www.todinhlinhson.com

gp nhặt

 

Thch Tuệ Sỹ
Huyền Thoại Duy Ma Cật

những gi trị phổ qut của Bồ Tt hạnh (I)

(phần II)

(phần III)

Nhn đọc Triết Học Thế Thn bản dịch Việt
Về những minh họa từ Thiền Uyển Tập Anh
Buddhist Foundation of Economics

L Mạnh Tht

Triết Học Thế Thn (phần I)
(phần II)
(phần III)

(phần IV)

(phần V)

(Về Tự Trị - 1)
(Về Tự Trị - 2)
(Về Tự Trị - 3)
Một Số Nhận Xt Cuối Cng
Ngn Ngữ về Những G Hiện Hữu

Emperor Nhn Tng and the War of Defense

And The Trc Lm School

Thch Phước An

nh thơ của Am My Trắng ở Thế Kỷ XVIII c bi bc Phật Gio Khng?

Ton Nhật thiền sư..

Ton Nhật thiền sư (tt)

Thch Thi Ha

Giới thiệu phẩm vua Diệu Trang Nghim - Kinh Php Hoa

Bồ Tt Qun Thế m - Phẩm Phổ Mn Kinh Php Hoa

Lịch Sử Pht Triển Phật Gio Đại Thừa Bồ Tt Giới

Giới thiệu Phật Gio Đại Thừa Bồ Tt Giới Phần(1)

Phần (2)

phần (3)

giới thiệu phẩm Bồ Tt Phổ Hiền khuyến pht trong kinh Php Hoa

Hồng Dương

Lưới Tương Giao (1)

Lưới Tương Giao (2)

Lưới Tương Giao (3)

Lưới Tương Giao (4)

Đốn Ngộ Tiệm Tu

Tn L Trung Đạo

Tn v chứng trong kinh Hoa Nghim

Phn Biệt, Ngn Ngữ v Tu chứng

E Conze

V Vi v Tiến Trnh Giải Thot

Một số vấn đề trong ABHIDHARMA

 

TRIẾT HỌC THẾ THN
Ti Khảo St Về Sự Tri Nhận

L Mạnh Tht

 

phần IV
(tiếp theo bi trước)


Ngoi bốn l do trn, Thế Thn cn chỉ ra trường hợp của một tấm vải c nhiều mu v trường hợp của ngọn đn, trong đ những khc biệt về mu sắc của tấm vải cũng như về độ sng v sức nng của ngọn đn trong khi chy đ tạo thnh những chướng ngại quan trọng cho việc quyết định xem chng thật sự c ci ton thể hay khng. Trường hợp của tấm vải nhiều mu th thật đau khổ cho Thắng Luận. Bởi v họ chủ trương rằng một vật thật như ci ton thể c thể chỉ c một tnh chất độc nhất l mu, v.v., ở bất kỳ một thời điểm no đ; v nay ta lại c ton thể tấm vải với nhiều mu khc nhau ở cng một thời điểm, lc đ ton bộ tấm vải ny l g? Tiếp nối Thế Thn, đ c rất nhiều thảo luận v giải đp cho cu hỏi ny được cc nh ph bnh v ủng hộ Thắng Luận chủ trương v đề nghị (Srīdharabhatta, Prasastapādabhāsyam Srīdharabhattapranītayā Nyāyakandalī Vyākhāyā Samvalitam, Varanasi: Gangānātha-Jhā-ranthamālā, 1963: 75-77.). Nhưng chng ta khng cần bn đến ở đy, v họ khng đưa ra bất kỳ giải đp đng kể no.

Như vậy, với bốn l do trn v hm nghĩa của chng, thuyết về ci ton thể của Thắng Luận đ được thch thức mạnh mẽ trong Cu X Luận. V thế chẳng c g ngạc nhin khi Thế Thn, trong Nhị Thập Tụng, đ tch biệt thuyết ny trước tin để loại bỏ với chỉ một cu độc nhất khi đang bn đến đối tượng tri nhận qua cấu trc nguyn tử của n. Sự việc khng đề cập nhiều đến thuyết ny cn được chứng thực trong Nghiệp Thnh Tựu Luận (Karmasiddhiprakarana, ed. Yamaguchi, Kyoto: Bozokan, 1951: 2-3.), trong đ ng khảo st vấn đề hnh dạng c thể được xem l một loại nguyn tử đặc biệt như mu, l một tụ hợp đặc biệt no đ của cc nguyn tử, hay l một vật thật no đ lan truyền trong cc tụ hợp của mu. Trường hợp cuối cng trong số trn r rng c chỉ cho ci ton thể trong thuyết của Thắng Luận. Thật vậy, nhờ ph phn mạnh mẽ của ng về thuyết ton thể đ m lịch sử pht triển kế tiếp của n chỉ biết quanh quẩn trong việc trả lời v trnh n n. V cc nh ph bnh nối tiếp ng thường thch bỡn cợt về n hơn l cố gắng đưa ra những nhận xt c ph phn ưu việt hơn những g ng đ lm.

V thế, sau khi ti tạo nhiều lập luận khc nhau chống lại thuyết ton thể qua một đoạn văn di, Vacaśpatimiśra đ kết luận với một nhận xt hi hước v th vị về những người chống đối ng: Ci ton thể, khng để cho kha cạnh của n được nhận thức, m vẫn cao rao l được nhận thức, th cũng giống như một người muốn mua ci g đ m khng chịu trả tiền. (Vacaśpatimiśra, Nyāyavārtikatātparyatīkā: 478.) V thế, đối với thuyết của mnh về đối tượng tri nhận, Thắng Luận đ khng giải quyết được những kh khăn Tỳ B Sa gặp phải qua khi niệm về ci ton thể của họ. V với khi niệm ny họ cũng đ thất bại trong cố gắng định nghĩa đối tượng tri nhận bằng cấu trc nguyn tử của họ.

Chng ta đ thấy rằng việc định nghĩa một đối tượng như thế hoặc bằng một tổ hợp cc điều kiện hoặc bằng một kỹ thuật phn tch nhằm tm ra cc thnh phần thật sự của n đ dẫn đến nhiều kh khăn khc nhau. Khi ph phn khi niệm của Thắng Luận về ci ton thể trong Cu X Luận, hnh như Thế Thn vẫn tin vo giải php của Tỳ B Sa đối với nan đề đ khiến cho Thắng Luận trước tin phải tm ti v đề ra khi niệm ni trn của họ. Nhưng cuối cng giải php của Tỳ B Sa tỏ ra khng khả quan g hơn giải php của Thắng Luận, như ng đ khảo st kỹ về n trong Nhị Thập Tụng. Như đ thấy, giải php ny bao gồm khẳng định rằng sau khi phn tch cc vật thnh cc thnh phần cấu tạo khc nhau của chng, ta c thể định nghĩa lm thế no những vật như thế lại c trong một tổ hợp cc trường hợp được cho.

Tấm vải được định nghĩa l một tập hợp cc sợi vải tự sắp xếp theo cch no đ. Tương tự, đối tượng tri nhận l một kết tụ cc nguyn tử tự sắp xếp theo một cch no đ, v.v. Mặc d giải thch kho lo của họ về cch cc nguyn tử tự sắp xếp, nhưng Tỳ B Sa, như Nhị Thập Tụng cho thấy, đ khng giải thch được l do của khi niệm của họ về sự sắp xếp, nhất l trong khun khổ những g họ xem l thật để đối lại với ci chỉ mang tnh quy ước hay hon ton khng thật. Cố gắng định nghĩa đối tượng tri nhận qua cấu trc nguyn tử của n v thế vẫn khng được giải quyết. Nay c người đ cố hon tất việc ny bằng cch dựng ln một tổ hợp cc điều kiện, qua đ một đối tượng c thể được xt đến ty theo n c đp ứng được cc điều kiện của một đối tượng tri nhận hay khng. Như đ ni, tổ hợp ny vo thời của Thế Thn bao gồm bốn điều kiện l nơi chốn, thời gian, sự độc lập của thức, v tnh phổ qut. Điều bất hạnh l một đối tượng được nhn thấy trong giấc mộng cũng c thể đp ứng cả bốn điều kiện ny, như Nhị Thập Tụng sẵn sng chỉ ra. Hơn nữa, sự kiện đối tượng ny đp ứng được cc điều kiện ni trn khng thể bị phủ nhận bằng l do l n khng được chứng thực hiển nhin, bởi v những g ta thấy trong mơ th hon ton hiển nhin như những g ta thấy hoặc nghe trong trạng thi tỉnh thức (Vimśatikā ad 8: pramānavasād astitvam nāstitvam vā nirdhāryate sarvesām ca pramānānām pratyaksam pramānam garistham ity asaty arthe kathem iyam buddhir bhavati pratyaksam iti/ pratyaksabuddhih svapnādau yathā.). Vấn đề sau cng về sự tự chứng thực ny đ trở nn phức tạp hơn do chủ trương st na diệt của Tỳ B Sa đối với mọi vật, kể cả cc nguyn tử, ci m Thắng Luận đủ khn kho để xem chng l thường hằng. Ni rằng một vật c tnh chất st na diệt tức đồng thời cũng khẳng định rằng ta khng thể ni rằng vật đ được tri nhận; thay v thế, ci ta c trong một tnh huống như thế chỉ l một hnh ảnh về n. Trong bất cứ nội dung no được cho th một tri nhận đi hỏi một khoảng khng gian no đ giữa đối tượng v chủ thể để cho đối tượng đ c thể được tri nhận; v khi c một khoảng cch như thế, th một khoảng cch thời gian cũng phải xảy ra m trong đ đối tượng được truyền đến chủ thể v trong đ đối tượng, do hiện hữu st na diệt của n, phải thay đổi theo đ.

Đưa vo ngn ngữ của Nhị Thập Tụng, ta c thể ni, khi khi niệm về sự tự chứng, chẳng hạn như điều ny tự chứng thực đối với ti, xảy ra th lc đ đối tượng khng cn được nhn thấy nữa, bởi lẽ vo lc đ nhn thức về đối tượng đ bị ngăn ngại v sự phn biệt của thức về n đang xảy ra. (Vimśatikā ad 8: sā ca yadā tadā na so rtho drśyate tasya pratyaksatvam katham matam/16 yadā ca sā pratyaksabuddhir na bhavatīdam me pratyaksa it tadā na so rtho katham tasya pratyaksatvam istam/ viśesena tu ksanikasya visayasya tadānīm niruddham eva tadrūpan rasādikam vā//.) Mặt khc, nếu chủ trương rằng chnh hnh ảnh về đối tượng l chứng cứ về sự tự chứng thực của n sau khoảng thời gian truyền đạt đ th ci g bảo đảm đ l sự tự chứng thực của một đối tượng c thật m khng phải của một đối tượng khng thật như trường hợp trong một giấc mơ? Cả hai đều c những hnh ảnh no đ của ring chng. (Vimśatikā ad 9) Như vậy, trong phạm vi thuyết st na diệt, vấn đề tự chứng thực của đối tượng tri nhận hnh như khng cn hy vọng trả lời được. V đối với những ai theo chn Tỳ B Sa khi tn thnh l thuyết ny, th ph phn ni trn của Thế Thn thật sự đ đặt ra một thch thức nghim trọng, nếu khng phải l ch tử. Họ đ c nhiều nỗ lực đầy ấn tượng, trong số đ l giải php nổi tiếng được đề ra bởi tc giả của Abhidhammatthasamgaha (Thắng Php Tập Yếu) v định nghĩa mới về tri nhận do Trần Na đề nghị v sau đ được Php Xứng v những người theo ng khai triển thm.

Theo Abhidhammatthasamgaha, những kh khăn nội tại của khi niệm st na diệt đối với việc thiết lập một thuyết tri nhận c thể trnh được nếu ta c thể giả định rằng mỗi st na được chia thnh mười bảy st na nhỏ v chng lại được ti phn trong chu kỳ sống của một st na, c nghĩa l mỗi st na đ c sinh của n, trụ của n v diệt của n v rồi lại c sinh của n, trụ của n, v.v., cho đến khi c một sự hủy diệt ton bộ của thế giới. Sự ti phn ny xảy ra như sau: hai st na nhỏ được dnh cho khoảnh khắc đầu của st na, một cho khoảnh khắc diệt của n, v một cho sự đnh trụ của n. V l do đ, trong biểu đồ ny, thời gian cần đến để hon tất sự tri nhận một đối tượng được đp ứng. Người ta l luận rằng vo khoảnh khắc đầu vốn ko di hai st na nhỏ th đối tượng khiến cho cấu trc của một hiện hữu (bhavanga) rung động v như vậy khởi đầu tiến trnh tri nhận về đối tượng đ. Đối tượng ny, theo thời gian được kch khởi đ, vẫn cn mười bốn st na nhỏ tiếp nối trước khi n v tự thn tiến trnh tri nhận biến mất vo cng st na nhỏ cuối cng. Trong ton bộ mười bốn st na nhỏ đ, cả đối tượng v sự tri nhận sẽ c đủ thời gian để hiển lộ cho nhau v thế sẽ đp ứng được đi hỏi tự chứng thực, đồng thời duy tr được thuyết st na diệt. Giải php được đề ra ny r rng rất hấp dẫn v đi hỏi thm cc khảo st cụ thể để xem tiến trnh tri nhận c thể ty tiện phn thnh mười bảy st na nhỏ hay khng v c thật sự tồn tại những st na nhỏ như đ ni đến hay khng. Thế nhưng, một mặt, người ta khng thể trnh được cảm gic l giải php đ qu giảo hoạt để cho l c thật. V mặt khc, người ta c thể hỏi l c ch g khi đưa vo một vấn đề vốn đ nhiu kh cc phn biệt chi li như thế khi m ngay cả một định nghĩa thỏa đng về đối tượng tri nhận l g cũng khng c .

Như vậy, cho d đặc điểm hấp dẫn của n, giải php của Abhidhammatthasamgaha vẫn khng hề nhận được bất kỳ sự xem xt nghim tc no của những người sau thời tc giả (Anuruddha, Abhidhammatthasamgaha, ed. Thch Minh Chu, Saigon: Viện Đại Học Vạn Hạnh xuất bản, 1966, n 91-97. Cần thm ở đy rằng, khi ni cho d đặc điểm hấp dẫn của n, giải php của Abhidhammatthasamgaha vẫn khng hề nhận được bất kỳ sự xem xt nghim tc no của những người sau thời tc giả, dĩ nhin ti khng c cho rằng Anuruddha khng c người thừa kế no cả. Sự thực th rất nhiều luận giải đ được viết về tc phẩm ny, trong đ luận thư nổi tiếng Abhidhammatthavibhāvanītīkā của Sumangalasvāmī đ được Bhadanta Revatadharma xuất bản gần đy. (Revatadharma, ed. Ācārya Anuruddha Viracita Abhidhammatthasamgaho Tathā Bhadata Sumangalasvāmī Dvārā Pranīta Abhidhamma-tthavibhāvanītīkā, Varanasi: Bauddha Svedhyāyasastra, 1965.) Điều ti muốn ni ở đy l sự kiện Abhidhammatthasamgaha đ khng hề nhận được bất cứ sự khảo cứu c ph phn no từ những khun mặt lớn như Thế Thn, Trần Na, v.v., của lịch sử triết học Ấn độ ni chung. V thế, n đ trở thnh một đối tượng tn ngưỡng (article of faith) hơn l một chủ đề tư duy triết học thuần ty.). Trong số những người c tn tuổi nhất trong số đ l Trần Na v Php Xứng. Đối với Trần Na, ng chủ trương tất cả kh khăn trn đều c thể giải quyết nếu như một định nghĩa mới về tri nhận l g được đưa ra. V thế, tri nhận được định nghĩa l một nhận thức nằm ngoi cấu trc ngn ngữ (Dignāga, Pramānasamuccaya I p.14a4-7.); v điều kh chnh xc l đối tượng của n v thế được xem l ci c thể được nhận thức như n l v l ci khng thể diễn đạt (Dignāga, Pramānasamuccaya I p.14b5-6.). V vậy, đối với Trần Na cũng như một số những người trước thời ng được ng trch dẫn th đối với một người c khả năng tri nhận th anh ta tri nhận một vật c mu xanh no đ lm đối tượng chứ khng [tri nhận] n l mu xanh, anh ta nhận biết đối tượng nhưng khng phải cc thuộc tnh của n (Dignāga, Pramānasamuccaya I p.14b2-4.). V thế, đối tượng tri nhận vượt ra ngoi lnh vực khảo st v định nghĩa. N hon ton khng thể diễn đạt, như Trần Na quan niệm. Một khi đối tượng tri nhận đ nằm ngoi cấu trc khi niệm v ngn ngữ th điều tất nhin l tự thn hnh động tri nhận cũng nhất định nằm ngoi lnh vực khảo st. N l một loại tia chớp vụt qua m trong suốt cả đời mnh ta cũng khng bao giờ nắm bắt được d trong khoảnh khắc. N thong hiện v thong diệt m khng để lại một dấu vết. Qua đ, tất cả những cu hỏi đặt ra xoay quanh hnh động tri nhận v đối tượng của n v thế hon ton trống rỗng mọi nghĩa v mục đch chỉ v chng khng thể ph hợp với định nghĩa mới được Trần Na đề nghị cho một hnh động như thế. Thật vậy, bởi v bất kỳ nhận thức được diễn đạt no tự n cũng l một cấu trc khi niệm v ngn ngữ, cho nn bất kỳ định nghĩa no về đối tượng tri nhận cũng nhất định phải chỉ cho đối tượng được tạo dựng m khng phải chỉ cho đối tượng như n được tri nhận trong tia chớp của sự tri nhận về n. Kết quả, lnh vực tri nhận l lnh vực ring tư của mỗi c nhn m anh ta khng thể truyền đạt đến người khc. Đ l lnh vực của kinh nghiệm tuyệt đối.
Quan điểm mới về tri nhận v đối tượng tri nhận ny về sau đ trở thnh quan điểm tiu chuẩn được chấp nhận với rất t sửa đổi bởi hầu hết những người tiếp nối ng như Php Xứng (Dharmakīrti, Nyāyabindu, ed. Serbatskoi, Petrograd, 1918, n 6-9.), Prajākaragupta, Jānaśrīmitra, Ratnakīrti, v.v. Chẳng hạn như Php Xứng, d ng đ thm thắt định nghĩa tri nhận của Trần Na để n trở thnh tri nhận l một nhận thức nằm ngoi cấu trc ngn ngữ v khng phải vọng tưởng (Dharmakīrti, Pramānavarttika III ad 123a: pratyaksam kalpanāpodham. Xem thm Hattori, op. cit.: 83: Php Xứng theo chn Trần Na khi địng nghĩa pratyaksa l kalpanāpodha trong P(ramāna) V(ārttika) III, 123a, nhưng ng đ thm từ abhrānta vo định nghĩa ny trong N(yāya) B(indu), i, 4, v P(ramāna) Vin(iścays), 252b.3. (Những từ trong ngoặc l của ti). Đ c tranh ci về việc Php Xứng sửa đổi định nghĩa của Trần Na c tạo ra một tiến bộ hay thoi bộ trong thuyết tri nhận; tuy nhin điều ny khng lin quan đến chng ta ở đy.)
Dharmakīrti, Pramānavarttika I (Gnolis edition) ad 93-94a.

Vimśatikā ad 4: svapnopaghātavat krtyakriyā siddheti veditavyam/ yathā svapne dvayasamāpattim antarena śukravisargallaksanah siddheti veditavyam/ yathā svapne dvayasamāpattim antarena śukravisargallaksanah svapnopaghātah/. cf. Abhidharmakośa IX 461, LVP: 233; Karmasiddhi-prakarana: 27.), nhưng ng vẫn cố gắng theo st Trần Na từng chữ trong khi trnh by quan điểm của mnh về cng vấn đề trn trong Nyāyabindu cũng như Pramānavārttika (Dharmakīrti, Pramānavarttika I (Gnolis edition) ad 93-94a.). Nếu c khc biệt quan trọng no giữa họ th chnh yếu l nỗ lực mới của ng trong việc định nghĩa đối tượng tri nhận l g, ci m Trần Na xem l khng thể diễn đạt, như chng ta đ thấy. Định nghĩa mới đ l ci c khả năng tạo ra một kết quả (Vimśatikā ad 4: svapnopaghātavat krtyakriyā siddheti veditavyam/ yathā svapne dvayasamāpattim antarena śukravisargallaksanah siddheti veditavyam/ yathā svapne dvayasamāpattim antarena śukravisargallaksanah svapnopaghātah/. cf. Abhidharmakośa IX 461, LVP: 233; Karmasiddhi-prakarana: 27.). Điều khng may l định nghĩa mới ny khng kh hơn định nghĩa của Tỳ B Sa hay Thắng Luận, bởi v nếu n đng th c gi ti thấy trong mơ tối hm qua cũng thật như vợ ti đang nằm ngủ bn cạnh, v c gi đ thật sự đp ứng được sự tơ tưởng tnh dục của ti đến độ sự cấu trược trong bng tối đ xảy ra với ti. Điều kh kỳ lạ l th dụ vừa nu dĩ nhin xuất pht từ Nhị Thập Tụng như đ thấy lại khng hề được những người ủng hộ Php Xứng nhắc đến để bc bỏ ci định nghĩa cũ v kh rời rạc đ. Đ l một định nghĩa cũ bởi v trong khảo st của mnh, Thế Thn đ liệt k khả năng tạo ra một kết quả như một trong bốn tiu chuẩn c thể c để phn xt c phải một ci g đ l đối tượng tri nhận hay khng, như chng ta đ bn đến ở trn. Trong sự phn tch cuối cng ny, chnh định nghĩa mới về tri nhận của Trần Na đ đặt nền tảng cho Php Xứng v những người kế tục ng như Prajākaragupta, Ratnakīrti, v.v., khai triển quan điểm v kiến của họ về ci thực v khng thực (Ratnakīrti, Ksanabhagasiddhih, trong Ratnakīrtinibandhāvalī, ed. A. Thakur, Patna: K. P. Jayaswal Research Institute, 1957: 62.). Như vậy, d c những nỗ lực đng khen ny, cc vấn đề lin quan đến hnh động tri nhận v đối tượng của n m Thế Thn đặt ra trong Nhị Thập Tụng vẫn khng được trả lời. Ni rằng đối tượng tri nhận th khng thể diễn tả, giống như Trần Na, chắc chắn chẳng c lợi ch g. Một khẳng định ph hợp với định nghĩa mới của Php Xứng về ci thực chắc chắn sẽ mang trở lại mọi loại thực thể bất thực m ng đ cố loại bỏ. Giải php đề ra trong Abhidhammatthasamgaha nghe c vẻ thực tế hơn; tuy nhin sự chi li qu độ của n lại khiến cho ta nghi ngờ hơn l khẳng định v tin tưởng. V thế, n cũng chỉ l những g n l, tức một cố gắng đng khen ngợi. Vậy theo quan điểm của Thế Thn, cc giải php cho những vấn đề ng đặt ra trong Nhị Thập Tụng l g?

Chng ta đ thấy rằng Thế Thn ph phn quan niệm cho rằng một đối tượng c thể được định nghĩa rốt ro v được biết đến một cch chnh xc n l g, một quan niệm được chủ trương v chấp nhận rộng ri vo thời ng. N được phản nh trong chủ trương của nhiều trường phi tư tưởng khc nhau m ng nhắc đến như Tỳ B Sa v Thắng Luận. Cả hai trường phi ny phn chia mọi vật thnh một số phạm tr m họ cho l biểu hiện của chn l. Theo đ, họ xem lời dạy của người sng lập trường phi mnh l thẩm quyền tối hậu trn tri đất về ci đng hoặc ci sai của một pht biểu. Họ khng đnh gi lời dạy của thầy tổ họ trn căn bản cc sự thật; thay v thế, họ đ diễn giải bất kỳ sự kiện mới lạ no theo những lời dạy cũ, những lời dạy sẽ bị vứt bỏ khng thương tiếc nếu khng cn ph hợp nữa. Thuyết đối tượng tri nhận bn đến ở trn chnh l trường hợp đang ni đến. Cả Tỳ B Sa v Thắng Luận hẳn phải biết đến cc l thuyết của nhau về vấn đề đ. Nhưng những diễn giải của họ, nếu c cho thấy ci g đ, chỉ chứng tỏ rằng họ đ khng xt đến vấn đề căn bản vốn cn cao hơn cả vấn đề đối tượng tri nhận v c thể được đề ra như sau: Nếu c hơn một giải thch về cng một đối tượng th vấn đề khng chỉ l giải thch no đng m l tại sao lại c hơn một giải thch.
Cu trả lời của Thế Thn về những vấn đề ng đặt ra trong Nhị Thập Tụng lin quan đến hnh động tri nhận v đối tượng của n đ được đưa ra trong khun khổ nhằm giải đp cho vấn đề vừa nu. Chnh khun khổ ny sẽ lm sng tỏ cho chng ta l do tại sao một cu trả lời như thế được đưa ra. Hy lưu rằng vo thời ng, Thế Thn đ biết đến sự c mặt của hơn một quan điểm về đối tượng tri nhận, v những kết quả mới trong cc khoa học ton học, nhất l tam gic học v thin văn học, đ đạt được dưới những tc phẩm uyn o của những khun mặt hng đầu như Āryabhatta v phi Pataliputra của thời ng (R. Billard, LAstronomie Indienne, Paris: cole Franaise dEtrme Orient, 1971: 16-18 & 69-97; D. A. Somayaji, A Critical Study of the Ancient Hindu Astronomy, Dharwar: Karnatak University, 1971: 4-14.). Pht triển ny rất th vị đối với chng ta v với ứng dụng của tam gic học v thin văn học, cc khoa học ton học vo thời đ c thể ti xc định những g đ được biết đến trong luận l do Thế Thn thiết lập vi thập nin trước đ, đ l: nếu cho mỗi x như A(h,x), ta lun lun c thể chứng minh A(s,x) trong cc điều kiện đặt ra bởi chnh A(h,x) m khng bởi cc g khc. Thật vậy, khi cc luận thư ton học của phi Pataliputra được đưa vo Trung quốc khoảng hai trăm năm sau đ, cc nh thin văn học c tầm cỡ như Nghĩa Tịnh đ đi xa hơn trong việc chọn lựa cc thnh quả tnh ton họ c được, sử dụng cc kỹ thuật tnh ton từ cc luận thư ny, hơn l cc thnh quả từ sự quan st vị tr cc v sao m họ thu thập từ cc đi thin văn (Beer, Ho Ping Yu, Lu Gwei Djen, Needham, Pulleyblank & Thompson, An 8th Century Meridian line: I Hsings Chain of Gnomons and the Prehistory of the Metric System, trong Vistas in Astronomy IV (1961): 3-28.). Trong nội dung của hon cảnh tr thức ny cũng như những khm ph của ring mnh trong lnh vực luận l, c lẽ Thế Thn chỉ cn một chọn lựa duy nhất để trả lời những cu hỏi ni trn về tri nhận v đối tượng của n. Trước hết, phải thừa nhận rằng tri nhận, như Tỳ B Sa v Thắng Luận định nghĩa v m tả, hon ton khng hiện hữu v khng thể chứng thực bắng bất cứ cch no cả. Thứ hai, phải chấp nhận cu cch ngn rằng những g ta biết về một đối tượng l từ kiến thức ta c về đối tượng đ. Như vậy, nếu ta đứng trước một đối tượng hon ton nằm ngoi hiểu biết của ta trong lần đầu tin th t ra ta cũng c khi niệm n l ci g đ, cho d n c xa lạ v kh hiểu đến thế no đi nữa. Kết quả l lun lun c một số khi niệm đầu tin lm nền tảng cho sự hoạch đắc v thiết lập cc hiểu biết mới. Tri nhận vốn l một phần của ton bộ hiểu biết cho nn chắc chắn c những khi niệm đầu tin của ring n để từ đ n pht khởi. V thế việc định tnh chất cho tri nhận phải xt đến cc khi niệm ny. Những g ta biết được ngay cả trong trường hợp tri nhận một đối tượng v thế phải đến từ sự hiểu biết ta c về đối tượng đ, cho d sự hiểu biết đ c sơ khởi v cạn cợt đến thế no đi nữa.
Ni theo Nhị Thập Tụng l bất kỳ ci g ta biết chỉ l những g khiến cho ta biết, khng c sự xuất hiện thuộc về thn cũng khng c ngn ngữ no cả (Vimśatikā ad 9: yadi vijaptimātram evedam na kasyacit kāyo sti na vāk/). Một khẳng định như thế khng ni ln điều g hơn ngoi một định l vốn rất phổ biến ngay cả đối với những người c lẽ t quen với việc suy tư về họ nhất. Đ l, bất kỳ những g ta biết về một ci g đ, ngay cả trong trường hợp tri nhận, th n khng xuất pht từ ci đ m từ sự hiểu biết ta c về n, v l do đơn giản l chỉ c sự hiểu biết về n chứ khng phải chnh n mới c thể cho chng ta thng tin về những g n l. Cuốn sch c ở đ. Nếu ti tri nhận cuốn sch hay bất cứ ci g cng loại m n tạo ra trong ti một thức về n, th chnh tri nhận của ti về hiện hữu của n ở đ, tức hiểu biết của ti về sự c mặt của n ở đ, đ lm cho ti thức về n. Nếu bạn ti tnh cờ bước vo phng v nhn thấy cuốn sch th anh ta c thể để đến điều g đ về n, một điều c lẽ ti đ khng để trước đ. Do đ, anh ta c thể c một tri nhận khc hẳn với tri nhận của ti. Như vậy, ta c thể ni rằng cuốn sch hnh như để lộ ra những kha cạnh mới cho những người tri nhận mới về n. Thế nhưng, thật ra ci chng ti c trong trường hợp ny l một sự cải thiện của chnh sự hiểu biết của chng ti, của anh ta v của ti, từ một sự hiểu biết c sẵn về cuốn sch. Khng phải chỉ v sự c mặt của cuốn sch m ta tri nhận được cuốn sch; đng hơn, chnh v sự hiểu biết của chng ta về n m ti tri nhận được n.

Tương tự, khng phải chỉ v sự c mặt của một đối tượng m sự tri nhận về đối tượng đ xảy ra; m chnh từ sự hiểu biết ta c về đối tượng đ m ta tri nhận được n. Pht biểu ny thật sự l một sự thật phổ qut, bởi v mọi người đều biết rằng khi ta sinh ra th khng chỉ sinh vo thế giới của cc sự vật m cn sinh vo thế giới của nhận thức, v phương tiện trước tin để diễn đạt nhận thức ny khng g khc hơn l ngn ngữ. Từ lc cất tiếng khc cho đời, con người thường xuyn phải chịu sự quy định của thế giới đang được tri nhận đến độ ngay cả thế giới của cc ấn tượng cũ đi khi dường như cũng bị phai mờ đối với một số người. Chnh nhờ dựa vo thế giới của nhận thức m con người tri nhận thế giới sự vật v chnh thế giới nhận thức mới cung cấp cho con người lần đầu tin một số khi niệm sơ khởi để từ đ c thể tri nhận thế giới cc sự vật. Ngoi ra, chnh thế giới nhận thức ny l nền tảng sinh khởi sự tri nhận về thế giới sự vật. Mặc d l một sự thật phổ qut, nhưng khẳng định trn của Nhị Thập Tụng bất cứ ci g ta biết chỉ l ci khiến cho ta biết thường được diễn giải như l một pht biểu bắt nguồn từ ci gọi l triết học duy tm, như chng ta đ chỉ ra ở Chương I. Người ta cứ pht biểu một cch v tội vạ rằng khẳng định trn hm chỉ c tm l tồn tại m khng c g khc, v mọi nhận thức về ngoại cảnh đều khng thật, v khng c ngoại cảnh m chỉ c vijāna (thức) l thật, v.v. (Raju, Idealistic Thought of India, Cambridge, Mas: Havard University Press, 1953: 269-272 & 276-277 ff; Radhakrishnan, Indian Philosophy I, London: Allen & Unwin, 1923: 624-643; Frauwallner, Die Philosophie des Buddhismus: 373-377; etc.) Thế nhưng, từ những g đ ni trước đy, thật lạ lng l những diễn dịch v bằng cứ như thế đ tiếp tục được đưa ra v chấp nhận rộng ri. Thế Thn khng chỉ thừa nhận bốn tiu chuẩn xt đon một ci g đ c phải l đối tượng của sự tri nhận hay khng m ng cn khảo st chn chắn thuyết nguyn tử về tri nhận của Tỳ B Sa trong khun khổ được đề ra. Sự kiện Thế Thn tuyn bố cc tiu chuẩn v thuyết của họ đều khng thỏa đng hoặc khng được chứng thực trong Nhị Thập Tụng khng c nghĩa l ng xem nhận thức trần cảnh l khng thật với l do khng c trần cảnh, cũng khng c nghĩa l ng bc bỏ sự tri nhận như l một phương tiện của nhận thức v xem những g người biết chỉ l một một sự phản chiếu của tự tm.

Thật ra, nếu Thế Thn đ c thể chứng minh cc tiu chuẩn v l thuyết trn l khng thỏa đng th đ l do ng ngầm thừa nhận quan điểm tiu chuẩn đ pht khởi cả hai điều ny. Nếu khng, thật hoi cng khi ni về những sự vật như khng gian hay nguyn tử, huống hồ chứng thực hay bc bỏ chng. Chẳng hạn như v để lập luận rằng khi niệm của Tỳ B Sa về tnh bất khả phn của nguyn tử l khng hợp l cho nn cc khi niệm về khng gian v cc phần phải được dng đến. Nếu như những diễn dịch vu vơ ở trn về duy tm luận l đng, th những khi niệm ny sẽ trở thnh v nghĩa nếu khng muốn ni l tự mu thuẩn. Sở dĩ như vậy l do sự kiện cc khi niệm ny chỉ c gi trị chừng no ta chấp nhận c tồn tại những vật như nguyn tử m cc khi niệm ny p dụng v đ được dng để giải thch về chng.

Thật sự l cc luận sư ở cc thời kỳ tiếp nối Thế Thn hầu như đ hiểu khẳng định trn của ng l hon ton mang tnh duy tm luận, v họ đ cố ti lập quan điểm của ng theo hướng hiểu biết ny, một điều c thể thấy r trong cc bi viết của Php Hộ v tng phi ng (Dharmapāla, Vijaptimātrasiddhiśāstra, Taishō 1585; La Siddhi de Hiuan Tsang, transl. & ann. de La Vall Poussin, Paris: Paul Geuthner, 1928-1929.). Tuy nhin, khng c bất kỳ l do g để pht biểu rằng những g được trnh by trong Nhị Thập Tụng l một gio thuyết hon ton duy tm thuộc loại no đ, như phần lớn cc tc giả thời nay pht biểu (Lvi, Matriaux pour lEtude du Systme Vijaptimātra: 7. xem thm p. 50.). Tri lại, cần phải ni rằng những g được trnh by trong đ l một ti pht biểu của một chn l phổ qut, về những g đ được biết, đ l, ci m ta biết về một đối tượng d thuộc về dạng no đều khng phải tự thn đối tượng, m chỉ l những hiểu biết ta c về đối tượng đ. N l một chn l phổ qut chỉ v n l một định đề trng phức v vị. Tuy nhin, hnh như do chnh tnh chất trng phức ny m n đ bị bỏ qua trong hầu hết cc thời đại.

Khi c người ni anh ta biết ci g đ, chng ta nghĩ ngay rằng ci g đ l đối tượng trực tiếp của sự hiểu biết của anh ta m khng hề thắc mắc lm sao ci g đ c thể l đối tượng trực tiếp của sự hiểu biết của anh ta. Chắc chắn, đối tượng đ khng thể được đồng nhất với sự hiểu biết của anh ta; cũng khng phải l trường hợp ngược lại. Bởi v, đối tượng c ở đ cho mọi người nhn thấy v nhận biết, v đối tượng ny khng thể đưa vo đầu của người thấy n hay biết n. Như vậy, khi một pht biểu như anh ta biết ci g đ được đưa ra, điều n thật sự muốn ni l anh ta biết ci g đ qua sự hiểu biết của anh ta về n, một điều, mặc d cần thiết, nhưng r rng l trng phức một cch v vị. Bởi v, lm sao ta c thể biết ci g đ m khng qua sự hiểu biết về n? Thế nhưng, v bỏ qua trng phức đ m pht biểu anh ta biết ci g đ hầu như chỉ được xem l những g n l, v đ đầy đủ cũng như tự chng thực về mặt triết học. Nhưng thật ra đ chẳng phải những g n l cht no cả. Kết quả, Tỳ B Sa v những người đi theo họ đều bận tm đến việc định nghĩa v xc định cc gic quan l g, lm thế no chng biết được đối tượng, đối tượng l g, v.v., m khng hề thắc mắc lm thế no cc gic quan ny biết đến những sự vật ny trong lần đầu tin. V vậy, sự kiện họ khng nu được cc thắc mắc ny đ tạo thnh sai lầm căn bản của họ, một sai lầm đ mang lại cho hệ thống của họ mọi loại kh khăn như đ thấy.

V lẽ đ, cng việc chnh m Thế Thn đảm đương trong Nhị Thập Tụng đ được trnh by một cch cng nhin, bao gồm việc đnh chnh những sai lầm đ gy kh khăn cho cch nghĩ của Tỳ B Sa. N cho thấy một cch dứt khot v đầy thuyết phục rằng sự hiểu biết vốn l sự tự tri, giống hệt như thức vốn l sự tự thức. Thật vậy, đy l một trong những đặc điểm đầu tin tạo tnh chất v phn biệt thức cũng như sự tri nhận của con người với bất cứ những g m những vật tương tự c được, chẳng hạn sự thng minh của một người my. Mọi người đều biết rằng khi c người ni anh ta biết ci g đ th điều được xem như tự nhin l anh ta khng chỉ tưởng rằng mnh biết ci g đ m cn biết rằng tự thn anh ta biết ci đ. Khi niệm về sự tự tri v tự thức ny l một sự thật hiển nhin v bnh thường đến độ người ta c thể tự hỏi c đng phải lao tm khổ tr về n như thế hay khng. Thế nhưng, chng ta thấy Tỳ B Sa đ khng để đến, đ l chưa kể những người khc cng thời họ như Thắng Luận, Naiyāyika, Mīmāmsaka, v.v., cũng đều như vậy. V đ vẫn l một thất bại khng lạ lng g như đ thấy. Ta phải thừa nhận rằng thất bại kỳ lạ nhất lại thuộc về số đng cc nh nghin cứu ở thế kỷ ny khi họ tiếp tục diễn giải sự thật phổ qut trn l một luận đề uyn o của duy tm luận tuyệt đối v tương tự, theo đ khng g hiện hữu ngoi thức. Đ l một thất bại lạ lng nhất, khng chỉ v cho thấy rằng họ đ khng hiểu được tư tưởng Thế Thn ngay cả theo cch thng thường nhất m cn nhiều hơn thế nữa. Bởi v bằng chứng l họ đ khng hiểu được một sự thật phổ qut bnh thường, ci m họ phải hon ton nắm r. By giờ, chng ta hy xem một tnh huống như thế đ xảy ra như thế no.

Khi niệm tự tri v tự thức được diễn tả r rng trong bi tụng đầu của Nhị Thập Tụng như sau: Bất kỳ ci g ta biết chỉ l ci khiến cho ta biết; đối tượng [của n] th khng thật, v n l một sự tự tri, giống hệt như việc nhn thấy những sợi lng v mặt trăng, v.v., khng c thật của một người bị bệnh mắt (Vihśatikā ad I.). Dĩ nhin chẳng c g mới lạ hay tn tiến phải kinh ngạc trong pht biểu ny. Mọi người biết rằng bất cứ ci g ta biết chnh l ci khiến ta biết, v ci khiến ta biết chắc chắn khng phải l tự thn đối tượng, v l do đơn giản l khng thể no đồng nhất về mặt vật chất cũng như thể chất ci biết của ta với đối tượng, m chỉ c ci biết về đối tượng đ. V vậy, đối tượng xuất hiện trong ci biết về đối tượng đ th khng c g thật hơn tự thn ci biết. Đối tượng của ci ta biết, khi xuất hiện trong ci biết đ về đối tượng, v thế nhất định khng thật, như Nhị Thập Tụng đ ni. Nhưng sự xuất hiện như thế của đối tượng trong ci biết về n chỉ c thể xảy ra nếu đ tồn tại sẵn một cơ cấu để dung nạp n. V cơ cấu đ khng g khc hơn sự tự tri v tự thức. Chnh cơ cấu ny tạo cho sự hiểu biết v thức khả năng đi xa hơn cng việc định sẵn của một thiết bị chụp ảnh vốn được dng để ti tạo một cch trung thực hnh ảnh về ci đang hiện hữu; đồng thời n cũng cung cấp khả năng tiếp tục thiết lập lại ci đang hiện hữu trong hnh ảnh về những g n phải l theo khun khổ của sự hiểu biết v thức.

(xem phần V)