny xảy ra như thế no? Trong
Tam Thập Tụng, khi giới thiệu v nhấn mạnh khi niệm chuyển biến, Thế Thn
chỉ ni rằng sự chuyển biến của thức l một cấu trc ngn ngữ sau khi
chứng
minh n c ba loại, v chỉ c thế. V vậy, đối với Tam Thập Tụng, n khng
cho
chng ta trả lời r rng no về cu hỏi vừa nu. Tuy nhin, cc sớ giải về
n lại
cho nhiều thng tin hơn về điểm ny. Chẳng hạn như sau khi hỏi chuyển
biến
l g?, An Huệ đ đưa ra trả lời sau:
Đ l một tnh trạng trở thnh khc đi. Khi một quả tự đắc cng thời với
st na
diệt của nhn v khc biệt một cch đặc trưng với st na đ của nhn, đ
l sự
chuyển biến. Vo st na đ, do sự xử l ton bộ cc ấn tượng của cấu trc
ngn
ngữ như ng, v.v., v do sự xử l ton bộ ấn tượng của cấu trc ngn ngữ
như
php, v.v, m cấu trc ngn ngữ sinh khởi như sự tự tri về chnh n v như
sự
tự tri về đối tượng từ thức-xử-l. Sự tự tri ny về chnh n v sự tự tri
ny về
đối tượng, do cấu trc ngn ngữ, c tc dụng của một sự thật khch quan
giống
như sự m tả về ng, v.v., v giống như sự m tả về php như sắc trần,
v.v.,
trong sự thường hằng của n cho d khng c bất kỳ ng hay php no ở bn
ngoi, giống hệt như sự m tả cc sợi lng v cc vng của một người mắc
bệnh bạch chướng nhn. Một m tả l một từ m n khng c hm những g
n l v khng p dụng vo chỗ n phải l, giống hệt như khi người ta dng
từ
con b để m tả một Bāhikā (Sthiramati, Triṃśikāvijaptibhāṣya, ed.
Lvi,
p.16).
Vậy th, theo An Huệ, chuyển biến c nghĩa rằng một ấn tượng, khi được một
đối tượng để lại trong ci gọi l thức-chứa-đựng, đ tự chuyển biến qua
tiến
trnh của cấu trc ngn ngữ cho đến điểm m ở đ n c thể dẫn khởi một
thức
vo việc nhận biết về chnh n v về ấn tượng. Một khi sự tự thức về
chnh n
v về ấn tượng ny xảy ra, th do cấu trc ngn ngữ của n m n c tc
dụng
như một m tả về ng v php khi c sự phụ thuộc như một sự thật khch
quan. Ni cch khc, khi một ấn tượng trong tiến trnh chuyển biến của n
kch
khởi một thức thnh sự tự tri về chnh n v về ấn tượng th ấn tượng ny
trở
thnh một m tả về sự vật m sự vật ny phụ thuộc vo n như một sự thật
khc quan. Theo nghĩa ny, r rng sự chuyển biến của thức thật sự l một
cấu
trc ngn ngữ. Thật vậy, ton bộ tiến trnh chuyển biến l sự xử l một ấn
tượng thnh một m tả về một vật, khng hơn khng km. V thế, ci ta biết
về
ngoại cảnh hon ton ty thuộc sự xử l đ. Qua n, một ấn tượng do một
đối
tượng để lại c thể kch khởi thức của chng ta thnh một sự nhận biết về
chnh
chng ta v về ấn tượng m đối tượng để lại. V từ sự nhận biết ny, ta c
thể
hnh thnh một m tả chnh xc về đối tượng m ấn tượng ny m chỉ. Sự
nhận
biết về chnh mnh v về ấn tượng v thế rất thiết yếu cho vận hnh của
tiến
trnh. Thật vậy, nếu khng c n, thật kh hnh dung lm thế no ton bộ
tiến
trnh chuyển biến c thể hoạt động được, bởi v ấn tượng sẽ giữ nguyn như
n
l. Khng c điểm cuối cng để đạt đến v cũng khng c m tả no được tạo
về một vật khi c sự ty thuộc như sự thật khch quan. Tiến trnh chuyển
biến
của một thức như vậy đ được An Huệ trnh by rất r rng. Php Hộ cũng
đưa
ra một giải thch tương tự, nếu khng phải l tương đồng, về cơ cấu hoạt
động
của tiến trnh ny. Tuy nhiện, do quan điểm được một số tc giả chủ trương
m
về mặt ny Php Hộ vẫn giữ một vi kiến rất khc biệt với An Huệ. Chng
ti
phin dịch một đoạn thường được trch dẫn của ng v đồng thời trnh by
phần
giải thch thm của chng ti: Cc thức ny tự chuyển biến thnh cấu trc ngn ngữ v những g được thiết
lập bằng ngn ngữ. V điều ny, ci được thiết lập bằng ngn ngữ khng
hiện
hữu. V vậy, bất kỳ ci g hiện hữu chỉ l ci khiến ta biết. Luận thư ni: những g được gọi l cc thức ny l ba thức chuyển biến
ni
trn v cc thuộc tnh của chng. Cc thức ny c thể tự chuyển biến thnh
phần thấy (kiến phần) v phần bị thấy (tướng phần). V thế, chng được gọi
l
chuyển biến. Những g được chuyển thnh phần thấy được gọi l cấu trc
ngn
ngữ, đ l v n c thể tri nhận phần bị thấy. Những g được chuyển thnh
phần
bị thấy được gọi l được cấu trc bằng ngn ngữ, đ l v n được tri
nhận bởi
phần thấy. Do l luận ny, cc thực ng v thực php kia chắc chắn khng
hiện
hữu nếu khng c những g được chuyển biến bởi thức. Đối với sự tự chuyển
biến thnh phần nắm bắt v phần được nắm bắt, sẽ khng hiện hữu một php
độc lập no cả. Khng c thực php no hiện hữu nếu khng c hai phần đ.
V
vậy, bất kỳ ci g hiện hữu, hoặc hữu vi hoặc v vi, hoặc thực hoặc mộ tả,
đều
cng c với thức (Dharmapāla, Vijaptimātratāsiddhi, Taishō 1585:
38c16-24:
是 諸 識 轉 變 分 别 所 分 别
由 此 彼 皆 無 故 一 切 唯 識
論 曰, 是 諸 識 者, 謂 前 所 説 三 能 變 識 及 彼 心 所, 皆 能 變 似 見 相
二 分, 立 轉 變 名。 所 變 見 分 説 名 分 别, 能 取 相 故。 所 變 相 分 名 所
分 别, 見 所 取 故。 由 此 正 理, 彼 實 我 法 離 識 所 變 皆 定 非 有, 離 能
所 取 無 别 物 故, 非 有 實 物 離 二 相 故。 是 故 一 切 有 為 無 為, 若 實
若 假, 皆 不 離 識。
).
(đọc tiếp)
|