|
Từ những g đ ni, nay ta c thể hnh thnh một số nhận xt cuối cng về
triết học Thế Thn cũng như nghĩa của n đối với chng ta ngy nay. Ở
Chương I, chng ti đ chỉ ra rằng c thể sử dụng phương php di truyền để
nghin cứu triết học ny, xem n l sự pht triển từ một quan tm triết
học ban đầu. Mối quan tm sơ khởi ny tập trung quanh vấn đề đối tượng của
thức chnh xc l g. Chng ta đ thấy Thế Thn nỗ lực như thế no để đp
lại mối quan tm đ qua việc pht triển một cng cụ luận l được chng ta
ngy nay biết đến l sự m tả. Từ cng cụ ny, cc quan niệm mới được rt
ra, khng chỉ để tăng cường giải php của ng m cn gip ng tm ra một
trả lời thỏa đng đối với quan tm đ. Cu trả lời đặt nền tảng trn khi
niệm mọi hoạt động của một thức hon ton được quy định bởi, v ty thuộc
trọn vẹn vo ngn ngữ. Như vậy, thức được xem như khng hiện hữu chừng no
cn được định nghĩa l một loại thức như thế. Khng c ci gọi l thức
thuần ty. Thức lun lun l thức về ci g đ. V lẽ đ, n hm chứa
trong tự thn ci g đ khc hơn chnh n, điều ny trước tin tạo cho n
chuẩn mực của một thức v lập thnh l do tồn tại của n. V ci g đ
khc hơn chnh n ny chnh l ngn ngữ. Chnh ngn ngữ tạo cho thức cơ
hội để n tự lập thnh. Cũng chnh ngn ngữ được bao hm để hiển by cc
hoạt động của n. V cuối cng, cũng chnh ngn ngữ lm cho n trở thnh
những g n l, tức l thức. Thật vậy, như Thế Thn đ ni, sự vận hnh
của thức chỉ l một cấu trc ngn ngữ. V thật kh để quan niệm một hoạt
động của thức m khng c ngn ngữ no km theo, d l ngn ngữ ni hay ở
dạng no khc.
Vai tr rất quan trọng của ngn ngữ trong những hoạt động như thế nay đ
được mọi người thừa nhận, khng chỉ do cc tiến bộ đạt được trong cc lnh
vực ngn ngữ học tm l v nghin cứu no bộ, m cn do khả năng con người
c thể tạo ra sự thng minh nhn tạo. ( Lenneberg, Biological Foundation
of Language, New York: John Wiley & Son, 1967; Whorf, Language, Thought
and Reality, New York: Penguin Book, 1956; Basson and OConner, Language
and Philosophy: Some Suggestions for an Empirical Approach, Philosophy
XXII (1947): 49-65; Bogoch, The Future of the Brain Sciences, New York:
Academic Press, 1969; Quarton et. al., The Neurosciences, New York, 1967;
Nilsson, Problem-Solving Methods in Artificial Intelligence, New York:
MacGraw-Hill Computer Science Series, 1971; Fogel et. al., Artificial
Intelligence through Stimulated Evolution, New York: John Wiley & Son,
1966; George, The Brain as a Computer, Oxford: Oxford University Press,
1962.) Tuy nhin, một điều đặc biệt v kỳ lạ l những nghĩa đạt được ny
thường bị bỏ qua trong một số triết gia hng đầu. V vậy, kể từ khi
Husserl đưa ra pht biểu nổi tiếng thức lun l thức về ci g đ
(Husserl, Logische Untersuchungen, Halle: Niemeyer, 1900-1901;
Spiegelberg, Der Begriff der Intentionalitt in der Scholastik, bei
Brentano und bei Husserl, Philosophische Hefte V (1936): 175-191; Sartre,
Une ide fondamentale de Husserl: LIntentionalit, trong Situations I,
Paris: Gallimard, 1946: 89=92; Sartre, La Transcendance de LEgo:
Esquisse dune description phnomnologique, Recherches philosophiques VI
(1936/1937): 85-123; Gurvitsch, On the Intentionality of Consciousness,
trong Philosophical Essays in Memory of Edmund Husserl, ed. M. Farber,
Cambridge, Mass: Harvard University Press, 1940; Waelhens, LIde
phnomnologique dintentionalit, trong Husserl et la Pense moderne,
ed, van Breda et. al. The Hague: Martinus Nijhoff, 1959; Mohanty,
Husserls Concept of Intentionality, Analecta Husserliana I (1970):
100-132.) th vấn đề thức đ tiếp tục được bn đến để xem c một thức
như thế khng. Ngay cả Sartre cũng vẫn khng xem xt đng vai tr chủ chốt
đ mặc d l thuyết cởi mở của ng về thức cho thấy một sự cải tiến quan
trọng so với thuyết của Husserl v gần với thuyết của Thế Thn nhất ở chỗ
phủ nhận sự mặc định về tồn tại của một Bản thể siu nghiệm. Mặc d cng
với Heidegger, ng đ thừa nhận ti l những g ti ni v ti l ngn
ngữ, nhưng ng chỉ bằng lng ni rằng ngn ngữ khng phải l một hiện
tượng được thm vo tồn-thể-vị-tha-thể (being-for-others). N vốn l
tồn-thể-vị-tha-thể; c nghĩa, sự thật l chủ thể tnh tự kinh nghiệm chnh
n như một đối tượng đối với chủ thể tnh khc. (...) Ngn ngữ khng phải
l một bản năng của cấu trc nhn thể, n cũng khng phải l một pht minh
của chủ thể tnh chng ta. Nhưng cũng khng cần xem n như tồn
thể-ngoi-tự thể (being-outside-of-self) thuần ty của Tại thể (Dasein).
N hnh thnh một phần của điều kiện con người; n vốn l bằng chứng m
tiềm thể (for-itself) c thể nu ra về ci tồn-thể-vị-tha-thể của n, v
sau cng n l sự vượt qua bằng chứng ny v sự ứng dụng của n đối với
cc khả năng m cc khả năng ny l của ti; tức, đối với cc khả năng l
ci ny hay ci kia của ti đối với Tha thể.
( Sartre, Ltre et le
Nant, Paris: Gallimard, 1943. Ti đ dng bản dịch của Hazel Barnes,
Being and Nothingness, New York: Washington Square Press, 1966: 455-6.)
Như vậy, qua sự vụ độc nhất l d ti c thể lm g đi nữa th những hnh
vi của ti vốn được quan niệm v thực hiện một cch tự do, những dự định
được thực hiện theo khả năng của ti đều c một nghĩa ở ngoi chng, một
nghĩa nằm ngoi ti v ti kinh nghiệm n. Chnh theo nghĩa nyv chỉ
theo nghĩa nym Heidegger c l khi tuyn bố rằng ti l những g ti
ni. Ni cch khc, vai tr ngn ngữ được xt đến chỉ qua phương tiện
giao tiếp v v thế hon ton được định đoạt bởi tồn-thể-vị-tha-thể của n
theo nghĩa n dự tưởng một quan hệ nguyn sơ với một chủ thể khc.
Tuy nhin, khi m tả như thế về vai tr v, theo một nghĩa no đ, về yếu
tnh của ngn ngữ, Sartre đ bỏ qua một điều rất quan trọng, một điều cuối
cng đ dẫn ng đến một nhị nguyn luận mới, một mặt đặt ra sự tồn tại của
ci gọi l tồn thể-hiển thể (being-in-itself) v mặt kia l sự tồn tại
của tồn thể-tiềm thể (being-for-itself). Điểm mấu chốt l ngn ngữ khng
chỉ l tnh thể của tồn thể-vị-tha-thể, m n cn l tnh thể của tồn
thể-tiềm thể cũng như tồn thể-hiển thể. Ngn ngữ l tnh thể của tồn
thể-vị-tha-thể, hoặc đng hơn, cũng l tnh thể của tồn thể-tiềm thể v
của tồn thể-hiển thể v chnh ngn ngữ lm cho thức trở thnh ci khng
phải l n v khng phải ci n l, như chng ta đ thấy. Chnh do sự m
tả về ng v php m thức tự chuyển biến, v sự chuyển biến ny chỉ c thể
xảy ra do sự kiện n l một cấu trc ngn ngữ, như Thế Thn đ ni. Tm
lại, d c trường hợp ngn ngữ dự tưởng một quan hệ nguyn sơ với một chủ
thể khc th quan hệ ny vẫn chỉ c thể xảy ra do c một thức no đ trước
tin. Nếu khng, rốt cuộc th quan hệ với một chủ thể khc l g?
V thế, nếu ngn ngữ c thể dự tưởng một quan hệ nguyn sơ với một chủ
thể khc như Sartre đ đề xướng th cng lc n phải l nhận thức của chủ
thể c quan hệ nguyn sơ với chủ thể khc. Thế nhưng, thức của một chủ thể
chỉ c thể l một ngn ngữ chừng no n l một cấu trc ngn ngữ, một cấu
trc cho php n (thức) tự diễn đạt nhiều cch khc nhau v thường xuyn
khi hon cảnh sống đi hỏi. Ở đy, chng ta khng cần phải bn xem c phải
ngn ngữ l nhn tố tin khởi kch hoạt ton bộ pht triển của hệ thần
kinh trung tm trong con người hay khng. ( Leroi-Gourhan, Le Geste et la
Parole, Paris: Albin Miched, 1964; Monod, Le Hasard et la Ncessit,
Paris: Edition du Seuil 1970; Pribram, The Languages of the Brain,
Englewood Cliffs: Prentice-Hall, 1971; Langer, Mind: An Essay on Human
Feeling II, Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1973.) Tuy nhin,
nếu thật sự như thế, như đ giả thiết, th tiến trnh chuyển biến của thức
chỉ l một cấu trc ngn ngữ. Kết quả, pht biểu ti l những g ti ni
khng chỉ nn được diễn dịch l một chứng cứ m tiềm thể c thể đưa ra về
tồn-thể-vị-tha-thể của n, m cn l chứng cứ về chnh tnh thể của n.
Chnh sự thất bại khng nhận ra được điểm ny cuối cng đ dẫn Sartre đến
một ngụy thuyết mới về nhị nguyn của ng, tức ci Pour-soi v En-soi. Một
loại nhị nguyn luận đi hỏi một kết nối tổng thể phải được giải quyết
v ti hợp ở chỗ ci Pour-soi, thật ra, khng l g cả m chỉ l sự trống
rỗng hon ton của ci En-soi: n giống như một lỗ hổng của tồn thể ở
trung tm của Hữu thể.
Vấn đề Pour-soi v En-soi tạo thnh một loại nhị nguyn luận hư ngụy v
một kết nối tổng thể, c thể dễ dng chỉ ra bằng cch cho thấy rằng
chng đều phụ thuộc vo ngn ngữ để trở thnh một phần no đ trong tiến
trnh tư tưởng trước tin. Trước đy, chng ti đ m tả pour-soi, tức
thức, l một cấu trc ngn ngữ như thế no. Nay, trong phạm vi ci
en-soi được định nghĩa theo định nghĩa của Sartre, th n c thể, theo
cch như thế, được chứng minh chỉ l một sản phẩm của tiến trnh cấu trc
ngn ngữ đ, tức một sản phẩm của thức.
Th dụ, Sartre ni rằng tồn thể bị c lập trong chnh tồn thể của n v
khng nằm trong bất kỳ nối kết no với những g khng phải chnh n. Sự
biến dịch, sự chuyển ha, hoặc bất cứ ci g cho php chng ta ni rằng
tồn thể chưa phải l những g n l v n đ l những g n khng ltất
cả những điều ny đều khng được php về mặt nguyn l. Bởi v tồn thể l
tồn thể của chuyển thể v v lẽ đ siu việt chuyển thể.( Sartre, Being
and Nothingness, pp lxxviii-lxxix.) Chng ti chọn pht biểu đặc th ny
của Sartre để minh họa ci en-soi được quan niệm v m tả như thế no.
Nếu đọc n, người ta sẽ bị giật mnh ngay bởi tnh chất ngụy biện của n
trong khẳng định tồn thể l tồn thể của chuyển thể v v lẽ đ siu việt
chuyển thể. Ngoi ra, pht biểu ny cn c khuynh hướng xc minh những g
chnh Sartre phủ nhận, tức tồn thể en-soi khng c nội thể đối lại ngoại
thể v tương tợ một xt đon, một qui luật, một thức của chnh n.
En-soi khng c g b ẩn; n cụ thể. Bởi v, khi ni rằng bn ngoi
chuyển thể cn c một tồn thể m tồn thể ny l tồn thể của chuyển thể
th r rng Sartre phải cho rằng ci tồn thể en-soi thật sự c nội thể đối
lại với ngoại thể v chẳng c g b ẩn. Nếu khng, nếu tồn thể l tồn thể
của chuyển thể v tồn thể của chuyển thể l tự thn chuyển thể th lm sao
tồn thể c thể siu việt chuyển thể? V ở đy chng ta thấy được bằng cch
no m Sartre, qua ti xảo biện của mnh, đ loại trừ vấn đề ch tử ngn
đời của triết học Ty phương, tức tồn thể đối với chuyển thể. Vấn đề ny
đ được Socrates pht biểu r rng trong một song thoại của ng với
Cratylus m Plato đ ghi lại trong Cratylus của ng như sau:
Socrates: Lm thế no để tm hiểu hay khm ph cc thực thể c lẽ l một
vấn đề qu lớn m ng hoặc ti đều khng quyết định được; thế nhưng, cũng
đng gi để đạt đến ngay cả kết luận ny, đ l chng c thể được tm hiểu
v tm kiếm, khng phải từ danh tự m qua tự thn chng nhiều hơn qua danh
tự.
Cratylus: Điều đ thật hiển nhin, thưa Socrates.
Socrates: Vậy chng ta hy khảo st một điểm nữa để trnh bị phỉnh phờ bởi
sự vụ rằng hầu hết cc danh tự ny đều hướng theo một chiều. Giả sử, nn
chứng thực rằng mặc d những ai đưa ra cc danh tự đều lm thế với tin
tưởng vạn vật đang biến dịch v tri chảychnh bản thn ti nghĩ rằng họ
đ thật sự c tin tưởng đth trong thực tế điều đ vẫn khng đng, v tự
thn những người đưa ra danh tự đ, sau khi bị rơi vo một dng xoy, đều
bị cuốn tri v li ko chng ta theo họ. Cratylus xứng đng của ti, hy
xem xt một vấn đề về ci ti thường mơ: Chng ta c sẽ khẳng định rằng c
bất kỳ một ci mỹ tuyệt đối, hoặc một ci thiện tuyệt đối, hoặc bất kỳ một
hữu thể tuyệt đối khc no đ, hay khng?
Cratylus: Ti nghĩ c, thưa Socrates.
Socrates: Thế th chng ta hy xt đến ci tuyệt đối, khng phải l một
khun mặt đặc biệt no đ hoặc ci g đ thuộc loại đ, c đẹp hay khng,
hay tất cả những thứ ny c biến dịch hay khng. Theo chng ta, ci mỹ
tuyệt đối khng phải lun lun như n l hay sao?
Cratylus: Điều đ khng trnh được.
Socrates: Nếu n lun lun tri chảy, vậy ta c thể ni chnh xc rằng n
l ci ny, v n l ci kia, hay, chnh vo khoảnh khắc chng ta đang ni
th n phải dứt khot trở thnh một ci g khc v tri chảy v khng cn
l những g n l?
Cratylus: Điều đ khng trnh được.
Socrates: Vậy th, ci m n khng bao giờ giữ nguyn trạng lm sao c thể
l ci g đ được? Bởi v nếu n đ từng giữ nguyn trạng, th r rng vo
lc đ n khng biến dịch; v nếu n lun lun giữ nguyn trạng v lun
lun l như thế, lm sao n c thể từng biến dịch hay chuyển dịch m khng
từ bỏ tự dạng của n?
Cratylus: N khng thể lm như thế t no cả?
Socrates: Vng, n cũng khng thể được ai biết đến. Bởi v, vo khoảnh
khắc người tm cch tm hiểu n tiếp cận n th n trở thnh một ci khc
v khc hẳn, để rồi tnh thể v tướng trạng của n khng cn c thể được
biết đến; v chắc chắn rằng khng c tri nhận no biết được ci m n
khng c một tướng trạng no cả.
Cratylus: N giống như ngi ni.
Socrates: Thế nhưng, chng ta cũng khng thể ni rằng c sự tri nhận no
đ nếu mọi thứ đang biến dịch v khng c g giữ nguyn cố định; bởi v
nếu tự thể tri nhận khng biến dịch v vẫn tiếp tục l tri nhận th tri
nhận sẽ giữ nguyn, v sẽ c sự tri nhận; nhưng nếu chnh tnh thể của tri
nhận biến dịch, vo khoảnh khắc của sự biến dịch, thnh một tnh thể tri
nhận khc th sẽ khng thể c tri nhận; v nếu n lun lun biến dịch, sẽ
lun lun khng c tri nhận, v qua l luận ny sẽ khng c bất cứ ci g
được biết đến v cũng khng c bất cứ ai biết. Nhưng nếu lun lun c ci
biết v ci được biếtnếu ci mỹ, ci thiện, v tất cả cc thực thể khc
hiện hữuth ti khng thấy được lm thế no lại c bất kỳ sự tương tợ no
giữa cc điều kiện ny của điều ti by giờ đang ni v [của] sự biến dịch
hay sự chuyển dịch. Nay, [vấn đề] đy c phải l tự thể của cc sự vật,
hay c phải thuyết của Heracleitus v nhiều người khc l đng, l một vấn
đề khc; nhưng điều chắc chắn l khng c con người c thức no c thể
đặt bản thn mnh v linh hồn mnh dưới sự khống chế của danh tự, v tin
tưởng vo danh tự v những người đặt ra chng đến độ xc quyết rằng anh ta
biết được bất kỳ điều g; anh ta cũng khng ln n mnh v mọi thứ v ni
rằng khng c sự vận hnh trong đ, m [anh ta sẽ ni] rằng mọi thứ đang
tri chảy như những chiếc bnh r rỉ, hoặc tin tưởng rằng mọi thứ th
giống như những người bị tc động của bệnh vim chảy, tri chảy v chuyển
dịch mọi thời. Cratylus, c lẽ thuyết ny đng, nhưng c lẽ n khng đng.
V thế, ng phải xem xt một cch can đảm v thng suốt v khng chấp nhận
bất cứ điều g một cch khinh suấtbởi v ng vẫn cn trẻ v đang trong
thời thanh xun; lc đ, nếu tm ra chn l sau cuộc tầm nghin, ng hy
cho ta biết. (Plato, Cratylus, ed. H. N. Fowler, Cambridge, Mass: Harvard
University Press, 1953: 186-190: bản dịch Anh ngữ của Fowler.)
Như vậy, Socrates đ cho chng ta một l do mạnh mẽ tại sao phải tồn tại
một ci g đ siu việt ci đang biến dịch v chuyển ha để cho ngay cả tự
thể những g đang biến dịch v chuyển ha cũng c thể được tri nhận. Ni
cch khc, phải tồn tại một tồn thể v tồn thể ny l tồn thể của chuyển
thể v siu việt chuyển thể. Trong mức độ đ, m tả của Sartre về khi
niệm tồn thể-en-soi của ng ph hợp với quan niệm về tuyệt đối của
Socrates. Tuy nhin, ngoi điều ny ra, ci lm cho m tả của Sartre trở
thnh một thứ ngụy biện l chủ trương của ng tồn thể-en-soi khng c nội
thể đối lại với ngoại thể [v] khng c g b ẩn, một điều khng hề thấy
trong quan niệm của Socrates. t ra, Socrates đ cho chng ta biết tại sao
phải tồn tại cc tuyệt đối như mỹ hoặc thiện bằng cch chỉ ra rằng nếu mọi
thứ đang biến dịch v khng c g giữ cố định, sẽ lun lun khng c sự
tri nhận, cũng khng c người tri nhận v ci được tri nhận. Ngay cả
Sartre cũng tm cch trnh n vấn đề ny bằng loại lập luận lấp lửng như
đ thấy. Thế nhưng, điểm nổi bật nhất của song thoại trn giữa Socrates v
Cratylus l Socrates, trong nội dung trnh by của ng về vấn đề danh tự,
đ bn đến vấn đề chng ta c thể tri nhận g nếu mọi thứ đang biến dịch.
V ở đy ng c thể cho chng ta một chứng cứ tại sao ci gọi l tồn thể
en-soi chỉ l một cấu trc ngn ngữ.
Chng ta đ thấy rằng Socrates v Cratylus đồng lm thế no để tm hiểu
hay khm ph cc thực thể c lẽ l một vấn đề qu lớn m ng hoặc ti đều
khng quyết định được; thế nhưng, cũng đng gi để đạt đến ngay cả kết
luận ny, đ l chng c thể được tm hiểu v tm kiếm, khng phải từ danh
tự m qua tự thn chng nhiều hơn qua danh tự. Ngy nay, chng ta cn
biết r hơn nhiều l mặc d cc thực thể c thể được tm hiểu v tm
kiếm, khng phải từ danh tự m qua tự thn chng nhiều hơn qua danh tự
nhưng vẫn chnh qua danh tự m bất cứ thực thể no cũng c thể được biết
đến. Chẳng hạn, by giờ ti đang quan st cuốn sch mu xanh trn bn viết
của ti. Cuốn sch nằm ở đ. Nếu ti c thể biết được bất cứ điều g từ sự
quan st của ti th khng phải cuốn sch vật chất đ chuyển vo tri nhận
của ti v lấp đầy một khoảng trống no đ ở trong đ. Đng hơn, chnh
thng tin của n được truyền vo no bộ ti qua nhiều knh vật l khc
nhau v v số tiến trnh ha học v cuối cng n sẽ được xử l ở đ để ti
c thể c thức về cuốn sch của ti v tri nhận của ti về n. Vậy, r
rng nếu c một thực thể th thực thể đ chỉ được biết đến chừng no n l
một loại thng tin được cung cấp cho chng ta. V một khi đ như thế, điều
tất yếu sẽ l nếu c g đ c thể được biết đến th, xt theo nghĩa rộng
nhất, n chỉ c thể được biết qua chnh danh tự của n. Thật vậy, như đ
ni, kh quan niệm được rằng bất cứ hoạt động thức no, bất cứ tri nhận
no được biết đến m khng c ngn ngữ được diễn đạt.
Khi vai tr của ngn ngữ được quan niệm như thế trong tiến trnh tri nhận,
hiển nhin l vấn đề nan giải Socrates đặt ra c thể trnh khỏi dễ dng.
ng cho rằng nếu mọi vật đang biến dịch v khng c g giữ nguyn cố
định, th sẽ lun lun khng c tri nhận, sẽ khng c bất cứ ci g
được tri nhận v cũng khng c bất cứ ai tri nhận. L do đưa ra một pht
biểu như thế nằm ở nhận thức nếu mọi sự vật đang biến dịch v khng c g
giữ được cố định th vo khoảnh khắc người tm cch tm hiểu n tiếp cận
n th n trở thnh một ci khc v khc hẳn, để rồi tnh thể v tướng
trạng của n khng cn c thể được biết đến; v chắc chắn rằng khng c
tri nhận no biết được ci m n khng c một tướng trạng no cả. V lẽ
đ, nếu chuyển biến của thức l một cấu trc ngn ngữ th vẫn c thể c
sự tri nhận cho d v mặc d mọi sự vật đang biến dịch v khng c g giữ
nguyn cố định. Bởi v khng phải tự thn cc sự vật cấu thnh tri nhận
m chnh thng tin chng cung cấp v, chịu sự xử l trong no bộ con
người, gip sinh khởi tri nhận ny. Như vậy, cho d vạn vật đang biến
dịch v khng c g giữ cố định th điều đ cũng khng hề g. Thật vậy,
trong chừng mực cc sự vật đang biến dịch cũng như sự tri nhận đang biến
dịch được biết đến th ci biết ny chắc chắn khng xuất pht từ tự thn
sự vật hay từ tri nhận. Bởi v, nếu khng phải thế, chng phải tồn tại
trong hai st na khc nhau trong cng một lc mới c thể chứng minh rằng
một khc biệt no đ trong hai st na ny cho thấy sự c mặt của một thay
đổi trong chnh chng. V hiển nhin chng khng thể lm được điều ny,
bởi v một vật khng thể tồn tại cng lc trong hai st na khc nhau. V
vậy, để c được tri nhận về sự thay đổi, ta cần c ci g đ hơn l tự
thn cc vật đang biến dịch. Ci g đ khng phải l những ci tuyệt đối
của Socrates, cũng khng phải l ci tồn thể en-soi của Sartre v chng
chỉ l những giả định dựa vo thng tin m tự thn cc sự vật hiển thị.
Như vậy, nhị nguyn luận hư ngụy của Sartre về ci tồn thể en-soi v tồn
thể pour-soi chnh xc chỉ l những g n l, tức một nhị nguyn luận hư
ngụy. Ci tồn thể en-soi khng g khc hơn một cấu trc ngn ngữ; v cả
ci tồn thể pour-soi cũng thế, chỉ với điểm khc biệt dễ thấy l trong
khi ci sau l một tiến trnh th cấu trc ngn ngữ của ci trước l một
sản phẩm.
Đến đy, người ta c thể thắc mắc tại sao chng ta dừng lại lu như thế để
bn về một loại nhị nguyn luận hư giả của Sartre về ci tồn thể en-soi
v pour-soi. Hiển nhin khng phải bản thn Sartre cũng khng phải triết
học ng c ci g đ lin quan đến Thế Thn đến độ phải thiết lập một quan
hệ lịch sử cng khai. Tuy nhin, chng ta c thể dng chng như một th dụ
điển hnh để thấy r cc vấn đề hư ngụy trong triết học đ tồn tại dai
dẳng như thế no, v từ đ chng ta c thể thấy được gi trị của nhiều
đng gp của chnh Thế Thn hơn trong việc loại trừ cc ngụy thuyết đ.
Chng ta đ thấy rằng đứng trước một thế giới biến dịch thần tốc Socrates
đ pht biểu rằng phải tồn tại ci g đ bất biến để cho ci đang biến
dịch c thể được tri nhận, v ng gọi ci đ l hữu thể tuyệt đối. Sartre
cũng đồng , mặc d với những l do hơi khc, l tồn thể siu việt chuyển
thể. Tuy nhin, trong khi Socrates t ra cũng trnh by được nhận thức
sắc bn của ng về sự phức tạp của vấn đề v lin hệ của n với vai tr
của ngn ngữ bằng sự hnh thnh ton bộ pht biểu của ng trong cc giới
hạn của một ngn ngữ th Sartre đ hon ton thất bại khng nhận ra được
như thế. V đ l những g lm cho lập luận của ng thấp km hơn của
Socrates, v v thế đ gần như một lối ngụy biện, như đ ni. Pht biểu
của Socrates, cho d tnh chất hấp dẫn của n, ngy nay vẫn khng cần được
tn dương, khi chng ta biết rằng khng phải ci hữu thể tuyệt đối cho
php chng ta tri nhận sự vật biến dịch như đ được giả thiết trong pht
biểu ny; m đng hơn, chnh tự thn ngn ngữ của một người thực hiện cng
việc đ. V đy chnh l tnh thể của triết học Thế thn.
Thế Thn lớn ln trong một truyền thống triết học vốn minh nhin khẳng
định rằng khng c người lm, hnh động lm, v ci được lm, một khẳng
định c thể được diễn giải theo ngn ngữ của Socrates thnh khng c tri
nhận, người tri nhận, v ci được tri nhận. (Viṃśatikā ad 8: nāstīha
sattva ātmā vā dharmās tv ete sahetūkāḥ iti vacānāt/. Cf. Abhidharmakośa
IX: 475; Vimalākīrtinirdeśasūtra, Taishō 475: 537c16 & Taishō 476: 558c4.)
Bởi v truyền thống ny quan niệm vạn php đều được rng buộc trong luật
duyn khởi: khi ci ny c th ci kia c. V thế khi một pht biểu
thuộc loại Ti thấy một ci cy được đưa ra, người ta hiểu rằng n khng
hm g khc hơn một m tả bnh thường trong đ cc điều kiện thuộc một
số loại khc nhau thật sự hoạt động v tc động lẫn nhau để tạo ra, trong
trường hợp ny, một sự vụ gọi l Ti thấy một ci cy, v trong đ khng
c người thấy, sự thấy, hay ci được thấy no được giả định l thuộc về
một hữu thể hay những thực thể no đ. Như vậy, đng với thuyết về
v-tự-tnh của n, truyền thống ny xem mọi sự vụ v mọi sự vật khc chỉ
l một số loại phản ứng tương tợ như cc phản ứng ha học v cc kết quả
của chng.
Với truyền thống triết học đ, một điều qu hiển nhin l khi đối mặt với
thch thức đặt ra bởi thuyết của Tỳ B Sa về đối tượng của thức, Thế Thn
đ đề ra giải php của ring ng một cch rất đặc th. Trước tin, ng tự
hỏi c phải danh tự c thể l đối tượng của một thức. Kế đến, nếu thế, ci
g sẽ xảy ra? Cuối cng, một thuyết như thế mang ẩn nghĩa g trong hnh
động của con người? Từ những g đ ni, chng ta thấy rằng để trả lời cu
hỏi đầu, Thế Thn đ đề ra thuyết m tả, minh chứng xc thực một danh tự
thật sự c thể l đối tượng của một thức, bởi v bất kể ta ni c sự sinh
ra một đứa b hay một đứa b cho đời hay ci được sinh ra l đứa b,
v.v., th tất cả đều cng m chỉ một điều, đ l thng bo về sự ra đời
của một đứa b. Ni cch khc, nếu nhiều pht biểu c thể được hiểu cng
chỉ cho một điều th khng cần phải giả định hiện hữu của một ci g đ
đng sau mỗi pht biểu. Một khi một yu cầu như thế khng tồn tại, kết quả
sẽ l mọi pht biểu, mọi danh tự, tự n c thể l đối tượng của thức.
Sở chứng đầu tin ny của Thế Thn đ dẫn ng đến rất nhiều kết luận xa
hơn m một số trong đ đ được bn đến chi tiết trong cc chương trước. V
thế, chng ti sẽ khng nhắc lại ở đy. Đủ để ni rằng nếu mọi danh tự l
đối tượng của thức th điều tất yếu l mọi tri nhận phải được định nghĩa
tương tợ. C nghĩa, n phải được định nghĩa qua tn gọi của đối tượng m
từ đ n pht xuất v điều ny tự nhin dẫn đến kết luận mọi chuyển biến
của thức chỉ l một cấu trc ngn ngữ. Điều chng ta quan tm ở đy l
việc tm hiểu tại sao Thế thn, với truyền thống triết học ni trn, lại
chọn cch giải quyết vấn đề trn bằng thuyết m tả của ng. Chng ti đ
ni rằng đứng trước một thế giới thường hằng biến dịch, cả Socrates v
Sartre đều giả định sự tồn tại của ci g đ bất biến hoặc nằm ngoi biến
dịch, để c thể c một tri nhận về thế giới đ. Chng ti cũng đ chứng
minh rằng một giả thiết như thế c thể tự ph by tnh chất khng cần
thiết của n, nếu khng phải l hư ngụy v v tch sự, trong việc tm kiếm
khả tnh của tri nhận đ. V khả tnh ny, theo Thế Thn, khng g khc
hơn tự thn ngn ngữ. Ngn ngữ cho php chng ta nắm bắt ci đang biến
dịch v ngay cả ci đang khng hiện hữu. Như chng ta đ ni trước đy,
pht hiện của Thế Thn về vai tr của ngn ngữ trong tiến trnh tri nhận
đ phần lớn đều bắt nguồn từ cc nhn tố qui định của truyền thống triết
học của ng. Truyền thống ny, như đ m tả ở trn, loại trừ hiển nhin
mọi khả năng giả định về sự tồn tại của bất kỳ thực thể no ngoi những g
xảy đến do sự ngẫu nhin (hetu) v sự tất yếu (pratītya).
(Pratītyasamutpādavyākhyā TT 5496. cf. Tucci, A Fragment from the
Pratītyasamutpāda of Vasubandhu, JRAS (1930): 611-623. Đối với một số
người, việc chng ti dng cc từ chance (ngẫu nhin tnh) v
necessity (tất yếu tnh) để dịch hetu v pratītya, c lẽ gợi ln một khả
năng tn tiến no đ, đặc biệt l khả năng thuộc kiểu Monod. N khiến ta
nhớ đến Le Hasard et la Ncessit (Paris, 1970) của Monod. Nhưng chng ti
nghĩ rằng đ l hai từ hay nhất để chuyển tải chnh xc những g m cc
khi niệm về hetu v pratītya thực sự m chỉ.) Bởi v nếu cho rằng một sự
vật chỉ l những g xảy ra do nhn v duyn, th ta cn c thể dự tưởng
được điều g bn ngoi n? Thật ra, nếu khng phải như thế th sự vật sẽ
mu thuẫn với chnh n. V thế, ngay từ thời của đức Cồ Đm Mu Ni, truyền
thống ny đ nỗ lực tự chứng thực rằng n c thể đp ứng những vấn đề như
những g đ dẫn Socrates v Sartre đến những giải php của ring họ m
chẳng mấy thnh cng. Những kh khăn n gặp phải trn đường đi c thể tm
thấy trong rất nhiều cứ liệu m chng ti đ chỉ ra hai trường hợp nổi bật
nhất, đ l của Nāgasena v Nāgārjuna.
Chng ta c thể nhớ lại bằng cch no Nāgasena đ cố gắng chứng minh cho
Milinda thấy chữ xe khng biểu trưng một vật gọi l xe bởi v xe khng
phải l ci cng, ci trục, ci bnh, ci ch, v.v., nhưng n cũng khng
nằm ngoi những ci ny; v bằng cch no Nāgārjuna đ lao tm khổ tr
chứng thực rằng nếu c ci g đ hiện hữu bn ngoi ci xảy ra do nhn
duyn v c thể được chỉ thị bằng từ ngữ th ngn ngữ khng thể no lm
nổi việc đ về mặt luận l. Bởi v nếu như vậy th khi một danh tự được
thốt ra, một tồn thể sẽ được gọi vo hiện hữu v khng cn g c thể được
thm vo nữa. Nỗ lực của cc triết gia ny, cho d đng knh ngưỡng, vẫn
tỏ ra hụt hẩng. N khng thể duy tr luận l của n ở mức độ khiến người
nghe hay người đọc tin tưởng hon ton vo sự chnh xc của n. Tuy nhin,
cho d thất bại đ, phải thừa nhận rằng cả Nāgasena v Nāgārjuna đ mở ra
một viễn cảnh mới, chỉ r lối thot khả hữu độc nhất cho những ai chấp
nhận thế giới quan của truyền thống ni trn. C nghĩa l nếu sự vật chỉ
l những g xảy ra do sự ph hợp tnh cờ của những điều kiện cần thiết v,
v thế, loại bỏ mọi giả định về sự tồn tại của ci g đ đng sau hay bn
ngoi chng bởi lẽ chẳng c g đng sau hay bn ngoi chng để giả định,
th sẽ khng cần thiết phải dự tưởng sự tồn tại của bất cứ ci g khc cả.
Những g ta biết về chng đều xuất pht từ những thng tin chng cung cấp
v những thng tin ny, ni chung, được m ha theo một ngn ngữ no đ
được no bộ xử l. Đ l kết luận đ đạt được một cch phổ qut bởi cả
Nāgasena v Nāgārjuna. Tuy nhin n lại khng thể đứng vững do thiếu bằng
chứng, một khuyết điểm m Thế Thn đ nhận ra v điều chỉnh chnh xc.
Phương thức ng đng gp vo sự điều chỉnh ny r rng l thuyết m tả của
ng.
Như đ ni, thuyết ny cho thấy một đối tượng c thể được m tả một cch
minh nhin qua hơn một tn gọi hay một pht biểu m vẫn khng gy ngộ
nhận, tri lại cn dẫn đến nhận thức rằng đ khng phải l tự thn đối
tượng m ta biết. Bởi v nếu khng phải thế, lm thế no một vật c thể
được diễn tả qua hơn một danh tự hay một pht biểu? Đng hơn, chnh thng
tin được đối tượng trnh hiện qua nhiều phương tiện khc nhau cho php
chng ta tri nhận v m tả n nhiều hơn chỉ một cch. V ở đy, chng ta
c thể thấy tại sao với truyền thống triết học của ng, Thế Thn đ đề ra
thuyết m tả khi bị thch thức bởi thuyết của Tỳ B Sa về đối tượng của
thức, v tại sao, với thuyết đ, ng đ tiếp tục cch mạng ha khng chỉ
ton bộ nền tảng luận l học Ấn Độ m cn cả ton bộ quan niệm về thức.
Đối với ng, thức chỉ l một tiến trnh chuyển biến được định nghĩa như
một cấu trc ngn ngữ.
Đến đy, ta vẫn c thể tự hỏi quan niệm về thức như một cấu trc ngn ngữ
c thật sự chnh xc hay khng; bởi v thật v ch để bỏ cng sức vo một
ci g đ m ta đ biết l hon ton sai lầm hay hư ngụy. Thoạt nhn, vấn
đề vừa nu hnh như thật dễ trả lời. Thế nhưng, sau những lần suy tư, r
rng l vấn đề thực sự chứa đầy mọi thứ chướng ngại, những chướng ngại
khng dễ giải quyết như đ tưởng. Chẳng hạn, chng ta sẽ lấy g lm tiu
chuẩn để xt đon quan niệm của Thế Thn về thức l chnh xc hay hư ngụy?
Chng ta đ thấy rằng quan niệm đ được đạt đến như một kết quả luận l
của tiến trnh tư duy của ng, c nghĩa l n được thiết lập ở ng dưới
sức mạnh suy diễn của chnh ng. V thế, nếu ta c thể chấp nhận thuyết m
tả tin khởi của ng th sẽ đạt đến kết luận tương tợ, v quan niệm về
thức của Thế Thn hon ton c gi trị trong chừng mực n l một kết quả
luận l của thuyết m tả của ng.
Tuy nhin, cch tiếp cận vấn đề như thế r rng khng thỏa đng v khng
thể đnh gi quan niệm ny trn chnh những gi trị của n, v hơn nữa, n
(cch tiếp cận) ngăn khng cho chng ta c được đnh gi no cả; bởi lẽ
một khi l thuyết tin khởi của ng được thừa nhận th tất nhin quan niệm
đ sẽ xuất hiện như một kết luận khả hữu độc nhất, bất kể chng ta suy
nghĩ như thế no đi nữa. Mặt khc, nếu chng ta c thể đnh gi theo những
tiu chuẩn chng ta biết ngy nay th c lẽ chng ta khng những khng
cng bằng với ng m cn tự mnh mang lại những rủi ro bị sai lầm, nhất l
đối với một khi niệm mơ hồ v hm hỗn như thức. V thế, khng thiếu g
kh khăn trong cu hỏi nu trn. Tuy nhin, bởi đ lỡ bn đến, chng ti
nghĩ rằng n phải được giải đp; v ở đy, chng ti chấp nhận cch tiếp
cận thứ hai, tức nhn vo quan niệm về thức của Thế Thn từ quan điểm của
những g chng ta biết về n ngy nay.
Trước đy, chng ti đ chỉ ra rằng từ những g biết được trong lnh vực
nghin cứu no bộ v thng minh nhn tạo ngy nay, bộ no v cc phần phụ
thuộc được xem như một loại my tnh c độ phức tạp v khả tnh cao nhất
để tiến hnh mọi chức năng thường được giao khon cho thức. V thế, thức
c thể được định nghĩa như một cơ cấu xử l thng tin với mọi thnh phần
phụ thuộc quan yếu được biết đến của n, bao gồm mọi vận hnh c thể được
biết đến v c đủ khả năng thực hiện. (George, The Brain as Computer,
Oxford: Oxford University Press, 1962; Young, A Model of the Brain,
Oxford: Oxford University Press, 1964; Hubel and Wiesel, Journal of
Physiology 148 (1959): 574-591; Wiesel and Hubel, Journal of
Neurophysiology XXIX (1966): 1115-1156.) Một khi được định nghĩa như thế,
ta c thể dễ dng thấy rằng khng nhiều th t n chỉ l một tiến trnh
cấu trc ngn ngữ, như Thế Thn đ chủ trương. Dĩ nhin, vẫn cn vấn nạn
l cơ cấu xử l thng tin ny c phải chỉ l một tiến trnh ngn ngữ
khng. Th dụ, người ta đ ni rằng tiến trnh gọi l kch khởi khng
thuần ty mang tnh ngn ngữ, nếu khng phải l hon ton v ngn, khi n
xảy ra trong con người hay con vật, ( Monod, Le Hasard et la Ncessit,
Paris: Editions du Seuil, 1970; Langer, Mind: an Essay on Human Feeling
II, Baltimore, 1973; Trần Đức Thảo, Le mouvement de lindication comme
forme originaire de la conscience, La Pense 147 (1969): 3-46, 148
(1969): 71-111 & 149 (1970): 93-106; ibid. La Phnomnologie & le
Matrialisme dialectique, Paris: Minh Tn, 1951.) d rằng trong my tnh
ngy nay, n hon ton phụ thuộc vo ngn ngữ ở dạng ny hay dạng khc để
được nhận biết. Hy để một con ch, khi thấy chủ n sửa soạn đi dạo th
n tỏ sự vui mừng bằng cch vẫy đui, v.v., r rng [l do n] tưởng
tượng, tức được kch khởi bởi sự đon trước, mọi sự thch th m n sắp
c. V thế, trong trường hợp của con ch, sự kch khởi ny chỉ l một
kinh nghiệm tưởng tượng, v điều ny đng, bởi v cho đến ngy nay,
khng ai cho rằng con ch c ngn ngữ của ring n. V về điều ny, c
người đ tự chứng minh tnh xc thực của n bằng cch cho thấy đi khi họ
đ tự đồng nhất với những sự vật m họ suy tưởng. Tuy nhin, ngoi kinh
nghiệm tưởng tượng của con ch ra, họ cn thm rằng nghĩa của kinh
nghiệm được kch khởi xuất hiện khng phải vo giy pht đ m phải sau
khi n được giải phn qua cc biểu tượng.
V thế, trong cch dng hiện nay, tiến trnh kch khởi hon ton được che
giấu bởi ngn ngữ theo sau n gần như trực tiếp v dường như được trộn lẫn
với chnh suy tưởng. Bằng chứng của pht biểu ny được rt ra chủ yếu từ
những nghin cứu dựa vo nhiều trường hợp bị mất khả năng ngn ngữ khc
nhau, nhất l cc loại chủ thể đ trải qua ci gọi l giải phẩu tch no
bộ, ( Levi-Agresti and Sperry, Proceedings of the National Academy of
Sciences, Washington, U.S.A. 61 (1968): 1151.) trong đ, do một bệnh no
đ m hai bn cầu no cần phải được tch ra ở phần lin hợp chnh của no
bộ (corpus callosum). Ở cc bệnh nhn ny, sau khi phục hồi sau giải phẩu,
người ta tm thấy tnh trạng bị mất khả năng ngn ngữ xuất hiện dưới dạng
no đ, trong đ chủ thể khng thể gọi tn đối tượng nếu chỉ được nhn
thấy bằng mắt tri hay chỉ được chạm đến bằng tay tri, mặc d những người
đ c thể nhận ra n. Tuy nhin, dng cc trường hợp ny lm bằng chứng để
khẳng định rằng, trong con người, cc chức năng nhận thức, ngay cả ci
phức tạp nhất trong số chng, khng lin quan trực tiếp đến ngn ngữ hay
bất kỳ phương tiện diễn tả mang tnh biểu tượng no khc, l một việc lm
khng đng chỗ, nếu khng phải hon ton sai lầm. Bởi v, đối với tnh
trạng bị mất khả năng ngn ngữ, khi được định nghĩa l sự rối loạn chức
năng ngn ngữ, n hm nghĩa khng phải ngn ngữ khng lin quan mật thiết
đến chnh sự rối loạn chức năng ny, khng chỉ theo nghĩa chnh n l ci
sinh khởi tnh trạng rối loạn đ trước tin m cn với nghĩa rằng, khi sự
rối loạn ny xảy ra, th ngn ngữ vẫn khng tự động bị loại bỏ hon ton
khỏi cc chức năng nhận thức của một người bị mất khả năng ngn ngữ. Thật
vậy, nếu ta chấp nhận giả thuyết nội tại của ngn ngữ, một giả thuyết dẫn
đến nhận thức kể từ khi ngn ngữ pht m xuất hiện trong chủng loại con
người, n khng chỉ cho php sự tiến ha của con người v ngy nay khả
tnh của ngn ngữ vốn tự hiển lộ qua qu trnh pht triển của việc hnh
thnh từng bước cc tnh chất di truyền (epigenetic) của no bộ l một
phần nhn tnh được xc định ở trung tm ton bộ cấu trc di truyền của
một sinh vật (genome) theo một ngn ngữ hon ton khc với bộ m di
truyền, th thật kh để thấy rằng lm thế no con người cng lc c thể
đưa ra quan niệm cc chức năng nhận thức trong con người, ngay cả ci
phức tạp nhất trong số chng, khng lin quan trực tiếp đến ngn ngữ hay
bất cứ phương tiện diễn tả mang tnh biểu tượng no khc.
V ở đy chưa đề cập đến giả thuyết gy nhiều tranh ci cho rằng sự hiện
khởi của bộ no con người từ tiền thn sơ khai của n l kết quả của việc
con người sử dụng ngn ngữ lm phương tiện thng tin bằng biểu tượng
nguyn sơ nhất. Chnh do việc sử dụng ny m một chọn lựa mới xảy ra, một
chọn lựa chắc hẳn đ tạo điều kiện cho những pht triển của chnh sự thể
hiện ngn ngữ v, v thế, cho sự pht triển của cơ quan phục vụ sự thể
hiện ny, tức bộ no. Như vậy, theo quan điểm ny, chnh ngn ngữ kch
hoạt sự hiện khởi của no bộ con người trước tin. V thế, nếu ta đồng
rằng no bộ với cc phần phụ thuộc của n thực hiện mọi chức năng thường
được gn ghp cho ci gọi l thức, v rằng n lm thế do p lực của tiến
trnh tiến ha của chnh n, th lm sao ta c thể khẳng định rằng cc
chức năng nhận thức trong con người, ngay cả ci phức tạp trong số chng,
khng lin quan trực tiếp đến ngn ngữ hay bất cứ phương tiện diễn tả mang
tnh biểu tượng no khc? Thật vậy, khi khẳng định như thế, con người đ
liều lĩnh đối nghịch với chnh mnh.
Như vậy, t ra cho tới điểm ny, cc chứng cứ khng những khng phủ nhận
quan niệm về thức của Thế Thn m cn c khuynh hướng tn thnh tnh chnh
xc của n. Dĩ nhin, khng phải chng ti đang tm kiếm cc chứng cứ tn
tiến để bảo vệ triết học hay thức hệ của ng. Bởi v, chng ti đ ni
rằng quan niệm về thức của ng c một nền tảng luận l vững chắc để thiết
lập chnh n m khng phải cần đến bất kỳ một thừa nhận no khc: n chỉ
c thể được chấp nhận hoặc bị bc bỏ hon ton cng với cc tiền đề cũng
như kết quả của n. Những g chng ti lm l chứng minh rằng trong giới
hạn cho php của cc kiến thức chng ta c được ngy nay về điều kiện sinh
vật của con người, chng ta c thể tự mnh thấy được chng ta tiếp cận
được chừng no con đường suy tư v tư tưởng của Thế Thn. Chnh ở đy m
cc ẩn nghĩa, nếu c, của triết học ng đối với chng ta ngy nay phải
được tm thấy. V chnh xc v điều ny m chng ti đ nu ra v bn thảo
vấn đề liệu c phải quan niệm về thức của ng l chnh xc hay khng. V
chng ti đ bằng lng với giải đp của mnh trong tnh trạng kiến thức
chng ta c được ngy nay, những kiến thức đ chỉ ra rằng c cc l do để
một quan niệm như thế l chnh xc. Với đnh gi ny trong đầu, chng ti
sẽ tiếp tục xt đến cc ẩn nghĩa c thể l g.
Ngy nay, một điều cng ngy cng trở nn v cng hiển nhin l con người
cuối cng đ biết rằng hắn chỉ c một mnh trong ci mnh mng lạnh lng
của vũ trụ m trong đ hắn đ tnh cờ xuất hiện v rằng mọi hệ thống gi
trị đều thuộc về một mnh hắn, ngoi ra khng c bổn phận, khng c định
mệnh được khắc ghi ở bất cứ nơi no khc. V thế, hắn hon ton ty chọn
giữa Vương quốc v Bng tối. ( Camus, Le Mythe de Sisyphe, Paris:
Gallimard, 1942: 3; also The Myth of Sisyphus, transl. Justin OBrien, New
York: Vintage Books, 1955, trong đ Camus tm tắt r rng quan điểm của
ng trong lời tựa viết ring cho ấn bản Hu Kỳ đ.) Thế nhưng, cho d một
điều cng ngy cng hiển nhin như thế, vẫn khng tm thấy một nền tảng
đầy ấn tượng no cho việc nhn thấy một quan điểm như thế của/về con
người. Một điều bi đt hơn l nếu n được thừa nhận một cch phổ biến th
sẽ khng c cht l do no để giả định một điều như thế. Bởi v c ai quan
tm đến một ci nhn như thế khi biết rằng chỉ c một mnh mnh trong ci
mnh mng lạnh lng của vũ trụ m trong đ mnh đ tnh cờ xuất hiện v
rằng bn ngoi mnh chẳng c một trch nhiệm no, một định mệnh no được
khắc ghi ở bất cứ nơi đu? Thật ra, nếu điều đ được thừa nhận th, như
Camus đ ni, chỉ c một vấn đề triết học thật sự nghim trọng, đ l tự
tử. V thế, thật kỳ th khi thấy rằng Monod, người đ bắt đầu tc phẩm
của mnh bằng lời dẫn từ ci tưởng kh chịu của Camus trong khi bn đến
ci nhn đ, một quan điểm m tự thn ng cũng thừa nhận nhưng lại khng
đạt được một kết luận giống như kết luận của Camus vừa ni đến ở trn. C
lẽ ng đ tự mn với khẳng định cho d người ta khng tin Cha, tự tử vẫn
khng hợp php của Camus để rồi ng bằng lng để dnh lại việc xt xem
cuộc đời đng hay khng đng sống th cũng giống như trả lời cu hỏi nền
tảng của triết học cho những người khc để trở về với tất cả những g
cn lại xảy đến sau đ, như tm hiểu xem c tồn tại một chủ nghĩa nhn
i khoa học x hội thật thụ hay khng, ( Monod, op. cit. p 194.) vốn c lẽ
l một chủ đề nhiều hứng th v lợi lạc hơn vấn đề kh khan v buồn tẻ về
sự tự tử. D thế no đi nữa, nếu quan điểm trn được thừa nhận th thn
phận con người khng khc mấy so với thn phận của Sisyphus, một người vẫn
đang mi bn ba, tin tưởng về ci nguồn gốc rất người của tất cả những g
thuộc về người, một người m ao ước được nhn thấy v cng lc biết rằng
bng đm l v tận.
Dĩ nhin, một kết quả buồn thảm như thế khng nhất thiết phải l kết quả
của việc chấp nhận ci nhn được m tả ở trn. Một người c thể thức
rằng anh ta chỉ c một mnh trong ci mnh mng lạnh lng của vũ trụ m
trong đ anh ta đ tnh cờ xuất hiện, rằng mọi hệ thống gi trị đều thuộc
về mnh anh m chẳng c bổn phận hay định mệnh no được ghi khắc ở bất cứ
đu, v rằng anh ta hon ton ty chọn giữa Vương quốc v Bng tối, m
khng nhất thiết phải liều lĩnh đối mặt với chỉ một vấn đề triết học thật
sự nghim trọng, đ l tự tử. V điều ny xảy ra nhờ sự nhận ra cng lc
rằng ngay cả thức, ci cho php chng ta thức về một ci nhn như thế,
cũng chỉ l một tiến trnh cấu trc ngn ngữ. Bởi v, khi nhận ra như thế,
anh ta biết rằng ci nhn đ chỉ l một trong số những ci nhn khả hữu
khc m tiến trnh vừa ni c khả năng cấu thnh. Chnh ở đ ẩn tng nguồn
gốc của tự do con người. Sự tự do ny khng nằm trong sự lựa chọn đạo đức
một gi trị uyn nguyn lm nn tri thức, như Monod đ lập luận sau khi
đnh bại nhiều thuyết đạo đức khc nhau của cc lin minh chủ trương vạn
vật hữu linh trước đy.
Bởi v, bất cứ khi no một gi trị uyn nguyn được chọn, th ci theo
sau chỉ l một sự hiển by tất yếu của gi trị đ. Như vậy, tự do lc đ
sẽ trở thnh một loại nhu yếu, v dĩ nhin chẳng phải tự do g cả. Đ l
chưa kể đến nguy cơ một chọn lựa đạo đức như thế c thể được một đảng cầm
quyền đem ra p dụng v lc đ họ sẽ hon ton c thể p đặt n ln người
khc, v như vậy l họ đ thực hiện kha cạnh đặc th của đạo đức học tri
thức; c nghĩa, chnh con người sẽ p đặt đạo đức ln chnh mnh, đồng
thời dứt khot sẽ tm ra cc điều kiện để chứng thực mọi lời ni hay hnh
động của mnh. Thật ra, tự do chỉ tồn tại trong mỗi c thể v c thể c
thể thể hiện n ở mức cao nhất m cc điều kiện của c thể đ cho php. V
thế, ngay cả một t nhn ở trong ngục vẫn c thể c tự do theo nghĩa đ,
bởi v qua sự kiện anh ta bị nhốt t, anh ta vẫn thể hiện tự do của mnh,
c lẽ một cch tiu cực, để đối lại với tự do của những người cố hạn chế
anh ta bằng sự nhốt t. Khi tự do được định nghĩa như vậy, chng ta c thể
hiểu được tại sao một tập thể c thể đnh mất hon ton tự do của n trong
khi mỗi c thể vẫn c thể giữ được nguyn vẹn tự do của mnh, một sự tự do
sẽ được dng đến vo một lc no đ trong tương lai để lm nơi nương tựa
chnh cho sức mạnh phục hồi tự do của tập thể.
Nhưng nếu tự do c thể được quan niệm như vậy, v với m tả trn về quan
điểm hiện đại về sự tiến ha của loi người, th chỉ c một quan niệm c
thể chấp nhận được về thn phận con người, một quan niệm giải thot chng
ta khỏi cc hệ quả buồn thảm từ phn tch của Camus v đồng thời tăng
cường gi trị của quan điểm vừa nu. V quan niệm duy nhất c thể chấp
nhận được về thn phận con người ny khng g khc hơn khi niệm chuyển
biến của thức chỉ l một cấu trc ngn ngữ. Chnh chức năng đặc biệt ny
của thức con người đ gip phn biệt rạch ri với mọi loại chức năng
khc c thể tm thấy trong thế giới loi vật. V c lẽ chnh n đ tạo
điều kiện cho sự pht triển khả năng ngn ngữ của no bộ con người. Trong
cc chừng mực ny, chức năng của một thức thật sự được dng để tiến hnh
bất kỳ cấu trc ngn ngữ no khi cần đến. Nhờ vo khả năng ny, một khả
năng hnh như v tận, trong việc tạo ra bất kỳ cấu trc ngn ngữ cần thiết
v khả tri no m tự do của một c thể được bảo đảm v khẳng định. Tự do
ny l bổn hữu hay kế thừa từ cc phn tử cấu thnh một c thể v [cc
phn tử ny lại] sở hữu c thể ny lm ci gn giữ tnh uyn nguyn của
chng do một sự ngẫu nhin no đ trong qu khứ xa xi, hay chỉ l một cơ
cấu nội tại dưới p lực của tiến trnh chọn lựa của sự tiến ha để bảo đảm
cho sự sống cn t nhất của một kẻ duy tr ni giống may mắn no đ? Dĩ
nhin, đy l cu hỏi khng thể giải đp. Những g chng ta c thể đoan
chắc l trong giới hạn của cấu trc ngn ngữ của mỗi c thể, con người c
tự do tuyệt đối để cấu thnh những diễn đạt v những pht biểu ring của
mnh khi thấy thch hợp, ( Lenneberg, Biological Foundations of Language,
New York: John Wiley & Son, 1967; Chomsky, Cartesian Linguistics,
Cambridge, Mass: MIT Press, 1966: Fondor and Katz, The Structure of
Language: Reading in the Philosophy of Language, Englewood Cliffs:
Prentice-Hall, 1964.) kề từ khi điều kiện sinh l cho php con người lm
như thế, một điều kiện bắt đầu từ lc con người được mười tm thng tuổi.
Với sự tự do đ, thật kh tưởng tượng lm thế no con người ở giai đoạn
tiến ha ny lại c thể từ bỏ n để đnh đổi bất cứ loại đạo đức hạn chế
no, kể cả ci gọi l đạo đức tri thức. Thật ra, ngay cả đối với sự mềm
yếu hiển nhin v cố hữu của cấu trc sinh học của mnh th con người vẫn
tảng lờ, nếu khng phải l phủ nhận hay khước từ, ci sự thật cố hữu v
hiển nhin đ bằng cch nương vo mọi loại huyền thoại, tn gio v triết
học. Một sự y cứ như thế khng nhất thiết hm nghĩa rằng hắn đang kiếm tm
một phương tiện trấn p nỗi lo sợ của chnh hắn, như một số người đ lập
luận mới đy; bởi v ta c thể đồng thời cho thấy điều ngược lại l một sự
nương tựa như thế chỉ đặc biệt nhằm ni ln ci tự do m hắn sở đắc, một
sự tự do đặt nền tảng chnh yếu trn sự vận hnh tự do của thức hắn, tức
sức mạnh cấu thnh v xử l ngn ngữ của hắn. V thế, sức mạnh xm lấn của
một quan niệm khng nhất thiết chỉ bao gồm khả năng giải quyết lo sợ của
con người một cch tiu cực bằng những giải thch của n về thn phận con
người v chia cho con người một chỗ đứng nhất định trong một số phận định
sẵn. Đng hơn, sức mạnh của n phải nằm trong khả năng đp ứng những đi
hỏi về tự do con người, một sự tự do, như đ ni, mong muốn phủ nhận v
khước từ sự mềm yếu của hiện hữu sinh học của n, một sự tự do mong muốn
được tuyệt đối.
Tương tợ, đ c gợi rằng sự pht minh cc huyền thoại v tn gio, sự
sng tạo cc hệ thống triết học hoằng viễn l ci gi con người đ phải
trả để tồn tại như một sinh vật x hội m khng bị biến thnh một ci my
tự động. Tuy nhin, vẫn c thể lập luận ngược lại rằng nếu c thể c sự
pht minh v sng tạo vừa ni th khng phải v chng l ci gi con người
phải trả cho sự tồn tại như một sinh vật x hội của hắn, m đng hơn l v
con người sở đắc một sự tự do v tự do ny cần được thể hiện cho d đến độ
phải loại bỏ nền tảng sinh học của hiện hữu của hắn. Kết quả, nếu giả
thuyết về tự do được chấp nhận, người ta khng cn bị buộc phải nương tựa
vo hơn một yếu tố cơ bản trong việc giải thch cc hiện tượng phổ biến
như cc huyền thoại, cc tn gio, cc triết học, v.v.
C người ni rằng chng ta khng biết chắc c phải tự do con người l một
sở hữu vật bổn hữu v/hay thừa kế của cấu trc con người hay l một cơ cấu
nội tại như l kết quả của tiến trnh tuyển chọn của sự tiến ha. Thế
nhưng, chng ta biết chắc rằng tự do ny c sự hiển lộ ring của n trong
điều kiện con người dưới dạng một cấu trc-xử l ngn ngữ thường được gọi
l thức. Chnh cấu trc-xử l ngn ngữ ny phải được xt đến nếu hiện hữu
con người được bn đến một cch đng đắn. Bởi v n biểu trưng thnh tựu
cao nhất từ trước đến nay m tiến trnh đạt được một cch ngẫu nhin v
tất yếu đ từng vươn tới. V vậy, chng ti cho rằng bất kể tự do con
người l một sở hữu vật sinh học mang tnh kế thừa hay một cơ cấu nội hm,
nếu chng ta định nghĩa chuyển biến của thức l một cấu trc ngn ngữ, như
Thế Thn đ lm, th cấu trc ngn ngữ đ sẽ l sự hiện hnh cụ thể độc
nhất của tự do con người được ni đ. V đ chnh l nơi ẩn tng nghĩa
r rng nhất của triết học Thế Thn đối với nhu cầu cấp bch của chng ta,
nhu cầu phải c một thi độ hợp l trong đời sống khi m chng ta cuối
cng biết được rằng con người chỉ c một mnh trong ci mnh mng lạnh
lng của vũ trụ m trong đ hắn đ tnh cờ xuất hiện v rằng số mệnh ny,
bổn phận của hắn khng được khắc ghi ở bất cứ nơi no khc; hắn hon ton
ty chọn giữa Vương quốc v Bng tối.
dịch Việt: Đạo Sinh
|