www.todinhlinhson.com

gp nhặt

 

Thch Tuệ Sỹ
Huyền Thoại Duy Ma Cật

những gi trị phổ qut của Bồ Tt hạnh (I)

(phần II)

(phần III)

Nhn đọc Triết Học Thế Thn bản dịch Việt
Về những minh họa từ Thiền Uyển Tập Anh
Buddhist Foundation of Economics

L Mạnh Tht

Triết Học Thế Thn (phần I)
(phần II)
(phần III)

(phần IV)

(phần V)

(Về Tự Trị - 1)
(Về Tự Trị - 2)
(Về Tự Trị - 3)
Một Số Nhận Xt Cuối Cng
Ngn Ngữ về Những G Hiện Hữu

Emperor Nhn Tng and the War of Defense

And The Trc Lm School

Thch Phước An

nh thơ của Am My Trắng ở Thế Kỷ XVIII c bi bc Phật Gio Khng?

Ton Nhật thiền sư..

Ton Nhật thiền sư (tt)

Thch Thi Ha

Giới thiệu phẩm vua Diệu Trang Nghim - Kinh Php Hoa

Bồ Tt Qun Thế m - Phẩm Phổ Mn Kinh Php Hoa

Lịch Sử Pht Triển Phật Gio Đại Thừa Bồ Tt Giới

Giới thiệu Phật Gio Đại Thừa Bồ Tt Giới Phần(1)

Phần (2)

phần (3)

giới thiệu phẩm Bồ Tt Phổ Hiền khuyến pht trong kinh Php Hoa

Hồng Dương

Lưới Tương Giao (1)

Lưới Tương Giao (2)

Lưới Tương Giao (3)

Lưới Tương Giao (4)

Đốn Ngộ Tiệm Tu

Tn L Trung Đạo

Tn v chứng trong kinh Hoa Nghim

Phn Biệt, Ngn Ngữ v Tu chứng

E Conze

V Vi v Tiến Trnh Giải Thot

Một số vấn đề trong ABHIDHARMA

 

TRIẾT HỌC THẾ THN
VỀ TỰ TRI & BN THM VỀ CƠ CẤU TỰ TRI

L Mạnh Tht


(tiếp theo)

Với pht biểu như thế, Trần Na đ khng để lại từ ngữ no khng r rng về những g nhm từ cấu trc ngn ngữ hm nghĩa. Đ l sự kết hợp giữa cc từ với cc vật được tri nhận. Nhưng để thực hiện sự kết hợp như thế, người ta cần phải biết một từ l g, v một từ như thế khng được biểu thị chỉ một sự vật duy nhất. Ngược lại, nếu ta khng biết tn của một vật, sẽ khng c g được kết hợp với sự vật đ. V nếu một từ thật sự chỉ cho một sự vật ring biệt v chỉ một mnh sự vật đ thi, th n khng thể được dng cho cc sự vật khc trong bất cứ trường hợp no khc. Tm lại, như Yogasūtra đ ni, cấu trc ngn ngữ l ci được sản sinh bởi kiến thức từ ngữ v n khng c vật. Về sau, chng ta cn c một định nghĩa chnh xc v r rng hơn nữa như Kamalaśīla đề nghị: cấu trc ngn ngữ l nhận thức mang tnh ngn ngữ (Śāntarakṣita, Tattvasaṃgraha ad 1213.), c nghĩa, mọi nhận thức đều l v phải l một nhận thức thuộc ngn ngữ, v đy l m vang xa xi của một pht biểu nổi tiếng của Bhartṛhari: trn thế gian ny khng c một khi niệm đơn độc no khng được km theo từ ngữ (Bhartṛhari, Vākyapadīya I. 123 (ed. Raghunātha Sharma, Varaṇasi; Varaṇaseya Sanskrit Vishwavidyalaya, 1963)). nghĩa của từ cấu trc ngn ngữ như vậy đ được chỉ dẫn r rng. Khng c một t bằng chứng no để chuyển ngữ n thnh sự tưởng tượng hay cấu trc khi niệm, v.v., những diễn dịch đ gp phần khng nhỏ cho sự ngộ nhận, nếu khng muốn ni l lm mo m, tư tưởng Thế Thn bằng những m tả như quan niệm luận hay duy tm luận, v.v., v cũng l ci sinh khởi những khẳng định thường xuyn được lập đi lập lại như Du gi tng chủ trương thức l thực tại duy nhất, v.v. (Chatterjed, The Yogācāra Idealism, Varaṇasi: Banaras Hindu University, 1962: 59; Ruegg, The Term Buddhiviparināma and the Problem of Illusory Change, Indo-Iranian Journal II (1958): 279-280; etc.)

Nếu cấu trc ngn ngữ chỉ l sự kết hợp giữa tn gọi v cc vật được tri nhận, th khi ni sự chuyển biến của thức l cấu trc ngn ngữ cũng chnh l ni rằng mọi hoạt động của đời sống tm l chng ta hon ton được quyết định bởi, v ty thuộc ton bộ vo, khả năng điều động v sử dụng một ngn ngữ được cho, d ngn ngữ đ được ni ra hay khng. C lẽ do nhận ra nhận xt đặc trưng ny trong triết học Thế Thn m Bhartṛhari đ đi đến nhận xt
thường được trch dẫn rằng mọi hoạt động trn thế gian đều dựa vo cc từ ngữ, điều m ngay một đứa trẻ cũng nương vo đ nhờ bản năng bẩm sinh (Bhartṛhari, Vākyapadīya I. 121-122:). Thật vậy, như Thế Thn đ m tả, sự chuyển biến ni trn của thức c ba loại v một điều tương ứng tự nhin l tất cả đều được quyết định bởi, v phụ thuộc vo, ngn ngữ để hoạt động, bởi v, như đ thấy, tự thn tiến trnh chuyển biến chỉ l một cấu trc ngn ngữ.Loại chuyển biến thứ nhất thuộc về thức-tri-nhận, cho php chng ta tri nhận sự vật qua cc gic quan của chng ta. Sự vận hnh của cc hoạt động tri gic ny phải dựa vo ngn ngữ chắc chắn khng phải l điều ngạc nhin, bởi v chng ta đ thấy tại sao v bằng cch no Thế Thn định nghĩa tri nhận dựa vo ngn ngữ m n được diễn tả. Loại thứ hai v thứ ba thuộc về những g ta c thể gọi l thức-xử-l v thức-chứa-đựng. Thức-xử-l được gọi tn như thế v Thế Thn m tả l lun lun c km theo bốn phiền no l tưởng về ng (ng kiến), ảo tưởng về ng (ng si), sự tự ho về ng (ng mạn) v lng yu mến ng (ng i). V c tc dụng xử l nn n lun lun cng hiện hữu với thức-tri-nhận trừ trường hợp bị hn trầm, giải đi v tập trung suy nghĩ. N cũng hon ton được quyết định bởi, v phụ thuộc ton bộ vo, ngn ngữ để vận hnh. Thức-chứa-đựng cũng được quyết định như thế. Thức-chứa-đựng được ni đến ở đy thường được gọi l thức-hon-trả (dị thục thức).

L do tại sao chng ta chọn cch gọi thứ nhất (thức-chứa-đựng) sẽ được giải thch sau. Thức-chứa-đựng ny được cho l c chủng tử của mọi thứ v tun chảy như ging nước của một con sng. N cũng được gọi l thức căn bản từ đ năm thức pht khởi ty theo cc yếu tố lm điều hiện cho chng, hoặc cng khởi hoặc khởi ring, giống như những ln sng dựa vo nước. Năm thức ni trn r rng l thức-tri-nhận của năm gic quan. V vậy, mặc d ni rằng c hiện hữu ba loại chuyển biến của thức nhưng thật ra chỉ c một chuyển biến v một thức, bởi v thức-chứa-đựng được xem như thức căn bản, từ đ mọi thức khc sinh khởi. Thức-xử-l được quan niệm l nương tựa vo thức-chứa-đựng v lấy n lm đối tượng. Thức-tri-nhận của năm gic quan v của bộ no cũng được m tả tương tự, như đ thấy. Lin hệ giữa cc loại chuyển biến ny như vậy đ được trnh by chi tiết r rng (Triṃśikā ad 1-17:).

Với một quan niệm như thế về cấu trc của thức, trong đ mọi hoạt động tm l, hoặc tri nhận hoặc xử l, được xem l dựa vo thức-chứa-đựng, giống như những ln sng dựa vo nước, th ta phải giải thch tại sao v bằng cch no thức-chứa-đựng đ c khả năng sinh khởi cc hoạt động m n l nền tảng. Cu trả lời cho cu hỏi ny đ tm thấy trong luận đề dẫn trn của Tam Thập Tụng: sự chuyển biến của thức l một cấu trc ngn ngữ. Hiển nhin, nếu tri nhận được định nghĩa qua ngn ngữ m n được diễn tả v nền tảng của n l
thức-chứa-đựng th sự chuyển biến của thức ny thnh một tri nhận chắc chắn phải l một cấu trc ngn ngữ, thuần ty v độc nhất. V thế, vấn đề cn lại l cấu trc ngn ngữ đ xảy ra như thế no.

Thuyết chủng tử đ được đề ra để trả lời điều ny. Quan niệm chủng tử c một lịch sử lu di, v n được bn đến rộng ri trong nhiều tc phẩm đầu tin khc nhau của Thế Thn, đặc biệt l Cu X Luận v Nghiệp Thnh Tựu Luận (Abhidharmakośa II ad 36. cf. Karmasiddhiprakaraṇa, ed. Yamaguchi, Kyoto: Daizokan, 1951: 9-10). Việc đề ra quan niệm ny trong cc tc phẩm trn nhằm mục đch giải thch trước tin tại sao cc kết quả thuộc về lun l (thiện c quả) của một hnh động khng diệt vo lc hnh động ny được thực hiện v kết thc. Chẳng hạn, nếu ti đ ni dối ai đ, tại sao sau khi hnh động ni dối đ hon tất về mặt vật l m ti vẫn cảm thấy c lỗi? Hơn nữa, nếu ti đ tin vo quan niệm cho rằng mọi hnh động của ti, d c lợi hay khng c lợi cho ti v người khc, sẽ mang lại kết quả tương ứng trong tương lai th vấn đề ni trn trở nn thch hợp hơn, c nghĩa l tại sao một hnh động c thể mang lại hậu quả của n một khi đ được thực hiện về mặt vật l v vật chất? Để giải quyết những cu hỏi ny, quan niệm về chủng tử đ được dng đến. Chng ta c lập luận rằng giống như một ci cy c thể gieo giống của chng vo lng đất v sau đ những chủng tử ny lại nảy mầm, cc hnh động của con người cũng thế. Mọi hnh động đều để lại sau n một chủng tử no đ, chủng tử m sau hng trăm kiếp vẫn khng diệt, v cc tc dụng của n sẽ chn đối với chng sinh sau khi c được những điều kiện cần thiết v thời gian cần thiết của n (Karmasiddhiprakaraṇa: 11-12). V vậy, nếu tc dụng vẫn cn ko di sau khi ti thực hin một hnh động th chnh v hnh động đ đ gieo một chủng tử của ring n v chủng tử ny, khi c đủ điều kiện cần thiết, đ sinh khởi tc
dụng ko di ni trn.

V thế, quan niệm chủng tử l một cng cụ kh tiện lợi để minh giải vấn đề nan giải của cc kết quả lun l của một hnh động. V đng như định ban đầu của n, n đ được Thế Thn sử dụng chủ yếu cho mục đch đ trong v số biện giải của ng trong Cu X Luận v Nghiệp Thnh Tựu Luận (Anguttaranikāya III n 404-409.). Tuy nhin, khi sang Nhị Thập Tụng, chng ta khng tm thấy điều g thuộc loại đ. N được dng đến chnh yếu l để lm r vấn đề tự tri trong phần mở đầu luận thư ny. Chng ta hy nhớ lại vấn đề được pht biểu như sau: Bất cứ ci g hiện hữu chỉ l ci khiến ta biết, đối tượng của n khng hiện hữu bởi v n l sự tự tri. Để lm r tại sao đối tượng được định nghĩa như một thng tin th khng hiện hữu v n l sự tự tri, Thế Thn đ đưa ra l do sau: Chủng tử của ring n, từ đ ci khiến ta biết sinh khởi như một sự tự tri về một vật, chủng tử đ đạt đến điểm quyết định của sự chuyển biến của n, chủng tử đ ở một pha, v chủng tử m n sinh khởi như một sự tự tri về chnh n, ở pha kia, những ci ny l hai ci m Thế Tn tuyn bố l xứ của mắt v xứ của vật. (Viṃśatikā ad 9: yataḥ svabījād vijaptir yadābhāsā pravartate/ dvividhāyatanatvena te tasyā munir abravīt// kim uktaṃ bhavati/ rūpapratibhāsā vijaptir yataḥ svabījāt parināmaviśeṣaprāptād utpadyate tac ca bījaṃ yatpratibhāsā ca sā te tabhyā vijapteś cakṣrūpāyatanatvena yathākramaṃ bhagavān abravīt/ evaṃ yāvat  spraṣṭavyapratibhāsā vijaptir yataḥ svabījāt parināmavieṣaprāptād utpadyate/ tac ca bījaṃ yatpratibhāsā ca sā te tasyā kāyaspraṣṭavyāyatanatvena yathākramaṃ bhagavān abravīd ity ayam abhiprāyaḥ/tiềm lực đặc biệt) Đọc chậm ri pht biểu ny, một điều r rng l đối tượng được định nghĩa như một thng tin th khng hiện hữu v n chỉ l một chủng tử của sự tự tri. Chủng tử đ khi đạt đến giai đoạn quyết định của sự chuyển biến của n cho php chng ta c một tri nhận, đ l biết c ci g đ ngoi kia v biết c chng ta ở đy. Như vậy, sự chuyển biến của thức l sự chuyển biến của một chủng tử vo bất kỳ giy pht no được cho. Nhờ c chủng tử lm phương tiện, ci gọi l thức căn bản, tức thức-chứa-đựng, tự chuyển biến thnh một tri nhận. Vậy, từ ngữ chủng tử c nghĩa l g?

Mặc d trong sớ giải của mnh về Nhiếp Đại Thừa Luận của V Trước, Thế Thn đ giải thch chủng tử l một sức mạnh đặc biệt, một năng lực hay tiềm lực đặc biệt (Mahāyānasaṃgrahabhāṣya, TT. 5551, p.277e1-2.), nhưng đy chắc chắn khng phải l giải thch duy nhất c thể dng cho n. Thật vậy, như tc giả của Abhidharmadīpa lưu v Yaśomitra đ nhắc lại sau đ, từ chủng tử khng chỉ c nghĩa một sức mạnh hay năng lực đặc biệt m cn c nghĩa l ấn tượng (Abhdharmadīpa ad 261.). V nghĩa thứ hai ny thật sự đ xuất hiện trong cc tc phẩm của Thế Thn. Thật ra, ta cn c thể ni l ng dng
cả hai từ chủng tử v ấn tượng thay cho nhau v khng c phn biệt. Th dụ, trong Nhiếp Đại Thừa Luận, ta đọc được:

Tnh trạng lm suy kiệt cc chủng tử dần dần trở nn yếu ớt, yếu hơn, v cn yếu hơn nữa, theo cng cch giống như sự suy giảm [dần dần] trong nước si, hay trong vận tốc của mũi tn được phng đi. V v điều ny, khi sự kết thc của việc phng ra được đạt đến vo lc pht khởi, bằng một sự chuyển biến đặc biệt của thức-xử-l từ st na ny đến st na kế tiếp v qua sự ti diễn của cc chủng tử, thức v tiếp theo l cc thức khc cũng sinh khởi khi c cc điều kiện cần thiết của chng. Thức-xử-l, nơi chỉ c nhiều loại chủng tử khc nhau,
được tc động bởi cc thuộc tnh c lợi v bất lợi khc cng khởi với cc thức khc với n, nhờ vo sự tăng trưởng những chủng tử ny của chng ty theo trường hợp. Ứng hợp với lực của sự chuyển biến đặc biệt ny của chuỗi tương tục, m tiến trnh in dấu ti diễn, v cc hiệu quả vừa v khng vừa được mang lại. Về điều ny, người ta ni:
Tm (citta) c v lượng chủng tử ny tiếp diễn theo dng,
v khi c cc điều kiện ring cho n,
n v những chủng tử của n tăng trưởng.
Được tăng trưởng bởi chng v ti diễn dng chảy của n,
n c thể cho quả đng thời,
giống như đối với hoa chanh được nhuộm mu,
mu hiện ra trong li của quả n. (Karmasiddhiprakaraṇa: 21-22: sems ni rnam pa gis te/ te la gcig ni deḥi sa bon rnams bsags pa yin no/ gis pa ni deḥi dmigs pa daṅ/ rnam pa daṅ/ bye brag tha dad pa dag gis sna tshogs pa yin no/ sems gis pa ma tshaṅ baḥi phyir sems med pa yin te/ dper na khri rkaṅ pa gcig pa la rkaṅ pa gzan ma tshaṅ paḥi phyir/ rkaṅ pa med pa zes bya pa lta buḥo/ sa bon ams paḥi gnas skabs de zan pa daṅ/ ches zan pa
daṅ/ śin tu ches zan paḥi rim pas chu tshan daṅ mdaḥ ḥphaṅs paḥi sugs ḥbri baḥi tshul du des ldaṅ baḥi dus ḥphṅs paḥi mthar thug pa na/ rnam par smin paḥi rnam par śes pa la skad cig re re la ḥgyur baḥi khyad par las sa bon ḥjug pa sed pas yid kyi rnam par es pa daṅ/ phyis gzan dag kyaṅ rkyen ji lta ba bzin du ḥbyuṅ no// rnam par smin paḥi rnam par śes pa sa bon rnam pa sma tshogs khoṅ na yod pa de id la/ de las gzan pḥi rnam par śes pa daṅ lhan cig ḥbyuṅ baḥi chos gzan dge ba daṅ mi dge ba de daṅ de dag gis sa bon rtas par byed paḥi sgo nas ji ltar rig par bsgo bar byed do// rgyud ḥgyur baḥi kyad par de las stobs ji lta ba bzin du bga chags ḥjug pa red natshe phyi ma la ḥbras bu ḥdod pa daṅ mi ḥdod pa mṅon par ḥgrub bo// de id kyi dban du byas nas/ sems ḥdi sa bon mthaḥ yas pa daṅ ldan pa rgyun gyis ḥjug ḥgyur zin/ sems lla raṅ rgyen byuṅ na de daṅ deḥi sa bon rtas par ḥgyur/ de rtas rim gyis ḥjug pa red na dus su ḥbras bu ḥbyin pa ḥgrub/ ma du luṅ gaḥi me tog la bsgos tshon ni de ḥi śa dmar bzin/ zes bśad do/.

Đoạn văn từ sems ni rnams pa đến rkaṅ pa med pa zes bya pa lta buḥo khng được dịch ở trn. Tuy nhin, chng ti trch dẫn ở đy như phần bổ sung dnh cho những ai biết tiếng Ty Tạng.)


Ở đy, Thế Thn dng hai thnh ngữ sự ti diễn của cc chủng tử v tiến trnh in dấu ti diễn để m chỉ chnh xc cng một điều, đ l tiến trnh ti diễn của cc chủng tử v cc ấn tượng. Ngoi trch dẫn trn, cch dng khng phn biệt ny đối với hai từ chủng tử v ấn tượng c thể dễ dng tm thấy trong cc đoạn khc của cng tc phẩm (Karmasiddhiprakaraṇa: 18-19), v cch dng ny khng tạo ra bất kỳ nguy cơ nghim trọng no của sự ngộ nhận đối với những người cng thời ng, bởi v như đ ni, họ đều biết đến cch dng ny. Tc giả của Abhidharmadīpa l trường hợp điển hnh. ng sống khng lu
sau Thế Thn v c thể dễ dng nhận ra, trong số nhiều điều khc, nghĩa của từ chủng tử l ấn tượng như chng ta đ chỉ ra trước đy. Với sự đồng nhất ny, nay ta c thể trở lại pht biểu trn của Nhị Thập Tụng để xem n chnh xc c nghĩa l g.

N ni rằng chủng tử của ring n, từ đ ci khiến ta biết sinh khởi như một sự tự tri về một vật, chủng tử đ đạt đến điểm quyết định của sự chuyển biến của n, chủng tử đ ở một pha, v chủng tử m n sinh khởi như một sự tự tri về chnh n, ở pha kia, những ci ny l hai ci m Thế Tn tuyn bố l xứ của mắt v xứ của vật. Nay ta biết rằng cc từ chủng tử v ấn tượng c cng nghĩa v c thể thay thế cho nhau, t ra l trong Cu X Luận v Nghiệp Thnh Tựu Luận. V khng c l do giải thch tại sao trường hợp ny lại khng xảy ra
trong Nhị Thập Tụng. V thế, nếu ta suy đon n c xảy ra th pht biểu trn của Nhị Thập Tụng chỉ c nghĩa rằng khi một ấn tượng được nhận vo từ ci g đ bn ngoi, n khiến ta biết được sự kiện rằng ta biết ci g đ bn ngoi v ta biết rằng ta biết ci đ. Như vậy, ấn tượng được thu nhận như thế kch pht hai sự vận động cng thời để chuyển biến chủng tử của thức-chứa-đựng thnh một tri nhận đầy đủ của thức-tri-nhận.

Thứ nhất, n khiến ta biết rằng ta nhận được ấn tượng của ci g đ. V thứ hai, n khiến ta biết rằng ta nhận được ấn tượng của ci đ. Hai vận động cng lc ny nhằm chỉ cho sự chuyển biến của một chủng tử được cho thnh một nhận thức thuộc tri gic, như đ ni. Kết quả, cả ấn tượng khiến ta biết ci g đ cũng như ci khiến ta biết rằng ta biết ci đ đều khng hiện hữu độc lập hoặc rốt cng l chẳng hề hiện hữu g cả. Chng chỉ l những chủng tử. V nếu việc diễn giải n như l một ấn tượng, một điều nhất định c ch v cho nhiều
thng tin ở một mức độ rất lớn, c thể lm ta nghĩ về n như một loại thực thể, th đ l điều rất sai lạc; n cũng c thể được hiểu l năng lực hay tiềm năng, như đ ni. Khi được hiểu như thế, thức-tri-nhận pht khởi từ chủng tử, tự bản tnh, sẽ khng khc g cả với tự thn chủng tử; bởi v l chủng tử th n sẽ tồn tại như một tiềm năng vốn cần đến cc điều kiện thch hợp để c thể tự chuyển thnh thực tại. C lẽ do tưởng ny trong đầu m Thế Thn đ giải thch từ chủng tử l tiềm năng trong sớ giải của ng về Nhiếp Đại Thừa Luận
để nhấn mạnh đến quan niệm cho rằng chỉ c một nhận thức được gọi bằng những tn khc nhau như chủng tử ở cc giai đoạn chuyển biến khc nhau, v những tn gọi ny khng nn được hiểu lệch l c cc thực thể khc nhau ở những giai đoạn khc nhau ny. Một khi chủng tử cho ta sự tự tri về một vật v chủng tử khiến ta nhận biết sự tự tri đ được chuyển ha thnh chỉ một tri nhận về ci g đ bn ngoi, th điều được chứng thực l khng c chủng tử no trong số ny c thể được xem l tồn tại độc lập. Ni theo thnh ngữ của chnh Thế Thn l đối tượng khng hiện hữu v n l sự tự tri. Thật vậy, chủng tử, tức ấn tượng khiến ta nhận biết ci g đ bn ngoi v v thế nhất định trở thnh đối tượng của sự tự tri của chng ta, lm sao c thể ni l n c tồn tại? V cũng v l do đ, trước tin lm sao n c thể l một đối tượng?

Chng ta đ chỉ ra nghĩa kp của từ đối tượng được Thế Thn sử dụng. Một ci g đ l một đối tượng chỉ khi no n c thể c nghĩa, tức chừng no n c thể cung cấp một thng tin no đ. Như vậy, đối tượng được định nghĩa như một loại thng tin no đ. V thế, khi Thế Thn ni đối tượng khng hiện hữu v n l sự tự tri th điều đ cũng c nghĩa đối tượng trong nội dung được cho ny khng hiện hữu v n chỉ l thng tin. Thật vậy, chỉ l thng tin th n mới c thể đồng nhất với sự tự tri ở trong mệnh đề phụ tiếp theo v n l sự tự tri. V
trong phạm vi ny, n đồng nghĩa với từ chủng tử được bn ở trn. Thuyết chuyển biến trong Nhị Thập Tụng v thế đ qu hiển nhin. Khi một đối tượng được định nghĩa l một nguồn thng tin, n sẽ cung cấp cho chng ta thng tin, v thng tin ny c thể trở thnh chủng tử hay ấn tượng. Một khi đ trở thnh như vậy, n tự chuyển biến qua cc giai đoạn tự tri khc nhau để thnh một nhận thức đầy đủ của thức-tri-nhận. Kết quả, by giờ ta phải xem xt khng chỉ về sự diễn giải chủng tử l ấn tượng hay tiềm năng m cn cả sự diễn giải n l thng tin. Dĩ nhin đy l một nhận xt mang tnh loại suy bởi v ton bộ nội dung Nhị Thập Tụng khng lm sng tỏ đầy đủ cch diễn giải sau. Tuy nhin, như sẽ thấy, đy l một nhận xt đng, được xc quyết bởi tc phẩm sau đ của ng l Tam Thập Tụng (Alex Wayman, Review Article: The Yogācāra Idealism, PEW XV (1965): 65-73).

Chng ta đ ni rằng Tam Thập Tụng mở đầu với luận đề nổi tiếng sự m tả về ng v php c tc dụng theo nhiều cch khc nhau đều dựa vo sự chuyển biến của thức. Chng ta cn biết thm rằng sự chuyển biến ny của thức c ba loại, đ l chuyển-biến-xử-l, chuyển-biến-chứa-đựng v chuyển-biến-tri-nhận, v những chuyển biến ny chỉ l cấu trc ngn ngữ. Chng ta cũng đ chỉ ra rằng quan hệ giữa ba loại chuyển biến ny l quan hệ đồng nhất. C nghĩa l do chuyển-biến-chứa-đựng m thức tự chuyển biến thnh một thức-tri nhận v thức ny l điểm cuối của chuyển- biến-tri-nhận, trong khi chuyển-biến-xử-l xảy ra cng với chuyển-biến-chứa-đựng, v n nương vo chuyển-biến-chứa-đựng v lấy đ lm đối tượng. Với quan hệ đồng nhất ny, khng cn ngạc nhin khi Thế Thn chỉ ni rằng sự chuyển biến của thức l một cấu trc ngn ngữ, v r rng rằng chỉ c một chuyển biến được gọi tn ở
cc giai đoạn khc nhau hnh như bằng những tn khc nhau. D sao đi nữa, chng ta biết chắc rằng chỉ c một chuyển biến của thức, v chuyển biến ny được định nghĩa l một cấu trc ngn ngữ. Vậy, n c nghĩa l g?

N chỉ c nghĩa rằng ton bộ vận động của một thức l một cấu trc ngn ngữ, v thế n hon ton phụ thuộc vo ngn ngữ để vận động. Chng ta nhắc lại lần nữa l Thế Thn định nghĩa tri nhận qua ngn ngữ m n được diễn tả. Một khi tri nhận được định nghĩa l điểm cuối của sự chuyển-biến-xử-l th điều tất yếu l ci tự chuyển biến thnh điểm cuối cng đ sẽ được định nghĩa tương tự. Kết quả, điều tất yếu l ton bộ tiến trnh chuyển biến phải được định nghĩa l cấu trc ngn ngữ. Với định nghĩa ny, chẳng cn g ngạc nhin khi chủng tử, vốn được cho l hiện hữu trong thức-chứa-đựng, tức loại thức mang theo tiến trnh
xử l cho đến điểm cuối, đ được định nghĩa qua ngn ngữ m n được diễn tả.

Đối với tri nhận, n cũng được định nghĩa qua ngn ngữ m n được diễn tả, v nếu ton bộ tiến trnh chuyển biến chỉ l một cấu trc ngn ngữ, th khng c cch g khc hơn l cũng phải đưa ra một định nghĩa giống như vậy về chủng tử, ci đ sinh khởi tri nhận đ sau tiến trnh chuyển biến. V lẽ đ, chủng tử phải được xem như một loại thng tin được m ha theo một ngn ngữ đ cho. N lập thnh nền tảng cho sự vận động của ton bộ tiến trnh chuyển biến của thức. V vậy sự định nghĩa tiến trnh chuyển biến của thức dựa vo một cấu trc ngn ngữ r rng chỉ cho quan niệm về chủng tử được hiểu như l lượng thng tin được m ha theo một ngn ngữ đ cho. Như thế, nhận xt trn về việc diễn giải từ chủng tử l thng tin đ được xc chứng đầy đủ. V điều ny khng phải qu ngạc nhin. Điều lm chng ta ngạc nhin l khi sự diễn giải đ xc chứng ny được xt đến cng với quan niệm về sự chuyển biến của Nhị Thập Tụng được m tả trước đy, th một hnh ảnh th vị v chặt chẽ về thuyết chuyển biến của thức đ hiện ra.

Nhị Thập Tụng ni rằng một ấn tượng khi cho chng ta một sự tự tri về ci g đ v sau đ lại tạo thnh xứ của vật th phải tự chuyển biến đến một giai đoạn quyết định nơi m sự tự tri về ci g đ hiện khởi. Theo Tam Thập Tụng, tiến trnh chuyển biến ny l một cấu trc ngn ngữ. V lẽ đ, ấn tượng hay chủng tử được ci g đ để lại trong thức chng ta đng l loại thng tin c thể được xử l. V thng tin ny phải được m ha theo một ngn ngữ được cho v nhờ vo ngn ngữ đ, bởi v sự chuyển biến của một thức, m thng tin ny phải phụ thuộc, chỉ vận hnh như một cấu trc ngn ngữ chứ khng phải cch g khc. Như vậy, thuyết chuyển biến của thức do Thế Thn đề ra trong Nhị Thập Tụng v Tam Thập Tụng được xc chứng r rng. Khng cn sự mơ hồ cũng như mu thuẩn no về nghĩa của n để c thể gy ra nhầm lẫn. Căn cứ vo đ, Thế Thn đ c thể nhận ra rằng một đối tượng khi được định nghĩa như một nguồn thng tin, hay chnh xc hơn như một loại thng tin no đ, khng hiện hữu qua lượng thng tin đ bởi v tc dụng của thng tin l chỉ cho ci g
đ ở ngoi v vượt khỏi n, cho ci g đ ở bn ngoi; hơn nữa, khi thng tin đ được xử l, n sẽ trở thnh một tri nhận về đối tượng m một thức no đ thu thập được, chứ khng phải về đối tượng m n thật sự biểu trưng v cung cấp thng tin.

C thể ni rằng sự thất bại trong việc hiểu đng thuyết chuyển biến của thức của Thế Thn l nguyn nhn gốc rễ của quan niệm phổ thng của rất nhiều nh nghin cứu cho rằng triết học của ng l duy tm luận như chng ta đ đề cập trước đy. Ngay cả Wayman, người đ chnh xc đặt ra vấn đề liệu c phải học thuyết Du gi của Thế Thn l duy tm luận, bằng cch chỉ ra rằng nếu c thể hiểu duy tm luận qua cc khẳng định như thức l thực tại duy nhất th thật rất kh giải thch tại sao Thế Thn lại thừa nhận sự tồn tại độc lập của một
phạm tr gồm cc php khng tương ứng với thức cũng khng tương ứng với vật, th chnh Wayman hnh như vẫn sẵn sng gn ghp một loại duy tm luận no đ cho Nhị Thập Tụng, nếu khng muốn ni l Tam Thập Tụng. Đy quả l điều khng may.

Nếu chnh sự chuyển biến của thức khiến cho một ấn tượng c thể chuyển ha thnh một tri nhận đầy đủ th sự chuyển biến ny xảy ra như thế no? Trong Tam Thập Tụng, khi giới thiệu v nhấn mạnh khi niệm chuyển biến, Thế Thn chỉ ni rằng sự chuyển biến của thức l một cấu trc ngn ngữ sau khi chứng minh n c ba loại, v chỉ c thế. V vậy, đối với Tam Thập Tụng, n khng cho chng ta trả lời r rng no về cu hỏi vừa nu. Tuy nhin, cc sớ giải về n lại cho nhiều thng tin hơn về điểm ny. Chẳng hạn như sau khi hỏi chuyển biến l g?, An Huệ đ đưa ra trả lời sau:
Đ l một tnh trạng trở thnh khc đi. Khi một quả tự đắc cng thời với st na diệt của nhn v khc biệt một cch đặc trưng với st na đ của nhn, đ l sự chuyển biến. Vo st na đ, do sự xử l ton bộ cc ấn tượng của cấu trc ngn ngữ như ng, v.v., v do sự xử l ton bộ ấn tượng của cấu trc ngn ngữ như php, v.v, m cấu trc ngn ngữ sinh khởi như sự tự tri về chnh n v như sự tự tri về đối tượng từ thức-xử-l. Sự tự tri ny về chnh n v sự tự tri ny về đối tượng, do cấu trc ngn ngữ, c tc dụng của một sự thật khch quan giống như sự m tả về ng, v.v., v giống như sự m tả về php như sắc trần, v.v., trong sự thường hằng của n cho d khng c bất kỳ ng hay php no ở bn ngoi, giống hệt như sự m tả cc sợi lng v cc vng của một người mắc bệnh bạch chướng nhn. Một m tả l một từ m n khng c hm những g n l v khng p dụng vo chỗ n phải l, giống hệt như khi người ta dng từ con b để m tả một Bāhikā (Sthiramati, Triṃśikāvijaptibhāṣya, ed. Lvi, p.16).


Vậy th, theo An Huệ, chuyển biến c nghĩa rằng một ấn tượng, khi được một đối tượng để lại trong ci gọi l thức-chứa-đựng, đ tự chuyển biến qua tiến trnh của cấu trc ngn ngữ cho đến điểm m ở đ n c thể dẫn khởi một thức vo việc nhận biết về chnh n v về ấn tượng. Một khi sự tự thức về chnh n v về ấn tượng ny xảy ra, th do cấu trc ngn ngữ của n m n c tc dụng như một m tả về ng v php khi c sự phụ thuộc như một sự thật khch quan. Ni cch khc, khi một ấn tượng trong tiến trnh chuyển biến của n kch
khởi một thức thnh sự tự tri về chnh n v về ấn tượng th ấn tượng ny trở thnh một m tả về sự vật m sự vật ny phụ thuộc vo n như một sự thật khc quan. Theo nghĩa ny, r rng sự chuyển biến của thức thật sự l một cấu trc ngn ngữ. Thật vậy, ton bộ tiến trnh chuyển biến l sự xử l một ấn tượng thnh một m tả về một vật, khng hơn khng km. V thế, ci ta biết về ngoại cảnh hon ton ty thuộc sự xử l đ. Qua n, một ấn tượng do một đối tượng để lại c thể kch khởi thức của chng ta thnh một sự nhận biết về chnh chng ta v về ấn tượng m đối tượng để lại. V từ sự nhận biết ny, ta c thể hnh thnh một m tả chnh xc về đối tượng m ấn tượng ny m chỉ. Sự nhận biết về chnh mnh v về ấn tượng v thế rất thiết yếu cho vận hnh của tiến trnh. Thật vậy, nếu khng c n, thật kh hnh dung lm thế no ton bộ tiến trnh chuyển biến c thể hoạt động được, bởi v ấn tượng sẽ giữ nguyn như n l. Khng c điểm cuối cng để đạt đến v cũng khng c m tả no được tạo về một vật khi c sự ty thuộc như sự thật khch quan. Tiến trnh chuyển biến của một thức như vậy đ được An Huệ trnh by rất r rng. Php Hộ cũng đưa
ra một giải thch tương tự, nếu khng phải l tương đồng, về cơ cấu hoạt động của tiến trnh ny. Tuy nhiện, do quan điểm được một số tc giả chủ trương m về mặt ny Php Hộ vẫn giữ một vi kiến rất khc biệt với An Huệ. Chng ti phin dịch một đoạn thường được trch dẫn của ng v đồng thời trnh by phần giải thch thm của chng ti:

Cc thức ny tự chuyển biến thnh cấu trc ngn ngữ v những g được thiết lập bằng ngn ngữ. V điều ny, ci được thiết lập bằng ngn ngữ khng hiện hữu. V vậy, bất kỳ ci g hiện hữu chỉ l ci khiến ta biết.

Luận thư ni: những g được gọi l cc thức ny l ba thức chuyển biến ni trn v cc thuộc tnh của chng. Cc thức ny c thể tự chuyển biến thnh phần thấy (kiến phần) v phần bị thấy (tướng phần). V thế, chng được gọi l chuyển biến. Những g được chuyển thnh phần thấy được gọi l cấu trc ngn ngữ, đ l v n c thể tri nhận phần bị thấy. Những g được chuyển thnh phần bị thấy được gọi l được cấu trc bằng ngn ngữ, đ l v n được tri nhận bởi phần thấy. Do l luận ny, cc thực ng v thực php kia chắc chắn khng hiện hữu nếu khng c những g được chuyển biến bởi thức. Đối với sự tự chuyển
biến thnh phần nắm bắt v phần được nắm bắt, sẽ khng hiện hữu một php độc lập no cả. Khng c thực php no hiện hữu nếu khng c hai phần đ. V vậy, bất kỳ ci g hiện hữu, hoặc hữu vi hoặc v vi, hoặc thực hoặc mộ tả, đều cng c với thức (Dharmapāla, Vijaptimātratāsiddhi, Taishō 1585: 38c16-24:
是 諸 識 轉 變 分 别 所 分 别
由 此 彼 皆 無 故 一 切 唯 識
論 曰, 是 諸 識 者, 謂 前 所 説 三 能 變 識 及 彼 心 所, 皆 能 變 似 見 相
二 分, 立 轉 變 名。 所 變 見 分 説 名 分 别, 能 取 相 故。 所 變 相 分 名 所
分 别, 見 所 取 故。 由 此 正 理, 彼 實 我 法 離 識 所 變 皆 定 非 有, 離 能
所 取 無 别 物 故, 非 有 實 物 離 二 相 故。 是 故 一 切 有 為 無 為, 若 實
若 假, 皆 不 離 識。 ).

(đọc tiếp)